LOGO VNBET

 
Hòa thượng  Quảng Đức (1897 – 1963)
Chùa Quan Thế Âm – Tp. Hồ Chí Minh - Vị Pháp thiêu thân

Hòa thượng Quảng Đức, thế danh là Lâm Văn Tuất sinh năm 1897 (Đinh Dậu) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Thân sinh là cụ Lâm Hũu Ứng và bà Nguyễn Thị Nương.
Năm lên 7 tuổi, Ngài được song thân cho xuất gia học Phật với Hòa thượng Thích Hoằng Thâm là cậu ruột và được Hòa thượng nhận làm con đổi tên là Nguyễn Văn Khiết.
Năm 15 tuổi, Ngài thọ giới Sa Di, năm 20 tuổi thọ giới Tỳ-kheo Bồ-tát giới, được pháp danh Thị Thủy, pháp tự Hành Pháp, pháp hiệu Quảng Đức. Sau đó Ngài phát nguyện nhập thất tu ba năm trên một ngọn núi ở Ninh Hòa, và sau này chổ ấy được dựng một ngôi chùa lấy hiệu là Thiên Lộc Tự.
Rời núi, Ngài vân du hóa đạo một mình với chiếc bình bát theo

* Trang 401 *
device

hạnh đầu đà (khất thực). Hai năm mãn nguyện, Ngài lại quay về nhập thất tại Chùa Sắc Tứ Thiên Ân ở Ninh Hòa.
Năm 1932 hội An Nam Phật Học ra đời, Đại lão Hòa thượng Chùa Hải Đức đến nơi Ngài đang nhập thất, mời Ngài nhận chức Chứng minh Đạo sư cho Chi Hội Ninh Hòa. Ba năm sau, Ngài được thỉnh cử giữ chức Kiểm Tăng cho Tỉnh hội Khánh Hòa. Trong thời gian hành đạo tại miền Trung, Ngài đã kiến tạo và trùng tu tất cả 14 ngôi Chùa.
Năm 1943, rời Khánh Hòa vào Nam, Ngài hành đạo khắp các tỉnh Sàigòn, Gia Định, Định Tường xuống đến Hà Tiên. Ngài cũng đã từng sang Nam Vang lưu trú ba năm, vừa giáo hóa các Phật tử kiều bào, vừa nghiên cứu Kinh điển Pàli và Phật giáo Nam Tông.
Lúc mới vào Nam, Ngài đã lưu trú tại Chùa Long Vĩnh Sàigòn một thời gian dài, nên dân chúng quen gọi Ngài là Hòa thượng Long Vĩnh, Ngài còn có hiệu là Giác Tánh.
Suốt thời gian hóa độ chúng sinh, bất cứ nơi nào, Ngài cũng dốc lòng làm tròn sứ mệnh của một sứ giả Như Lai, kế tục các thế hệ Tổ sư truyền giáo, chăm lo tô bồi công đức, hoằng dương chánh pháp.
Năm 1953, Ngài được thỉnh cử vào chức vụ Phó Trị sự và Trưởng ban Nghi lễ Giáo hội Tăng già Nam Việt, đồng thời lãnh nhiệm vụ Trú trì Chùa Phước Hòa ở Bàn cờ, là nơi đặt trụ sở đầu tiên của Hội Phật học Nam Việt.
Năm 1958, khi trụ sở của Hội dời về Chùa Xá Lợi, Ngài nhận thấy tuổi già sức yếu, và với bản nguyện "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm", Ngài xin thôi mọi chức vụ để có đủ thì giờ an tâm tu niệm. Tuy nhiên, vốn có tâm từ bi, Ngài vẫn để cho gót chân vân du hành đạo ghi dấu nhiều nơi, khi thì Chùa Quan Thế Âm ở Gia Định, lúc lại tới Chùa Long Phước, xã Ninh Quang, tỉnh Khánh Hòa, dùng

* Trang 402 *
device

mọi phương tiện thích ứng hướng dẫn hậu sinh mê mờ quay về chánh đạo.
Trong phong trào đấu tranh của Phật giáo năm 1963 đòi tự do tín ngưỡng, bình đẳng Tôn giáo, tuy tuổi đã già, Ngài vẫn tích cực tham gia. Chính sách kỳ thị Tôn giáo và đàn áp Phật tử của Ngô Đình Diệm ngày một nặng nề và khốc liệt. Máu Phật tử đã đổ ở Đài Phát Thanh Huế. Chùa chiền bị phong tỏa, Phật tử bị bắt bớ giam cầm. Để thức tỉnh ông Ngô Đình Diệm và tập đồn gia đình trị của ông đang đắm chìm trong vô minh sớm thỏa mãn 5 nguyện vọng của Phật giáo đồ, đồng thời để cho thế giới nhận thấy cuộc đấu tranh đòi hỏi tự do tín ngưỡng của Phật tử Việt Nam là chính đáng, ngày 20 tháng 4 năm Quý Mão, tức ngày 11-6-1963 Ngài đã thực hiện tâm nguyện, đã thiêu đốt nhục thân để cúng dường và bảo vệ Đạo pháp, sau khi đã gởi thư cho Hồ thượng Hội chủ Thích Tịnh Khiết xin phép.
Từ một cuộc diễn hành của trên 1000 vị Hồ thượng, Thượng tọa, Đại đức, Tăng Ni và Phật tử phát xuất từ Chùa Phật Bửu đến Chùa Xá Lợi, khi đồn diễn hành tiến đến ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt, Ngài từ trên xe hơi bước xuống, tự tẩm xăng ướt mấy lớp Cà sa, ngồi kiết già xuống mặt đường, tự châm lửa giữa 1000 Tăng Ni đang vây quanh chấp tay cầu nguyện. Ngọn lửa bốc cao, phủ kín thân mình, Ngài vẫn an nhiên chấp tay tĩnh tọa.
Gần 15 phút sau, lửa tàn và Ngài ngã xuống, tay vẫn còn bắt ấn tam muội. Nhục thân của Ngài được đưa vào lò điện thiêu 4.000 độ, xương thịt cháy tiêu hết. Duy chỉ có trái tim của Ngài vẫn còn nguyên, được thiêu lần thứ hai vẫn không cháy.
Cái chết phi phàm của Ngài đã làm chấn động dư luận khắp hồn cầu. Báo chí thế giới đăng tin lên trang đầu cùng ảnh tự thiêu của Ngài. Việc Ngài tự thiêu, được đồng bào cả nước biết ngay

* Trang 403 *
device

chiều hôm đó, và đã gây xúc động sâu xa trong mọi tầng lớp, không phân biệt Tôn giáo. Sự hy sinh vì đạo của Ngài đã làm cho Ngô Đình Diệm vô cùng hoảng hốt và lo sợ, tìm mọi cách đối phó với Phật giáo lúc ấy cuồn cuộn như sóng thần để đi đến kết thúc là ngày 01-11-1963 chế độ độc tài, gia đình trị của họ Ngô sụp đổ do Mỹ và quân đội thời bấy giờ đảo chánh và lật đổ, thế là Phật giáo Việt Nam thốt qua một pháp nạn.
Trước khi tự thiêu, Ngài có để lại một bức thư gọi là: Lời nguyện tâm huyết! Nói rõ chủ định và nguyện vọng của Ngài. Điều đáng ghi nhớ là tồn văn bức thư này đã không chứa đựng một mảy may hận thù và tuyệt vọng nào, mà trái lại còn tốt lên tình thương và hy vọng. Ngài viết :
Tôi pháp danh Quảng Đức, trụ trì Chùa Quan Thế Âm, Phú Nhuận, Gia Định. Nhận thấy Phật giáo nước nhà đang lúc nghiêng ngửa, tôi là một tu sĩ mệnh danh là Trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa thị để cho Phật giáo tiêu vong, nên tôi vui lòng phát nguyện thiêu thân giả tạm này cúng dường chư Phật để hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo. Mong ơn mười phương chư Phật, chư Đại đức, Tăng Ni chứng minh cho tôi đạt thành ý nguyện sau đây:
1.   Mong ơn Phật Tổ gia hộ cho Tổng thống Ngô Đình Diệm sáng suốt chấp nhận năm nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo Việt Nam ghi trong bản tuyên ngôn.
2.   Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được trường tồn bất diệt.
3.   Mong nhờ hồng ân đức Phật gia hộ cho chư Đại Đức, Tăng Ni, Phật tử Việt Nam tránh khỏi nạn khủng bố, bắt bớ, giam cầm của kẻ ác gian.

* Trang 404 *
device

4.   Cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc...Trước khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gửi lời cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi đối với Quốc dân và thi hành chánh sách bình đẳng Tôn giáo để trị nước. Tôi thiết tha kêu gọi chư Đại đức, Tăng Ni, Phật tử nên đồn kết nhất trí để bảo tồn Phật pháp?
Nam Mô Đấu Chiến Thắng Phật.
 Tỳ-kheo Thích Quảng Đức Kính bạch.”
   Cái chết của Ngài, sau này được Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tôn lên hàng Bồ-tát, gọi là Bồ-tát Thích Quảng Đức.
 
1.
 
THÍCH QUẢNG ĐỨC
Giáo sư Trần Văn Giàu
Ở đất Lục Tỉnh, vào những thập niên cuối thế kỷ trước, người Pháp nhận thấy phát triển một loại phong trào yêu nước mà họ gọi là “chủ nghĩa dân tộc tôn giáo”.
Quả thật có hiện tượng chính trị ấy: Khi hệ ý thức Nho giáo đã tỏ ra bất lực trong nhiệm vụ tập hợp lực lượng nhân dân nhằm đánh đuổi quân xâm lược Pháp, thì các nhà yêu nước bèn soạn lại xem trong kho vũ khí tư tưởng cổ truyền còn có cái gì đủ sắc bén có thể dùng được để vận động khởi nghĩa. Các cụ tìm thấy vũ khí tinh thần đó ở Phật giáo và phần nào ở Đạo giáo. Cuộc kháng chiến tiếp tục nhưng theo một hướng như mới mà thực ra đã quen thuộc từ bao đời. Cái gốc của “chủ nghĩa dân tộc tôn giáo” là như vậy đó.
Rồi, vào đầu thế kỷ này, những người lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa 1913 – 1916, như “Thầy chùa núi” Nguyễn Hữu Trí, trước lấy

* Trang 405 *
device

núi Tà Lơn, sau lấy núi Sam làm đại bản doanh. Năm 1926, trong số hàng vạn nhân dân Sài Gòn và ngoại ô đổ xuống bến Nhà Rồng đón chánh khách từ Paris về, người ta thấy nhiều cái áo vàng, nhiều cái đầu cạo. Năm 1940, Pháp tìm thấy trong chùa của Hòa thượng Đồng, Rạch Giá, một kho bom.
Truyền thống yêu nước và tham gia đấu tranh giải phóng dân tộc của Phật giáo, không phải riêng trong Nam mới có. Ở Trung, Bắc đều có: ta ghi nhớ khởi nghĩa của Võ Trứ ở Phú Yên, của Vương Quốc Chính ở Hà Đông.
Đến thời kỳ chống Mỹ ngụy gần đây, vẫn tồn tại truyền thống đấu tranh của Phật giáo vì dân, vì nước cứu khổ cho dân, cứu nạn cho nước. Có khác trước là, lần này số Phật tử tham gia phong trào đông đúc, hàng trăm năm nay chưa từng thấy đông đúc như vậy, cũng có khác trước là lần này phong trào đưa lên đỉnh của lượng sóng thần quần chúng thành thị nhiều gương bi trí hùng rực sáng mà sáng nhất và làm vinh dự chẳng những cho Phật giáo mà cho cả dân tộc ta trước mắt chăm chú cảm tình của thế giới yêu tiến bộ, dân chủ và hòa bình, là hành động tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức ở Sài Gòn tháng 6 năm 1963.
*
Lâm Văn Tức – Thích Quảng Đức sau này – chào đời năm 1890 (cùng năm với Nguyễn Tất Thành) tại tỉnh Khánh Hòa. Sau ba năm ngồi tu khổ hạnh trên núi, tựa như Sĩ Đạt Tha dưới gốc bồ đề, ông trở về nhập thế. Năm 1943, ông vào Nam, đi khắp lục tỉnh, lên xứ Biển Hồ, học thêm đạo pháp thắng trong chữ Phạm và hành đạo trong đồng bào của mình. Cuối cùng ông trụ trì ở chùa Quán Thế Âm trước khi tự thiêu để phản đối Ngô Đình Diệm bức bách đạo Phật.

* Trang 406 *
device

Có người sẽ hỏi : hôm nay hội nghị hưởng ứng vận động hòa bình thế giới, hội nghị nói về Phật giáo và hòa bình, sao bài thuyết trình nói tự thiêu, chứa bom, khởi nghĩa, biểu tình? – Thưa rằng có những mối liên quan sâu sắc, gắn bó, nếu thiếu thì hòa bình chỉ còn có hai chữ trống không.
Thật có mối liên quan sâu sắc, gắn bó giữa cuộc đấu tranh cho hòa bình với hành động tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức và các hình thái đấu tranh khác của Phật tử Sài Gòn, Huế giữa những năm 60 như biểu tình, tuyệt thực xung đột với cảnh sát dã chiến, đốt xe Mỹ trên đường phố… Những mối liên quan không thể cắt rời đó sẽ nổi bật lên khi người ta nhắc lại cái bối cảnh lịch sử trong đó Hòa thượng Thích Quảng Đức đi tới quyết định tự thiêu. Đó là tình hình chính trị miền Nam từ giữa 1954 đến giữa 1963. Chín năm đó là chín năm đau thương của phân nửa tổ quốc và dân tộc mới vừa đi xong đoạn đường khói lửa cũng chín năm đánh Pháp xâm lược.
Phải mất chín năm dài mới có Điện Biên Phủ chiến thắng, mới có Hội nghị Genève thành công, mới có hòa bình lập lại. Cái giá của hòa bình như thế là đắt biết mấy! Giá máu sông xương núi. Ấy vậy mà chính quyền Diệm – được Mỹ khuyến khích đã lạnh lùng phá ngay Hiệp định Genève, phá ngay hòa bình.
Diệm lập tức khai chiến với tất cả những ai đối lập với Diệm, tất cả những ai tán thành Hiệp nghị Genève, tất cả những ai đòi thực hiện các điều khoản về hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước bằng phương pháp hòa bình.
1) Diệm lập tức khai chiến với các chánh Đảng và giáo phái dùng lực lượng quân sự của thực dân cũ để lại, lực lượng quân sự của thực dân mới trang bị và huấn luyện, để tiêu diệt Quốc Dân

* Trang 407 *
device

Đảng và Đại Việt ở Quảng Trị, Quảng Nam, Phú Yên, tiêu diệt Bình Xuyên, Hòa Hảo, Cao Đài ở Sài Gòn, Hậu Giang, Tây Ninh.
2) Diệm lập tức khai chiến với nhân dân miền Nam. Nhân dân miền Nam đã kháng chiến theo lệnh của Cụ Hồ, nhưng cũng đã tuân thủ các điều khoản của Hiệp định Genève. Sau 300 ngày tuyển quân tập kết, trong miền Nam không còn có chính quyền cách mạng, không còn có lực lượng vũ trang. Chỉ bọn Diệm có vũ trang. Đáng lẽ phải tuân thủ Hiệp nghị Genève, không phân biệt đối xử, đáng lẽ phải thực hiện hiệp thương để tổng tuyển cử thống nhất bằng phương pháp hòa bình thì chúng tuyên chiến với người kháng chiến cũ ngay từ ngày đầu. Nhân dân miền Nam không có lấy một ngày thực sự hòa bình. Diệm thực hiện chiến tranh một phía nghĩa là chỉ có bên chúng nó bắn giết, hành quân bắt bớ mà thôi, trong lúc bên kia chỉ có tay không và chủ trương chỉ đấu tranh chính trị. Còn ai quên các vụ tàn sát dữ dội ở Chợ Được, đập Vĩnh Trinh, Mõ Cày, Trà Ôn? Còn ai quên các chiến dịch tố Cộng, diệt Cộng liên miên và đều khắp? Còn ai không nhớ rằng Diệm đi tới mức đặt Cộng sản ra ngồi vòng pháp luật, để cho báo “Cách mạng Quốc gia” ngày ngày tuyên bố rằng hãy xem Cộng sản không phải là người, phải giết cho sạch? Còn ai không nhớ rằng Luật 10/59 Diệm kéo máy chém đi khắp các tỉnh, chém hằng trăm cái đầu để thị uy? Từ 1954 đến 1959, Diệm bắt giam trên 28 vạn người, giết hơn 10 vạn, thủ tiêu không biết bao nhiêu mà kể; chiến tranh một phía của Diệm thực tế là một chiến tranh lớn còn đẫm máu mấy lần hơn cuộc chiến tranh xâm lược chín năm của Pháp. Muốn bảo vệ hòa bình, muốn sống, không thể không đánh lại Diệm; Diệm gieo gió, nó phải gặp bão! Tháng Giêng năm 1960, nông dân Nam bộ đồng khởi! Vùng giải phóng lại hình thành; quân giải phóng được tổ chức; Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam Việt Nam ra đời. Mỹ thấy Diệm lâm

* Trang 408 *
device

nguy nên chuyển từ chiến tranh một phía sang chiến tranh đặc biệt mà nội dung chính là càn quét quân sự và cảnh sát để gom dân lập ấp chiến lược – những trại tập trung kể số hàng ngàn lởm chởm hào chông, rào kẽm gai. Nhưng 400.000 quân của Diệm, 25.000 Cố vấn Mỹ không bảo vệ nổi hệ thống ấp chiến lược của Diệm - Nhu. Chiến tranh nhân dân áp sát vào các đường giao thông huyết mạch và các thành thị hang ổ của Mỹ - Diệm. Diệm suy yếu, tình hình này thuận lợi cho sự vùng dậy của Phật giáo năm 1963.
Vào năm 1963, Diệm như dại như điên, thực sự là logic với bản thân hắn, Diệm khai chiến luôn với Phật giáo. Từ mấy năm rồi, từ 1954 những năm cầm quyền của y, Diệm với ý đồ biến đạo của anh em hắn làm quốc đạo Việt Nam, hắn rập tâm thi hành chính sách phân biệt đối xử với các tôn giáo, chỉ xem đạo của mình mới thật là đạo và được hắn ban cho các đặc quyền, còn các tôn giáo khác thì chỉ được xem như phường hội, cả đạo Phật có hàng chục triệu tín đồ, có lịch sử tại chỗ 2.000 năm cũng bị khinh miệt, đàn áp. Diệm thi hành Đạo dụ 10 làm cho Phật tử hết sức bất bình. Đấu tranh xuất phát từ đó, đến 1963 thì lên đến đỉnh cao nhất, và lên đến đỉnh cao nhất vì Diệm đàn áp Phật giáo với những phương tiện quân sự và phương pháp tàn bạo mà ngay cả bọn Pháp thực dân hồi cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 cũng chưa hề dám dùng.
Một đặc điểm của tình hình miền Nam Việt Nam năm 1963 là ở nhiều thành thị, chủ yếu là ở Sài Gòn, Huế nổi lên phong trào đấu tranh chính trị của Phật giáo chống chính quyền Diệm. Trước 1963 chưa có phong trào ở mức đáng kể tuy sự đàn áp của Diệm đã ngày thêm mạnh, sự phân biệt đối xử ngày thêm gay gắt, sự tự do tín ngưỡng ngày càng mất. Phật giáo không có lực lượng vũ trang riêng như Cao Đài, Hòa Hảo, nhưng Phật giáo Việt Nam vốn có lực lượng tinh thần khá lớn bởi vì đã vào lòng người và đã góp phần

* Trang 409 *
device

vào lịch sử vẻ vang của dân tộc. Đạo Phật vốn không hiềm thù với ai về tín ngưỡng mà luôn luôn chủ trương chung sống hòa bình. Phật giáo miền Nam tự tạo ra cho mình một Tổng hội Phật giáo. Đến năm 1963, đạo Phật tồn miền Nam có 4.766 chùa; Thừa Thiên Huế nhiều nhất, 408 chùa; Sài Gòn 180. Có lẽ do Diệm bắt buộc dân phải khai báo là thuộc đạo nào mà dân thì ngại chữ “không đạo” cho nên nhiều người ghi là Phật tử, số Phật tử chánh thức như vậy càng đông. Thực ra thì trong thời cuộc rối ren đau khổ nhiều thì hàng ngũ đạo Phật phát triển cũng là phải thôi. Mặc dầu đạo Phật không chủ trương tranh quyền, không chủ trương hoạt động chính trị, nhưng Diệm cũng không để yên đạo Phật, y đàn áp. Tại cuộc đại hội thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Trung Nam bộ (1961) Hòa thượng Thích Thiện Hòa tố cáo Diệm đã bắt giam, tra tấn, giết chết hàng loạt nhà sư như Hòa thượng Pháp Long chùa Khánh Quới (Mỹ Tho), Hòa thượng Minh Nguyệt chùa Thiên Thai (Bà Rịa), Hòa thượng Thành Đạo chùa Phật Ấn (Sài Gòn), Yết ma Thiện Nghĩa chùa Dực Lâm (Chợ Lớn), Giáo thụ Minh Giám chùa Long Vân (Gia Định) v.v… Chúng cắt cổ Sư cả chùa Cát Ong (Cà Mau). Hàng trăm sư sải bị Diệm lột áo cà sa, đưa vào lính, Hòa thương Hội chủ Tổng hội Phật giáo, ngày 10 tháng 5 năm 1963 tuyên bố rằng : “Từ nhiều năm nay Phật giáo đã bị khủng bố đàn áp khắp nơi, chúng tôi vẫn nhẫn nhục”. Thật ra cũng đã có đấu tranh nhưng lẻ tẻ; đấu tranh mạnh nhất là các nhà sư, các Phật tử thuộc Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Phong trào Phật giáo thành thị bộc phát từ cuộc biểu tình lưu huyết những ngày 7, 8 tháng 5 năm 1963 ở cố đô Huế.
Ở cố đô Huế, cuối hôm 5/5 Ngô Đình Thục làm lễ hết sức long trọng mừng được thăng chức, cờ xí như rừng, đèn đuốc như trăng sao. Trái lại thì Diệm và cậu Cẩn cấm buổi lễ Phật Đản ngày 8/4

* Trang 410 *
device

Âm lịch, lấy cớ rằng trùng với ngày lễ Quốc tế Lao động 1/5, bảo phải dời lại ngày rằm tháng 4, rồi lại cản nữa lấy cớ rằng ngày ấy gần ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ. Khi được làm lễ Phật Đản thì nhà cầm quyền bắt phải làm đơn giản và không được treo cờ Phật giáo quốc tế. Uất khí dồn ép quá tất phải nổ ra, nhưng nổ ra một cách hòa bình thôi. Ấy vậy mà Phật tử Huế tập hợp ở Đài Phát thanh bị Cẩn và Đặng Sĩ đưa quân lính, xe thiết giáp, súng liên thanh đến đàn áp dữ dội, làm 12 người chết (trong đó có mấy nam sinh, nữ sinh bị xe cán dẹp!), 17 người bị thương!
Ngày 10, hội Phật giáo Huế lên án những kẻ lợi dụng quyền hành gây ra không biết bao nhiêu tang tóc cho Tăng Ni và tín đồ Phật giáo khắp trong nước, đối xử bất công với một tôn giáo có hàng ngàn năm lịch sử. Hội đưa ra một bản yêu sách 5 điểm. Ngô Đình Diệm đã không nhận bản yêu sách 5 điểm, đòi chấm dứt khủng bố, tự do tín ngưỡng, chống phân biệt đối xử.
Rồi ở Sài Gòn, Diệm đã cản ngăn các cuộc lễ truy điệu Phật tử bị giết chết ở Huế, ra lệnh cho Tướng Tôn Thất Đính đem quân lục sốt các chùa lớn, đánh đập hàng trăm sư sải, bắt giam hàng ngàn Tăng Ni và thanh niên sinh viên Phật tử.
Rõ ràng quá: Diệm khai chiến với Phật giáo và Phật tử Huế, Sài Gòn, cả miền Nam.
Nay Hòa thượng Thích Quảng Đức phát nguyện tự thiêu để đòi Diệm phải thực hiện yêu sách 5 điểm để chống Diệm là kẻ khai chiến với tất cả những ai không chịu quỳ gối trước hắn, thì đó, nếu không phải là hành động chống chiến tranh phản động, chống chiến tranh xâm lược Mỹ, thì là gì? Đó, nếu không phải là hành động bảo vệ hòa bình, vì hòa bình mà hy sinh thì là gì? Tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức là một hành động chống chiến

* Trang 411 *
device

tranh, chống kẻ chủ trương chiến tranh phản động, chống chiến tranh xâm lược. Vậy, đã rõ mối liên quan khắng khít giữa biểu tình của thanh niên, tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức và đồng khởi của nông dân với đấu tranh cho hòa bình, cho công lý. Tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức nhằm một mục tiêu cao cả:
Khói thơm cảnh tỉnh ai còn ngốc
Tro trắng bằng san hố bất bình.
Mục tiêu công lý xã hội và cả mục tiêu vì dân tộc giống nòi:
Đã mang đồn thể con nòi giống
Bi trí hùng sao chẳng đem ra?
Nếu quả thơ là nỗi lòng thì Hòa thượng Thích Quảng Đức chẳng  những đấu tranh cho công lý hòa bình, mà cũng thiết tha hết sức đến giống nòi Việt Nam; nhà sư là một người yêu nước, Ngài yêu nước theo phong cách của một nhà sư.
                                                   *
Có người bảo : “Tự thiêu là một hành động tiêu cực, cá nhân, không hẳn là một cuộc đấu tranh”.
Có thể là như vậy. Chớ nếu phải đem bom đặt trong xe của Diệm thì không phải là nhà sư Thích Quảng Đức nữa rồi! Tháng 11 năm 1960, có người lái máy bay ném bom dinh Độc của Diệm; hành động ấy quả là tích cực. Nhưng sau khi quả bom làm sạt một góc tòa nhà, thì ở Sài Gòn không thấy nổi lên một phong trào nào. Sao có thể so với tình hình sau một cuộc tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức? “Tích cực” của phi công nổi loạn cũng có tác động lớn về một mặt khác, nhưng không dẫn ngay đến một cuộc đấu tranh nào. Còn “tiêu cực” của nhà sư, trái lại đã trực tiếp gây nên làn sóng dư luận và đấu tranh rất lớn.

* Trang 412 *
device

Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam liền tổ chức hôm 12 tháng 6, lễ truy điệu long trọng cho Hòa thượng Thích Quảng Đức. Tại thủ đô Hà Nội, trong hai ngày liền, 80.000 đồng bào thủ đô xuống đường ủng hộ phong trào Phật tử miền Nam. Ngày 16 tháng 6, từ 50 đến 70 vạn nhân dân Sài Gòn biểu tình đưa thi hài Hòa thượng Thích Quảng Đức đến nơi hỏa táng. Hôm đó, Diệm huy động 5.000 cảnh sát và nhiều đơn vị Bộ binh dùng hàng rào kẽm gai ở các phố xá chính; hắn buộc Tổng hội Phật giáo phải hỗn cuộc lễ, lấy cớ rằng sợ Việt cộng thừa cơ ném lựu đạn! Diệm tự ý cho xe quân sự báo tin hỗn cuộc lễ. Nhưng đồng bào Sài Gòn bất chấp sự đe dọa của Diệm, đồng bào cứ biểu tình. Hàng vạn, hàng vạn học sinh, sinh viên, nhân dân rầm rộ từ các nẻo kéo tới các chùa Giác Minh, Xá Lợi tiến như nước vỡ bờ đi tới đâu thì đẩy bạt cảnh sát và quân lính của Diệm. Cảnh sát, lính ngụy ném lựu đạn cay, xả súng vào quần chúng, huơ dùi cui. Quần chúng biểu tình bắt lựu đạn ném lại, dùng guốc dép, gạch đá, củi ném trả như mưa. Hai bên xô xát dữ dội trên hàng chục đường phố. Tiếng súng, tiếng lựu đạn, tiếng còi không cản nổi dân Sài Gòn tập hợp, biểu tình mỗi lúc thêm đông. Tan cuộc rồi, đường phố ngổn ngang guốc, đá, nón, củi. Mấy hôm sau, Tổng hội làm lễ hỏa táng cho Hòa thượng Thích Quảng Đức theo ngày ấn định của Diệm, thì chỉ có 1.150 người đi trên xe cảnh sát, còn đồng bào Sài Gòn xem như đã đưa đám Hòa thượng một cách xứng đáng với Ngài bằng một cuộc biểu tình khổng lồ, bằng những trận đánh tay không suốt cả ngày.
Như vậy nhìn vào tác động, động viên của hành động tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức thật khó chấp nhận cái ý kiến nông cạn rằng Hòa thượng tự thiêu chỉ là một hành động cá nhân, tiêu cực.

* Trang 413 *
device

Âm vang còn dài trong nước và trên thế giới.
Nếu tháng 7, phong trào Phật giáo chìm xuống như để lấy sức sau một hành động, thì tháng 8 phong trào lại lên. Nhiều vị tu hành theo gương Hòa thượng Thích Quảng Đức. Phong trào quần chúng sôi nổi có nhân dân lao động tham gia. Quân lính và cảnh sát của Diệm đêm 20 tháng 8, tiến công và đánh phá hầu hết các ngôi chùa, các trường đại học, đánh chết hàng chục sư sải và sinh viên bắt giam hàng trăm, thiết quân lực ở thành thị. Chủ tịch Hồ Chí Minh lên tiếng (28-8-1963) :
“Gần đây, ở miền Nam Việt Nam lại xảy ra thêm một tình trạng cực kỳ nghiêm trọng và đau thương. Bọn Ngô Đình Diệm đốt phá chùa chiền, khủng bố sư sải và đồng bào theo đạo Phật. Chúng đóng cửa các nhà trường, bắt bớ hàng loạt giáo sư và sinh viên học sinh. Tội ác dã man của chúng, trời đất không thể dung. Hành động hung tàn của chúng, nhân dân ta đều căm giận. Cả thế giới đều lên tiếng phản đối. Nhân dân Mỹ cũng tỏ lòng bất bình.
Bè lũ Ngô Đình Diệm đã gây những tội ác tày trời là vì có quan thầy Mỹ ủng hộ chúng. Đế quốc Mỹ là kẻ phá hoại Hiệp nghị Genève, là kẻ đã vũ trang xâm lược miền Nam, là kẻ đã nuôi dưỡng bọn Ngô Đình Diệm, quân bán nước.
Chính do tội ác của Mỹ – Diệm mà đồng bào miền Nam ta suốt chín năm nay bị cảnh nước sôi lửa bỏng mà tổ quốc ta bị tạm thời chia cắt.
Trước tình hình ấy, đồng bào miền Nam ta đồn kết nhất trí không phân biệt sĩ, nông, công, thương, không phân biệt chánh kiến, tôn giáo, kiên quyết đấu tranh để giành tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng.

* Trang 414 *
device

Dưới ngọn cờ của MTDTGP cuộc đấu tranh chánh nghĩa của đồng bào miền Nam được ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhất định giành thắng lợi cuối cùng…
Thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi chân thành cám ơn nhân dân và chánh phủ các nước Phật giáo, các nước Xã hội Chủ nghĩa anh em, cảm ơn nhân dân yêu chuộng hòa bình và chính nghĩa trên thế giới, cảm ơn nhân dân và nhân sĩ tiến bộ Mỹ đã nghiêm khắc lên án Mỹ – Diệm và nhiệt tình ủng hộ nhân dân miền Nam Việt Nam…
Thay mặt tồn thể đồng bào miền Bắc, tôi thân ái chúc đồng bào miền Nam đồn kết đấu tranh thắng lợi.”
Hành động của Hòa thượng Thích Quảng Đức, đấu tranh của đồng bào Phật tử ở miền Nam, đều thuộc vào phong trào hòa bình thế giới và được sự ủng hộ, sự kính phục của nhân dân yêu chuộng hòa bình các nước, là lẽ rất tự nhiên.
*
Từ ấy những nay, đã non 25 năm rồi, nhân loại và dân tộc ta bận rộn với nhiều vấn đề nóng bỏng tính thời cuộc, vậy mà mỗi lần tôi có dịp đi qua ngã tư Cách Mạng Tháng 8 – Nguyễn Đình Chiểu, tôi vẫn nhớ hình ảnh người đồng bào của tôi ngồi xếp bằng không động nay trong khối lửa hồng, cho đến khi người cháy đen đổ xuống. Bi hùng biết mấy! Lịch sử Phật giáo nước ta có ghi rằng, một ngàn năm, trăm năm trước đây, trước sức ép của tư tưởng duy lý trở nên thịnh, vị Đại sư Đàm Hồng, Trụ trì ngôi chùa Tiên Sơn, Bắc Ninh đã phát nguyện tự thiêu để chứng minh rằng người chân tu thì thành Phật, chứng minh sự tồn tại của Tây phương Tịnh độ. Còn Đại sư Thích Quảng Đức của chúng ta thì tự thiêu vì một tấm

* Trang 415 *
device

lòng thương yêu đồng bào, vì công lý chống bạo ngược phát xít, mong san phẳng những nỗi bất bình, nghĩa là vì con người, vì cuộc sống trên mặt đất nước nhà, cũng nghĩa là sát với chánh pháp Phật giáo là cứu khổ cứu nạn “giúp sanh linh” là lời nguyện của Hòa thượng, ngay cả khi thân xác chảy ra tro trắng rồi đi nữa, vẫn còn lời nguyền “thần thức nương về giúp sinh linh”. Ai trong chúng ta hôm nay không biết rằng cuộc sụp đổ của chính quyền độc tài gia đình trị họ Ngô ngày 1 tháng 11 năm 1963 bên cạnh nguyên do cơ bản là phong trào giải phóng của quần chúng đồng khởi liên tục từ đầu năm 1960 có yếu tố Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu đã góp phần động viên Phật tử và nhân dân đến cao độ, còn hành động đảo chính của các tướng lãnh chỉ là những nước cờ của Cabôt Lodge nhằm thay ngựa giữa dòng.
Phật giáo bản chất là hòa bình.
Phật giáo đã bắt rễ, thịnh đạt từ 2.000 năm nay trên đất Việt Nam, tất không thể không mang đặc tính lớn của dân tộc Việt Nam là chiến đấu kiên trì, chiến đấu quyết liệt cho độc lập tự do. Vì vậy Phật giáo Việt Nam đã mang bản chất hòa bình, lại đồng thời mang tính chất chiến đấu cho chính nghĩa phát sinh trong cả một quá trình lịch sử lâu dài. Hòa thượng Thích Quảng Đức là sản phẩm cao quý của Phật giáo Việt Nam. Các bạn cho phép tôi nhận xét rằng Hòa thượng là một chiến sĩ của hòa bình, rằng giữa Cộng sản và Phật giáo có nhiều điểm tương đồng, trước hết là đức lớn, hy sinh vì lợi ích của nước của dân, một bên là vô ngã vị tha, một bên là mỗi người vì mọi người, hai bên gắn bó góp phần xây dựng một thế giới không chiến tranh xâm lược, một xã hội không giai cấp bóc lột giai cấp, không dân tộc áp bức dân tộc, ở đó là nơi sở nguyện của Hòa thượng Thích Quảng Đức.

* Trang 416 *
device

2.
 
Lời Tưởng niệm Bồ tát Thích Quảng Đức

(nhân kỷ niệm lần thứ 48 Bồ tát vị Pháp thiêu thân
của Trung ương Giáo hội – Thành hội Phật giáo Tp.Hồ Chí Minh)

 
Trong không khí trang nghiêm, hòa hợp và đạo vị của ngày Lễ Kỷ niệm lần thứ 48 Bồ tát Thích Quảng Đức vị Pháp thiêu thân, Hiệp kỵ chư Thánh tử đạo đã hy sinh vì Đạo pháp, cho phép Chúng tôi thay mặt Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh và Tăng Ni, Phật tử Phật giáo Việt Nam có đôi dòng tưởng niệm.
Kính bạch Đức Bồ tát,

Lửa ngất tòa sen mãi đượm hồng
Pháp thân lồng lộng tựa hư không
Danh thơm còn mãi trang thanh sử
Quả tim bất diệt, đóa sen hồng.

Thật vậy, cách đây 48 năm, cũng vào thời điểm này, giữa Thành phố Sài gòn, Thủ đô của chế độ Ngô Đình Diệm, Phật giáo miền Nam đã dấy lên những phong trào đòi độc lập tự do dân chủ. Nhất là phong trào đòi tự do tín ngưỡng, bình đẳng giữa các tôn giáo của Phật giáo đồ Việt Nam. Trong khí thế bừng bừng quyết tử để Đạo pháp được trường tồn, thì xuất hiện một nhục thân Bồ tát, đó là Bồ tát Thích Quảng Đức, với tinh thần vô ngã vị tha, trọn một đời lập chí siêu phàm, suốt một kiếp hiện thân Đại sĩ. Như Bồ tát đã từng huấn thị :

“Đạo pháp mất còn mới là điều hệ trọng
Xác thân này như cát bụi phù du”

Bằng tinh thần đại hùng, đại lực, đại từ bi của đạo Phật, Bồ tát Thích Quảng Đức đã nêu cao gương hy sinh cao cả và tinh thần yêu

* Trang 417 *
device

nước trong sáng vì đồng bào, đồng đạo, nhất là sự tồn vong của đạo pháp và tự do tín ngưỡng, bình đẳng giữa các tôn giáo, Bồ tát đã mượn ngọn lửa thiêng để tự thiêu thân bảo tồn Phật pháp vào sáng ngày 20 tháng 4 nhuần năm Quý mão giữa đại lộ Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt, nay là đường Nguyễn Đình Chiểu – Cách Mạng Tháng 8, quận 3, Tp. Hồ Chí Minh. Chính ngọn lửa thiên hùng tráng, từ bi cao ngất tòa sen, đã nâng hình hài Bồ tát vào thế giới bất diệt, hình ảnh ấy đã im đậm trong ký ức của mỗi người Việt Nam và thế giới, cùng Phật giáo đồ Việt Nam và lịch sử Phật giáo Việt Nam, kể từ đó:
Ngài nằm xuống cho ngàn thu in bóng
Ngọn lửa hồng thiêu rụi bạo tàn.
Bằng tinh thần bất bạo động, trong một tấc sắt trong tay, với tình thương và trí tuệ sáng ngời dũng cảm, bằng đức đại hùng, đại lực, đại từ bi của Bồ tát, ngài đã lấy tình thương xóa bỏ hận thù, lấy tình thương phủ lên sắt thép, lấy tình thương hóa giải bạo tàn. Và trước khi sắp vĩnh viễn cõi đời, viên mãn mãn Bồ tát đạo, Ngài vẫn còn nhắn nhủ :
“Tôi nằm xuống Tăng Ni hãy tiến tới
Quyết hy sinh giữ lấy đạo vàng”
Thắm thốt, 48 năm đã trôi qua, dù không gian có biến dịch, thời gian có đi qua, quá khứ đã lui về dĩ vãng, lịch sử có sang trang, nhưng công đức mà Bồ tát và Chư Thánh tử đạo đã hy sinh cho Đạo pháp trường tồn, chúng sinh an lạc, tự do tín ngưỡng được tôn trọng sẽ còn sống mãi trong lòng người con Phật Việt Nam và lịch sử Phật giáo Việt Nam cùng thế giới. Đặc biệt, con đường được mang tên người – Thích Quảng Đức, chạy ngang qua quận Phú Nhuận, giữa lòng Thành phố mang tên  Bác Hồ kính yêu, là một minh

* Trang 418 *
device

chứng hùng hồn cho lịch sử mà thế hệ trước cũng như những thế hệ sau mãi mãi ghi nhớ và trân trọng.
Với trái tim bất diệt, trái tim biểu thị của sự kết tinh bao nghị lực kiên cường, lòng quả cảm bất khuất trung kiên, bằng tinh thần, ý chí, hồn thiên sông núi của đất nước Việt Nam, của dân tộc Việt Nam, đã hun đúc lên con người Thích Quảng Đức là một kỷ vật vô cùng quý báu mà ngài đã để lại cho Tăng Ni, Phật tử chúng ta, đã trở thành gia bảo chung của Phật giáo việt nam. Quả tim bất diệt ấy là đóa hoa sen tươi thắm bất nhiễm, là viên ngọc vô giá, long lanh như ngọc lưu ly thanh tịnh đã được nung đến độ cao của lửa thế gian hữu hạn, nhưng vẫn sáng ngời sắc thái tự nhiên bất diệt giữa lòng các pháp hữu vi giả tạm. Như Ngộ Ấn Thiền sư đã nói :
“Trên núi ngọc thiêu màu vẫn đượm
Trong lò sen nở sắc thường tươi”
Và còn biết bao vị Tăng Ni, Phật tử, chư Thánh tử vì Đạo, đã noi gương đại hùng lực, đại từ bi của Bồ tát thiêu thân cúng dường Tam bảo, quyết chí hy sinh cho đạo pháp trường tồn, cho nước nhà độc lập, hạnh phúc và phồn vinh. Quả thật :
“Xác ai ngã xuống đất này
Cho hoa đạo pháp ngày ngày thêm tươi”
Hôm nay, chúng ta kỷ niệm lần thứ 48, ngày Bồ tát vị pháp thiêu thân, chư Thánh tử vì đạo đã hy sinh cho Đạo pháp trường tồn, cho chúng ta được sống và hưởng thụ những thành công tốt đẹp của Phật giáo Việt Nam hơn 4 thập niên qua, với sự hình thành và phát triển liên tục, trang nghiêm, huy hồng vững mạnh của Phật giáo Việt Nam, mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày nay là đỉnh cao của lịch sử và thời đại.

* Trang 419 *
device

Để kỷ niệm và tri ân Bồ tát, chư Thánh tử vì đạo, Tăng Ni, Phật tử GHPGVN chúng ta phải nổ lực phát huy chánh pháp làm cho truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng vững mạnh trên đường phát triển, giữ vững nền hòa bình, độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam thân yêu.
Mong rằng ngọn lửa thiêng của Bồ tát Thích Quảng Đức và pháp thân lồng lộng của ngài, gương hy sinh cao cả của chư Thánh tử đạo sẽ soi đường dẫn lối cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Tăng Ni, Phật tử Việt Nam hồn thành sứ mạng lịch sử thiêng liêng trọng đại, phát triển vững mạnh, trang nghiêm, huy hồng trong lòng dân tộc.
Kính mong pháp thân Bồ tát và Hương linh chư Thánh tử đạo thùy từ chứng giám!
 
*

* Trang 420 *
device

 
Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 1