LOGO VNBET
Củng cố niềm tin
(Bài giảng khóa tu Một ngày an lạc lần thứ 42,
tại chùa Phổ Quang ngày 12-10-2008)
 
Củng cố niềm tin có nghĩa là niềm tin bị lung lay, nên phải điều chỉnh cho vững chắc. Trên bước đường tu, Đức Phật dạy rằng người không có niềm tin không thể thành tựu bất cứ công đức nào. Vì vậy, Đức Phật đã khẳng định rằng niềm tin là mẹ sanh ra tất cả các công đức, hay mẹ sanh ra tất cả thành công của chúng ta. Nhưng nếu niềm tin đặt không đúng chỗ, không đúng đối tượng, sẽ dẫn đến khổ đau cho ta và cho người.
Khi Đức Phật tại thế, có rất nhiều tôn giáo đưa ra những giáo điều khác nhau, chống trái nhau, đã khiến cho quần chúng hoang mang, không biết tin vào đâu, tin Thượng đế hay là tin con người; đó là hai tư tưởng mâu thuẫn lớn nhất thời bấy giờ. Những người tin Thượng đế thì họ cúi đầu khuất phục trước sự toàn quyền định đoạt của Thượng đế áp đặt lên cuộc sống con người. Trái lại, nếu tin vào con người thì họ bác bỏ tất cả sự hiện hữu của thần linh.
Từ nỗi hoang mang như vậy, Đức Phật đã xuất hiện trên cuộc đời với tư cách là một người siêu việt mà

* Trang 231 *
device

không ai có thể sánh bằng, Ngài có cơ thể hoàn hảo với trí thông minh tuyệt vời và khỏe mạnh vô địch. Và Đức Phật đã nhận thấy vô số niềm tin sai lầm của những người đương thời là nguyên nhân chính đưa họ vào con đường sa đọa, khổ đau. Điển hình như Vô Não tin rằng giết được nhiều người thì sẽ thành Thánh, hoặc có những ngoại đạo khuyên người ta phải hành hạ thân xác thật đau đớn như đi trên lửa, hay ngồi trên bàn đinh, để được lên Trời, cũng có người tin rằng phải hưởng thụ tất cả những khoái lạc trong cuộc sống hiện tại, vì không có kiếp sau, v.v...
Với trí thông minh tột đỉnh, chắc chắn Đức Phật không chấp nhận những quan niệm có trước nhưng hoàn toàn sai lầm của các giáo chủ ngoại đạo đương thời. Vì vậy, bằng kinh nghiệm sống thiết thực của Ngài, Đức Phật đã khuyên chúng ta không nên tin những gì dù điều đó do đạo sư nói, hay là do truyền thuyết đã có từ lâu đời. Tin Đạo sư nói như Vô Não tin Thầy dạy ông giết người, hoặc Kamala, hay Uất Đầu Lam Phất là hai vị đạo sư đáng được kính trọng, nhưng khi Phật ứng dụng lời dạy của họ, Ngài nhận thấy còn những điều chưa hợp lý. Đương nhiên, những gì mà hai vị này dạy cũng giúp ích phần nào cho Ngài, nhưng điều chính yếu là phải tự phát huy được trí tuệ của chính mình, cho nên Ngài đã rời bỏ họ để tiếp tục tìm chân lý. Không tin tuyệt đối đạo sư là như thế. Và không tin truyền thuyết chỉ cho kinh Vệ Đà đã có từ mấy ngàn năm ở Ấn Độ. Kinh này có

* Trang 232 *
device

có thể có một số điểm chấp nhận được ở thời thần quyền, nhưng cũng có nhiều điểm sai trong thời đại chúng ta.
Chúng ta tin điều gì, phải cân nhắc xem có hợp lý hay không và áp dụng điều đó có kết quả hay không; nếu thực hành trong cuộc sống, thấy đúng, thì tin. Như vậy, Phật dạy rõ rằng cần có niềm tin, nhưng phải làm thí nghiệm và thiết nghĩ trong thời đại chúng ta, có thể sử dụng ánh sáng khoa học để soi rọi, giúp chúng ta dễ thấy đúng sự thật hơn.
Trên bước đường tìm đạo, với niềm tin chân chánh, Đức Phật đã góp nhặt và tổng hợp những hiểu biết của người xưa, những kinh nghiệm lịch sử và truyền thống để có hiểu biết hiện tại. Sau đó, bằng suy tư, Thiền quán, Ngài tìm ra chân lý, tức đắc đạo dưới cội Bồ đề. Bồ đề là trí giác, nghĩa là sự hiểu biết về loài người từ khi lịch sử hình thành cho đến thời hiện đại. Tuệ giác vô hình, người ta không thấy được, mà chỉ thấy cây Bồ đề nơi Phật ngồi, nhưng thật ra đó là nơi Đức Phật tập họp trí tuệ của nhân loại và thể nghiệm trong cuộc sống. Vì vậy, chúng ta không nên lầm lẫn rằng Bồ đề chỉ cho cây thật, phải hiểu Bồ đề là tuệ giác của ba đời mười phương Phật cộng với trí tuệ của loài người. Đức Phật đã nhận được và sống được với tinh thần đại giác, Ngài thấy biết hoàn toàn và chính xác sự hiện hữu và sự biến đổi của muôn loài trong cả Pháp giới.
Và khi Đức Phật đi sâu vào Thiền định để phát huy trí tuệ, Ngài đã thâm nhập vào nguồn thác trí tuệ của ba

* Trang 233 *
device

đời chư Phật, tức thành đạo, đạt đến đỉnh cao của tuệ giác, Ngài suy nghĩ ai là người có khả năng hiểu được và sống được với giáo pháp của Ngài. Đức Phật liền nhớ đến năm nhà hiền triết đứng đầu là Kiều Trần Như đang tu khổ hạnh ở Lộc Uyển. Ngài liền từ Bồ đề đạo tràng đi đến Lộc Uyển, giảng dạy cho họ giáo pháp mà Ngài đã chứng đắc. Có thể hiểu rằng Đức Phật chọn năm nhà hiền triết để làm thí nghiệm trong việc giảng dạy loài người vì ở một chừng mực nào đó, những vị này là người có đức hạnh nhất thời bấy giờ và họ đã sẵn sàng từ bỏ cuộc sống vật chất để thể nghiệm chân lý. Trí tuệ hay hiểu biết mà Đức Phật giảng dạy để họ hiểu được và thực tập được gọi là trí phương tiện, còn tuệ giác mà Ngài chứng đắc là trí chân thật. Đức Phật chứng trí chân thật, nhưng giảng dạy cho loài người bằng phương tiện trí để thích hợp với trình độ của người nghe. Vì vậy, Kiều Trần Như sau khi tu học với Đức Phật đã chứng Thánh quả A la hán, nhưng quả vị La hán của ông không giống với quả vị La hán của Phật. Theo kiến giải của Đại thừa, có sự phân chia lợi căn La hán và độn căn La hán. Tuy cùng là Thánh quả, nhưng cuộc đời của Đức Phật và Thánh chúng hoàn toàn khác nhau; vì quả vị của Đức Phật là do Ngài thực chứng, trong khi các La hán phải nương theo giáo pháp Phật mới chứng được. Từ đó, Đức Phật lập giáo khai tông, đưa ra ba phạm trù là quy y Tam bảo để tất cả mọi người dù xuất gia hay tại gia đều phải nương theo đó tu hành.

* Trang 234 *
device

Muốn trở thành Phật tử, phải quy y Tam bảo là quy y Phật, quy y Pháp và quy y Tăng. Pháp tam quy vô cùng quan trọng, là pháp phương tiện ví như chiếc phao nổi trên biển khổ cho mọi người bám vào để vượt qua biển khổ sinh tử. Quy y Phật, Phật là Đức Phật Thích Ca, là đấng toàn giác, hiểu biết của Ngài vượt trên tất cả kiến thức của muôn loài. Khi Đức Phật còn tại thế thì người ta trực tiếp nương theo lời dạy của Ngài. Nhưng Phật Niết bàn, chúng ta quy y Phật còn có nghĩa sâu là nương vào trí tuệ tức giáo pháp của Phật để thực tập tu hành. Ý này được kinh Pháp Hoa diễn tả là từ bỏ quyến thuộc ngu si, thân cận người trí, nhiếp niệm ở núi rừng, cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; nghĩa là từ bỏ nghiệp chướng, phiền não, trần lao, nương theo pháp Phật và sống trong Thiền định mà kinh nói là nhiếp niệm ở núi rừng. Không phải ở núi rừng thật, nhưng sống giữa rừng người mà tâm chúng ta không bị dao động, không bị mọi người, mọi việc bên ngoài chi phối, tập trung được để thấu hiểu lời Phật dạy để thực tập trong cuộc sống, mới khai mở trí tuệ được. Như vậy, Đức Phật tại thế, chúng ta đặt trọn niềm tin nơi Phật; Phật Niết bàn, chúng ta cũng tin những người sống trong pháp Phật và có trí tuệ bậc nhất để chúng ta cầu học với họ.
Thứ hai là quy y Pháp, tức tin vào lời Phật dạy, hay tin pháp tứ Thánh đế mà Đức Phật đã nói trước tiên là chân lý. Tin pháp tứ Thánh đế, chúng ta phải tìm hiểu nghĩa lý của pháp này, không phải tin mù quáng. Đức

* Trang 235 *
device

Phật nói rằng cuộc đời này là biển khổ, thì chúng ta phải thấy có khổ thật hay không. Ngài chỉ cho chúng ta thấy rõ vô minh là nguyên nhân dẫn đến sai lầm và hành động sai lầm khiến ta tạo nghiệp chướng trần lao, nên phải khổ đau. Nhận thấy lời Phật dạy như vậy quá đúng, chúng ta tin hoàn toàn sự thật, tức tin chân lý thuộc phần Khổ đế và Tập đế, thì tiếp theo, Đức Phật dạy chúng ta thực hành 37 phẩm trợ đạo để diệt trừ vô minh, nghiệp chướng, trần lao, gọi là Diệt đế và Đạo đế.
Như vậy, theo giáo lý Nguyên thủy, sử dụng tứ Thánh đế mà chủ yếu là 37 phẩm trợ đạo để dẹp sạch vô minh, phiền não, nghiệp chướng. Tinh thần này được Đức Phật nhắc lại trong kinh Pháp Hoa qua thí dụ rằng những người mù từ thuở nhỏ không thấy ánh sáng, không phân biệt được màu sắc, nhằm chỉ cho hàng ngoại đạo tà giáo đương thời luôn sống với mê tín dị đoan. Vị đạo sư xót thương họ, mới lên núi tìm bốn loại cỏ thuốc là tứ Thánh đế để chế ra loại thuốc là 37 phẩm trợ đạo, chữa khỏi bệnh mù cho họ, giúp họ sáng mắt.
Trên bước đường tu, Phật giáo Đại thừa cũng dạy chúng ta ứng dụng 37 phẩm trợ đạo, từ tứ niệm xứ quán cho đến thất Bồ đề phần và bát Chánh đạo, chúng ta sẽ được sáng mắt, vô minh tan mất và thấy được chân lý; như thế cũng là nhờ Đạo đế mà chứng được Diệt đế, không còn phiền não trần lao, ra khỏi sinh tử.
Vì vậy, chúng ta quy y pháp là suy nghĩ về lời Phật dạy, nhận thấy đúng và áp dụng trong cuộc sống cũng

* Trang 236 *
device

gặt hái được kết quả tốt đẹp; từ đó, chúng ta mới tin pháp Phật, chứ không phải nghe nói là tin liền.
Thứ ba là tin Tăng, nghĩa là tin vào trí tuệ tập thể. Khi Phật tại thế, Ngài có trí tuệ siêu tuyệt, vượt trên hiểu biết của tất cả mọi người. Vì thế, những gì Phật nói đều là chân lý, không sai lầm, cho nên chúng ta tin lời Phật một cách tuyệt đối. Niềm tin tuyệt đối vào Đức Phật được thể hiện qua lời khẳng định của Ngài A Nan với Đức Phật rằng dù cho mặt trăng nóng lên, mặt trời lạnh lại, nhưng lời nói của Như Lai không bao giờ sai.
Tuy nhiên, Đức Phật e ngại sau khi Ngài nhập diệt, người ta sẽ sử dụng giáo pháp một cách cứng ngắc, không thích hợp với thời đại, không thích hợp với quốc độ, hoặc không thích hợp trình độ của nhiều người; như vậy sẽ dẫn đến hành động sai lầm. Cho nên, Đức Phật mới quyền ký rằng tuy là lời Phật nói, nhưng qua thời kỳ khác, quốc độ khác, nếu không thích hợp, thì đại chúng cần phải tập họp để có quyết định chung nhứt của toàn thể chư Tăng, nghĩa là căn cứ vào trí tuệ tập thể để có quyết định đúng đắn, vì một người không đủ sáng suốt bằng nhiều người cùng kiến giải, cho nên nhiều người quyết định đúng hơn. Vì vậy, trong Phật giáo luôn lấy trí tuệ tập thể để giải quyết mọi vấn đề, không phải là cá nhân quyết định.
Xây dựng trên tinh thần Phật dạy như vậy, tất cả mọi việc của Giáo hội chúng ta đều tuân thủ theo Nghị quyết của Đại hội Phật giáo 5 năm tổ chức một lần và mỗi năm có Đại hội thường niên để có thể điều chỉnh,

* Trang 237 *
device

thay đổi những gì không thích hợp với hoàn cảnh.
Sau năm 1975, sau khi đất nước thống nhất, trở thành nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa; cho nên sinh hoạt của Phật giáo chúng ta cũng phải đổi khác. Vì vậy, tập thể chư Tăng tại đất nước chúng ta đã đồng lòng quyết định rằng để có thể tồn tại, Phật giáo Việt Nam cần được thống nhất. Từ đó mới tổ chức Đại hội Phật giáo toàn quốc năm 1981 và Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu sinh hoạt cho thích hợp với xã hội thời bấy giờ. Nhưng 5 năm sau, nước Việt Nam chủ trương Đổi mới, thì kinh tế cũng đổi mới, chính sách tôn giáo cũng đổi mới, v.v... ; cho nên Hiến chương của Giáo hội chúng ta cũng theo đó thay đổi. Và đến Đại hội Phật giáo lần thứ 4, thứ 5, chúng ta đều luôn có những chỉnh sửa để thích hợp với hoàn cảnh xã hội; nhưng tất cả mọi đổi thay này đều do tập thể quyết định.
Quy y Tăng là quy y với trí tuệ tập thể, lấy tập thể làm Thầy hướng dẫn chúng ta, để cuộc sống thích hợp với từng lúc, từng nơi khác nhau, chúng ta mới có được sự an lạc, hạnh phúc cho bản thân và cho gia đình. Riêng tôi, niềm tin đối với Tam Bảo càng ngày càng mạnh mẽ hơn, không phải chao đảo, hôm nay tin điều này, ngày mai lại tin cái khác. Mỗi lúc niềm tin của tôi hướng về Tam Bảo vững chắc hơn, vì áp dụng lời Phật dạy trên bước đường tu hành, nhận thấy có kết quả tốt đẹp hơn và nghiệp chướng tan biến dần, cho tôi cái nhìn chính xác hơn, tâm hồn an lạc hơn.

* Trang 238 *
device

Và từ đó, nếu chúng ta mở rộng tầm nhìn, sẽ nhận thấy rõ từ Ấn Độ, Phật giáo phát triển lên phía Bắc và phía Nam, tạo thành Nam truyền và Bắc truyền Phật giáo với những sinh hoạt khác nhau nhưng đều thích hợp với nền văn hóa bản địa để tồn tại. Như vậy, chúng ta phải biết đó là phương tiện, là trí tuệ tập thể của từng nơi khác nhau; không nên bài bác, chê trách lẫn nhau. Vì Phật giáo truyền xuống phía Nam, tức Nam truyền Phật giáo phải tiếp thu nền văn hóa khác với Phật giáo hoằng truyền về phía Bắc, nơi đó đã có nền văn minh của Trung Đông truyền sang, tức văn minh cổ Hy Lạp được kết hợp với văn minh Ấn Độ để sản sanh ra tư tưởng Đại thừa, mới thích hợp với trào lưu tư tưởng đương thời của vùng này. Nhưng khi Phật giáo đến Trung Quốc, thì hội nhập với triết lý Khổng Mạnh Lão Trang là những tư tưởng chỉ đạo của đất nước đó; cho nên Phật giáo Trung Hoa hoàn toàn khác với Phật giáo Thái Lan, Tích Lan. Nhận thức rõ tinh thần tùy duyên của chư vị Tổ sư trên bước đường hoằng truyền chánh pháp, các Ngài đã ứng dụng tinh ba giáo pháp một cách hết sức linh động để có thể sinh hoạt hài hòa với cuộc sống của từng đất nước, thì mọi sự phê phán lẫn nhau theo nghiệp thức đều sai lầm mà hàng đệ tử Phật không nên phạm phải.
Có thể hiểu rõ rằng trí tuệ Bồ đề của Như Lai là một, nhưng để sinh hoạt Phật giáo được tồn tại và phát triển thích hợp với từng nơi khác nhau, các nhà sư theo Nam truyền Phật giáo đã khéo léo vận dụng giáo lý của

* Trang 239 *
device

Phật giáo phù hợp với nền văn hóa của Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Campuchia, v.v... Cũng như chư Tăng theo Bắc truyền Phật giáo đã kết hợp nhuần nhuyễn Phật pháp với nền văn hóa đương thời của Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam... hình thành những tư tưởng Phật giáo phóng khoáng, siêu tuyệt, sống mãi với thời gian.
Tóm lại, niềm tin là mẹ sanh ra tất cả công đức, nhưng phải là niềm tin chân chánh. Phải tin đúng việc, đúng chỗ, đúng người, không phải bạ đâu tin đó, nghe gì cũng tin, sẽ hành động sai lầm dẫn đến phiền não khổ đau trong cuộc sống. Khi có được nhận thức đúng đắn như đã giải thích ở phần trên, chúng ta vững niềm tin nơi Tam Bảo hơn, vững niềm tin ở đạo Phật hơn; vì đạo Phật siêu việt, vượt lên trên tất cả sinh hoạt Phật giáo được khu biệt trong từng quốc gia ở châu Á hay châu Âu. Phật giáo đã tổng hợp một cách sâu sắc các nền văn minh Á - Âu và hình thành nên cây Bồ đề ở thế kỷ XXI.
Thiết nghĩ cây Bồ đề của chúng ta ngày nay không khác cây Bồ đề thời Đức Phật, cả hai cây Bồ đề vẫn là một. Thật vậy, ở thời đại chúng ta, cần phải ứng dụng những pháp phương tiện khác, để thích hợp với cuộc sống trong thời văn minh đương đại; nhưng khi chứng đắc Vô thượng Bồ đề, chúng ta và tất cả đệ tử Phật đều thâm nhập dòng thác trí tuệ của ba đời mười phương chư Phật, dòng thác trí tuệ đó muôn đời là một, không khác và mãi mãi là ánh đuốc soi đường cho nhân loại ra khỏi biển khổ sinh tử.

* Trang 240 *
device

 
Khai Thị-2008