LOGO VNBET
PHẦN HAI
(16a) VỊ TỔ SƯ THỨ HAI CỦA PHÁI TRÚC LÂM
(ĐƯỢC ĐẶC PHONG PHỔ TUỆ MINH GIÁC
TỊNH TRÍ ĐẠI TÔN GIẢ)

 
(Bản niên phổ này căn cứ vào Đoạn Sách Lục, do thị giả Trung Minh sao chép lại, và đệ tử chân truyền là Huyền Quang khảo đính).
Sư sinh giờ Mão, ngày 17 tháng 5, năm Giáp thân, niên hiệu Thiệu Bảo thứ 6 (1284), tại thôn Đồng Hòa, hương Cửu La, bên sông Nam Sách. Trước đó, vào tháng 8 năm Quý mùi, (1283), mẹ Sư là Vũ Thị, đêm nằm mộng thấy dị nhân trao cho kiếm thần, bà vui mừng ôm vào lòng, đến khi thức giấc, bà biết có thai. Khi Sư ra đời có mùi hương lạ bay khắp nhà, hồi lâu (16b) mới hết. Cha Sư họ Đồng, pháp danh Thuần Mậu, vốn con nhà tịnh hạnh. Mẹ Sư họ Vũ, hiệu Từ Cứu. Tục danh của Sư là Kiên Cương. Lúc còn bé Sư đã có thiên tư đỉnh ngộ, không nói lời ác, không ăn chất cay nồng và thịt cá. Trước đó, mẹ Sư đã sanh liên tiếp tám

* Trang 37 *
device

người con gái. Vì sanh quá nhiều con gái, bà đâm ra chán ngán, nên khi có thai Sư, bà âm thầm tìm thuốc công hiệu uống để phá thai, nhưng uống đến bốn lần, thai vẫn còn nguyên. Do đó khi sanh ra Sư, bà vô cùng mừng rỡ đặt tên là Kiên cương.
Năm Giáp Thìn, niên hiệu Hưng Long thứ 12 (1304), Sư 21 tuổi. Chính năm này, Nhân Tông Điều Ngự đi khắp các miền, trừ bỏ dâm từ, bố thí pháp dược để chữa trị những (17a) người nghèo và bệnh, cùng với mục đích cấp thiết là tìm người nối dòng pháp. Khi xa giá Điều Ngự đến sông Nam Sách, thì Sư đang đi chơi xa, bỗng cảm thấy tâm thần phiền muộn nên quay về,, vừa lúc ấy gặp Điều Ngự đến thôn mình, Sư bèn đảnh lễ xin xuất gia. Điều Ngự vừa trông thấy Sư, lấy làm lạ bảo: “ Đứa bé này có đạo nhãn, sau này hẳn là bậc pháp khí”. Lại thấy Sư tự đến (xin xuất gia), nên vui mừng đặt tên là Thiện Lai. Lúc trở về liêu Kỳ Lân núi Linh Sơn, Điều Ngự thế phát, trao man y cho Sư, rồi bảo đến Quỳnh Quán học với Hòa Thượng Tính Giác. Sư thưa hỏi trăm điều mà Tính Giác rốt cuộc vẫn chưa thể khai thị cho Sư, nên Sư tìm đọc kinh Hải Nhãn (kinh Lăng Nghiêm), đến đoạn “Bảy lần gạn hỏi tâm cuối cùng đến ví dụ khách trần”, Sư suy nghĩ giây lâu, bỗng được (17b) thể nhập.

* Trang 38 *
device

Một ngày kia, từ bên Hòa Thượng Tính Giác trở về để tham vấn Điều Ngự, vừa gặp lúc Điều Ngự thượng đường đọc bài tụng “Thái dương ô kê”, Sư liền tỉnh ngộ. Điều Ngự biết Sư đã tỏ ngộ, bèn dạy theo hầu bên mình. Một đêm nọ, nhân trình ba bài tụng cốt yếu đều bị Điều Ngự sổ toẹt, Sư thưa hỏi đến bốn lần mà Điều Ngự vẫn bảo phải tự tham cứu lấy. Trở về phòng tâm thần rất xao xuyến, đế nửa đêm thấy hoa đèn rơi, Sư bỗng nhiên đại ngộ, bèn đem những gì đã tỏ ngộ trình lên Điều Ngự, Điều Ngự rất bằng lòng. Từ đó, Sư thệ nguyện tu theo mười hai hạnh đầu đà.
Năm Ất Tỵ, niên hiệu Hưng Long thứ 13 (1305), Điều Ngự đích thân truyền giới Thanh Văn và Bồ-tát cho Sư tại liêu Kỳ Lân. Đến đây, Sư đã tham học thành tài nên được ban hiệu là Pháp Loa. Cùng năm này, Huyền Quang ban đầu xuất gia ở chùa Lễ Vĩnh, sau đến thọ giới với Bảo Phác. Năm Bính Ngọ, niên hiệu Hưng Long thứ 14 (1306), Điều Ngự đang trụ trì chùa Báo Ân tại Siêu Loại, cử Sư làm chủ giảng. Nhân thấy Huyền Quang đi với Bảo Phác đến chùa này nghe giảng, Điều Ngự bèn bảo Huyền Quang theo làm thị giả cho mình.

* Trang 39 *
device

Năm Đinh Mùi, niên hiệu Hưng Long thứ 15 (1307), Sư 24 tuổi, tháng tư, Điều Ngự đang trú tại am Thiên Bảo xem xét bảy, tám thị giả ở đây, thì Sư là người đứng đầu, nên giảng Đại Tuệ Ngữ (18b) Lục cho Sư. Tháng 5, Điều Ngự lên ở trong một am núi Ngọa Vân. Ngày rằm, khi bố-tát xong, Điều Ngự cho tả hữu lui hết, rồi lấy y bát và viết tâm kệ giao cho Sư ,bảo phải giữ gìn.
Ngày mồng một tháng giêng năm Mậu Thân, niên hiệu Hưng Long thứ 16 (1308), Sư phụng mệnh nối dòng pháp, trụ trì Cam Lộ Đường chùa Siêu Loại. Mở đầu buổi lễ truyền thừa Tổ vị, Điều Ngự cho tấu đại nhạc, đốt danh hương, dẫn Sư lễ Tổ đường rồi ra điểm tâm. Sau khi điểm tâm, Điều Ngự lại sai tấu nhạc, đánh trống pháp, tập họp đại chúng tại pháp đường. Lúc bấy giờ vua Anh Tông ngự giá đến chùa, vì vua là đại thí chủ của Phật pháp, nên khi phân ngôi chủ khách, vua đứng (19a) vào vị trí khách tại pháp đường, còn Thượng tể thì hướng dẫn các quan đứng dưới sân. Điều Ngự lên tòa thuyết pháp, giảng xong, bước xuống đỡ Sư lên tòa, Điều Ngự đứng đối diện chấp tay thăm hỏi. Sư đáp lễ xong, liền nhận Pháp y mặc vào. Điều Ngự bèn bước sang một bên, ngồi trên giường khúc lục, nghe Sư thuyết pháp. Rồi đem chùa Siêu Loại của sơn môn Yên Tử giao cho Sư,

* Trang 40 *
device

bảo phải kế thế trụ trì, làm Tổ thứ hai Thiền phái Trúc Lâm. Lại đem một trăm hộp kinh sử ngoại điển và hai mươi hộp Đại Tạng cỡ nhỏ viết bằng máu trao cho Sư để mở mang sự học nội và ngoại điển.
Trước đó, Đại Sư Thống Chính đã cúng một vườn cau (19b) để làm của Thường trụ chùa Siêu Loại, Điều Ngự sợ bất tiện nên bảo Anh Tông truất ra 100 mẫu ruộng làng Đội Gia và các canh phu đổi lấy vườn cau để làm phương tiện nuôi Tăng chúng. Lại lấy 25 mẫu ruộng làng Đại Từ của người cung phi của vua là Tỳ-kheo-ni Từ Chiêu cùng ngôi chùa của cô thêm vào đó.
Năm ấy, Sư phụng chiếu truyền giới xuất gia Bồ-tát cho Tuyên Từ Hoàng Thái hậu và cung phi của vua là Thiên Trinh Trưởng công chúa tại chùa Siêu Loại. Anh Tông lại sai Trung thư Thị lang Vương Công Trứ cấp độ điệp cho Sư để thường theo Tăng chúng mà không phải ràng buột bởi luật thường, đại khái nói: “Trường tuyển Phật cần phải tinh tuyển, (20a) chỗ cầu Phật chẳng cầu bên ngoài”. Bởi vì, Sư là bậc nối dòng pháp chính thống, chứ đâu phải như những Tăng chúng khác mà còn phải câu nệ vào những quy định thông thường.
Tháng 11 (1308), Điều Ngự nhập diệt tại am

* Trang 41 *
device

Ngọa Vân, Sư rước Xá-lợi về tôn trí tại đại nội, tuyên pháp ngữ rồi viết niêm tụng cho quyển Thạch Thất Mị Ngữ. Thạch Thất Mị Ngữ là tác phẩm Điều Ngự viết lúc rời viện (Kỳ Lân) về ở núi.
Ngày 14 tháng 7 năm Kỷ dậu, niên hiệu Hưng Long thứ 17 (1309), nhân ngày cúng chay cho Nhân Tông (Điều Ngự) trong dịp đại lễ Vu-lan, Sư phụng sắc chỉ đến dự, và lên tòa thuyết pháp. Cùng tháng ấy, Sư tiếp Huyền Quang và bảo: “ Ngươi quên những lời di chúc của Điều Ngự (20b) rồi sao?”. Từ ấy, Huyền Quang theo Sư tham học không rời nửa bước.
Tháng 9, Sư phụng chiếu theo thuyền vua rước Xá-lợi, Điều Ngự từ đại nội xuống phủ Long Hưng, tôn trí vào lăng. Lúc mở bảo vật đưa xuống hầm hay bọc Xá-lợi, Sư đều có pháp ngữ.
Tháng 3 năm Canh tuất, niên hiệu Hưng Long, thứ 18 (1310), vua Anh Tông ban chiếu, cứ 3 năm độ Tăng một lần, lại ban cho 80 mẫu ruộng tốt tại làng An Đinh, khiến  nông phu canh tác để cung cấp lương thực cho chúng Tăng, và sau bốn, năm năm thì trả lại.
Sư thường ngày đêm lễ Phật, trì chú không lúc nào thiếu sót, lại viết bài phát nguyện trong “Lục Thời Nghi”, đại ý nói: “ Chư Phật, Bồ-tát

* Trang 42 *
device

(21a) có những hạnh nguyện gì đều xin học cả. Hết thảy chúng sanh hoặc tán dương hay hủy báng, hoặc kính trọng hay xem thường, hoặc bố thí hay cướp đoạt, mà khi gặp mặt hay nghe tên, đều nguyện độ cho họ được giác ngộ”.
Tháng 7, Sư phụng chiếu đến cúng chay Nhân Trong dịp lễ Vu-lan, rồi lên tòa giảng yếu chỉ kinh Hoa Nghiêm. Lại đến chùa Tư Phúc trong đại nội, mở Xá-lợi của Điều Ngự cùng Thánh Tăng rước đến phủ Long Hưng, tôn trí tại chùa Phổ Từ. Cũng năm này, Sư độ Cảnh Huy, cho xuất gia thọ giới.
Năm Tân hợi, niên hiệu Hưng Long thứ 19 (1311), phụng chiếu khắc bản Đại Tạng kinh trở lại, Sư nhờ Bảo Sát chủ trì việc này. Tháng tư, Sư về trụ trì chùa Siêu Loại, (21b) giảng Truyền Đăng Lục. Lúc thượng đường, khi vào thất, Huyền Quang trình kiến giải gì, Sư đều chấp nhận.
Tháng 11 năm Nhâm tý, niên hiệu Hưng Long thứ 20 (1312), vua Anh Tông ban chiếu mời Sư vào chùa Tư Phúc trong đại nội giảng Đại Tuệ Ngữ Lục. Nhân đó, vua xuất vàng bạc của kho riêng, tính ra tiền là 50.000 quan, giao cho Sư bố thí những người nghèo, lại ban cho thuyền quan và phu chèo để Sư thường lui tới. Sư từ chối, không

* Trang 43 *
device

nhận. Vua Anh Tông lại khiến (người thân) cúng 500 mẫu ruộng tại nông trại Niệm Như để Sư làm của thường trụ Tam Bảo.
Ngày mồng một tháng 2 năm Quý sửu, niên hiệu Hưng Long thứ 21 (1313), Viện chủ Na-Già là Tổ Long Đàm, mời sư về (22a) chùa đó, giảng Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục và kinh Duy Ma. Sư khai đường thuyết giảng. Vua Anh Tông đến nghe pháp, nhân đó, phụng di chiếu của Điều Ngự, lấy những vật liệu của Tam Bảo tại cung Thánh Từ để trùng tu chùa Báo Ân tại huyện Siêu Loại; nhân công, thợ mộc, cây gỗ đều do quan cấp. Vua ba, bốn lần đến chùa ấy, nhân đó, sai cấm quân chở thêm gỗ, đổ thêm nền.
Tháng 9, Sư phụng chiếu đến chùa Vĩnh Nghiêm ở Lạng Giang, quy định các chức vụ của Tăng sĩ trong nước và bổ nhiệm đến hơn 100 ngôi già lam. Chư Tăng trong nước từ đó mới có sổ bộ, và đều do Sư trông coi. Bấy giờ, Sư độ hơn 10 người. Về sau, cứ ba năm (22b) độ Tăng một lần, mỗi lần khoảng dưới nghìn người. Bảo Từ Hoàng Thái hậu cúng 300 mẫu ruộng riêng của gia đình để làm của thường trụ Tam bảo chùa Siêu Loại. Vì trước đó Thái hậu thọ giới ở chùa này, nên cúng ruộng để làm tài sản cho chùa.

* Trang 44 *
device

Năm Giáp dần, niên hiệu Đại Khánh (1314), Thái Thượng Hoàng lên ngôi ([1]). Tại chùa Siêu Loại đúc ba pho tượng Phật đều cao 17 thước và xây điện Phật, gác kinh, nhà Tăng, gồm 33 sở, Sư đều đặt tên, Thái Thượng hoàng tự tay viết tấm biển “ Nhị hương điện” ban cho chùa. Anh Tông còn ban 500 hộp Đại Tạng kinh để làm của thường trụ chùa ấy.
Năm Ất mão, niên hiệu Đại Khánh thứ hai (1315), (23a) Anh Tông đem 30 mẫu ruộng của người cung nữ quá cố là Phạm Thị cúng cho Sư để làm của thường trụ.
Năm Bính thìn, niên hiệu Đại Khánh thứ ba (1316), Anh Tông ban chiếu thỉnh Sư truyền Bồ-tát giới tại gia cho Thái Thượng hoàng.
Tháng 2 năm Đinh tỵ niên hiệu Đại Khánh thứ tư (1317), Sư bị bệnh nặng, bèn đem y và tâm kệ do Điều Ngự truyền lại trao cho Huyền Quang, đem pháp khí tích trượng trao cho Cảnh Ngung, Phất tử trao cho Cảnh Huy, trúc bề trao cho Tuệ Quán, kinh sách và dụng cụ hành pháp trao cho Tuệ Nhiên, linh vàng trao cho Hải Ấn, chày vàng
 

([1]) Ngày 18.3.1314, Anh Tông nhường ngôi vua cho Minh Tông và lên ngôi Thái Thượng Hoàng.
 

* Trang 45 *
device

trao cho Tuệ Chúc. Khi Sư lành bệnh, Huyền Quang từ khước việc phú chúc ấy.
Năm này, Sư khai sơn chùa Bảo Sơn Vương tại Cổ Thành (23b). Họa sĩ Hứa Tắc Thành ở Triều Xuyên phụng chiếu vẽ chân dung đứng của Sư.
Tháng 12, Sư sáng lập viện Quỳnh Lâm, Tư đồ Văn Huệ vương là thí chủ, cúng 4.000 quan tiền. Nguyễn Trường ở Vân Động đến lễ Sư, cúng 75 mẫu ruộng để làm của thường trụ Tam Bảo cho viện Quỳnh Lâm.
Tháng 8 năm Mậu Ngọ, niên hiệu Đại Khánh thứ 5 (1318), Anh Tông xuống chiếu khiến Sư trụ trì am Thường Lạc tại Thiên Trường, và giảng Truyền Đăng Lục. Hoa Lưu cư sĩ Võ Công cúng 20 mẫu ruộng tại trang trại Hoa Lưu để làm của thường trụ cho viện Quỳnh Lâm.
Tháng 12, Sư phụng chiếu giảng Tuyết Đậu Ngữ Lục. (Thượng Hoàng) đặt bút ngự phong Sư hiệu Phổ Tuệ Tôn Giả. Từ đó (24a), Anh Tông có thư từ gởi đến Sư đều xưng là đệ tử, hoặc có gởi kệ tụng trình kiến giải, Sư đều ấn khả. Sư lại phụng chiếu đòi vị Phạm Tăng Ban-để-ba-ô-sá-thất-lợi đưa trình kinh Bạch Tán Cái Thần Chú.
Cũng năm này, Vô Phương trưởng lão hiệu Trí Tuệ từ Hồ Nam đến, Sư vâng chiếu đón tiếp.

* Trang 46 *
device

Tháng 10 năm Kỷ mùi, niên hiệu Đại Khánh thứ sáu (1319), dân các lộ bị mất mùa, vua xuất của kho riêng 100 lượng vàng và 500 lượng bạc, giao cho Sư bố thí những kẻ nghèo đói.
Tháng 12, Sư kêu gọi Tăng chúng và cư sĩ chích máu in Đại Tạng kinh hơn 5.000 cuốn, để tại viện Quỳnh Lâm. Anh Tông tự chích máu mình, viết được Đại Tạng kinh cỡ nhỏ (24b) gồm 20 hộp, “ban cho Sư.
Năm này trời hạn, có chiếu sai Sư cầu mưa, Sư khiến Sa-môn Thu Tử cầu, được ứng nghiệm Quốc phụ Thượng tể mời Sư đến ở chùa Thiên Linh, phủ An Hoa, giảng Đại Tuệ Ngữ Lục. Nhân lúc nghỉ tại chùa Báo Thiên, Hoa Dương công chúa thỉnh Sư thuyết pháp và truyền giới tại gia cho công chúa và các người khác. Hoa Dương là công chúa thứ sáu của Thái Tông, đã gả cho Bối Trí vương.
Ngày 16 tháng 3 năm Canh Thân, niên hiệu Đại Khánh thứ bảy (1320), lúc đưa thi thể của Anh Tông vào kim quang và khi hạ huyệt, Sư đều có pháp ngữ.
Tuệ Nhân Đại vươg thỉnh Sư về chùa Vũ Đinh truyền giới Bồ-đề tâm cho ông.
Năm Tân dậu, niên hiệu Đại Khánh thứ tám

* Trang 47 *
device

(1321), Thượng (25a) phẩm Hoài Ninh hầu đúc một pho tượng Thiên thủ đại bi và xin thọ giới Bồ-đề tâm. Sư phụng chiếu đặt pháp hiệu cho Chiêu Từ Hoàng Thái phi, và viết lời bạt sau Đại Tạng kinh. Đại Tạng kinh này trước đây Anh Tông cùng Thái Hậu và các cung tần chích máu viết hơn 5000 quyển. Đến khi xong, Thái Thượng hoàng mới xuống chiếu khiến Sư viết lời bạt ấy (*)
Quốc phụ Thượng tể mời Sư về chùa Sùng Nghiêm tại Linh Sơn để thọ giới tại gia Bồ- tát. Thầy trụ trì chùa Diên Quang tại Hiển Linh là Thu Tử mời Sư về chùa đó giảng phẩm Thập Địa trong kinh Hoa Nghiêm.
Năm Nhâm tuất, niên hiệu Đại Khánh thứ chín (1322), Thượng phẩm Hoài Ninh hầu Trịnh Trọng (25b) Tử và Thầy chủ sự Huyền Quang gởi thư mời Sư về chùa Báo Ân ở Siêu Loại, giảng hội thứ nhì trong kinh Hoa Nghiêm. Trước đó TrịnhTrọng Tử đã muốn mời Sư giảng hết chín hội Kinh Hoa Nghiêm (nay mới thực hiện). Từ đó trở đi, suốt chín hội, thính giả nhiều hơn cả ngàn người, khi ít cũng hơn năm sáu, trăm người.
 

(*) Lời bạt này có lẽ Sư viết năm 1319 khi Thượng Hoàng Anh Tông còn sống
 

* Trang 48 *
device

Tháng 3, Huệ Nhân Đại vương mời Sư về chùa Xí Thịnh Quang giảng hội thứ nhì kinh Hoa Nghiêm.
Ngày 13 tháng 6 Thái Thượng Hoàng(*) xuống chiếu sai Sư soạn Tham Thiền chỉ Yếu, nhân thể ban thêm cho Sư hiệu Minh Giác. Sư tạo lập các am Hồ Thiên, Chân Lạc, trong năm này Sư muốn đúc 1.000 pho tượng Phật, Bảo Từ Hoàng Thái hậu, Bảo Huệ Quốc (26a) mẫu, Bảo Vân công chúa, Tư đồ Văn Huệ Vương, Uy Huệ Vương, Đới Vương quan, Thượng Vị Hưng Uy hầu, Thượng phẩm Hoài Ninh hầu Trịnh Trọng Tử, Hữu bật Đoàn Nhữ Hài, Thượng phẩm đại liêu ban Trịnh Thành v.v…, tất cả đều tùy hỷ tán thành công đức này. Thầy Trừng Chiếu ở chùa Phổ Quang chủ trì việc ấy. Kiểm hiệu Tư đồ Văn Huệ Vương mời Sư về dinh thự An Long giảng kinh Thủ Lăng Nghiêm, nhân tiện, Sư xem lại bản Tứ Phần Luật San Bổ Sao, in để ấn tống hơn 5.000 quyển.Sư nhờ Quốc sư Tông kính ở Du Tiên (Tiên Du), Quốc sư Bảo Phác ở núi Vũ Ninh đến chùa Siêu Loại giảng bộ luật này. Tư đồ Văn Huệ Vương khi mới xuất gia (26b) thờ Sư hết lòng theo lễ làm đệ tử.
 

(*) Đây chỉ Minh Tông nhưng thật sự Minh Tông đến năm 1329 mới lên Thái Thượng Hoàng Đây chỉ Minh Tông nhưng thật sự Minh Tông đến năm 1329 mới lên Thái Thượng Hoàng
 

* Trang 49 *
device

Năm Quý Hợi, niên hiệu Đại Khánh thứ mười (1323), Sư 40 tuổi. Tháng 9, Tư đồ Văn Huệ Vương, Uy Huệ Vương mời Sư về chùa Báo Ân tại Siêu Loại để truyền giới Bồ-đề và thọ pháp quán đỉnh (24). Bảo Vân công chúa mời Sư về chùa Siêu Loại giảng hai hội thứ ba và thứ bốn kinh Hoa Nghiêm.
Bảo Từ Hoàng Thái hậu và Tư đồ Văn Huệ Vương mời Sư về viện Quỳnh Lâm giảng hội thứ năm kinh Hoa Nghiêm, đồng thời soạn kinh Kim Cương Trường Đà-la-ni kinh Khoa Chú, xem bản ấn hành, sửa chữa Niết-bàn Đại kinh Khoa Sớ, Pháp Hoa kinh Khoa Sớ, san định Lăng-già Tứ Quyển Khoa Sớ và soạn diễn nghĩa, sửa chữa (27a) Bát-nhã Tâm kinh Khoa sớ, soạn pháp Sự Khoa Văn và Độ Môn Trợ Thành Tập.
Tháng 2 năm Giáp tý, niên hiệu Khai Thái thứ nhất (1324), Sư phụng nội chỉ của Chiêu Từ Hoàng Thái phi đến phủ Kiến Xương giảng hội thứ năm Kinh Hoa Nghiêm.
Ngày rằm tháng 3, Sư phụng chiếu truyền giới xuất gia Bồ-tát cho Chiêu Từ Hoàng Thái phi. Lại đến chùa Phổ Quang ở Nghĩa Trụ, dự lễ hội Khánh tán điểm nhãn 1.000 pho tượng Phật đã đúc từ trước.

* Trang 50 *
device

Tháng 6, Sư tạo hai bộ tượng A-di-đà công đức bằng sơn mài, mỗi bộ có ba tượng.
Tháng 12, bảo Huệ Quốc mẫu mời Sư về cung Dưỡng Phúc giảng hội thứ bảy kinh Hoa Nghiêm, đồng thời khởi tạo (27b) mô hình pho tượng Phật Di-lặc cao một trượng sáu. Trước đó, Tư Đồ Văn Huệ Vương và cung phi của vua, cùng Thượng Trân công chúa chung nhau cúng 900 lượng vàng để Sư đúc tượng này. Người con của Nhật Trinh công chúa là Di Loan cư sĩ cúng 30 mẫu ruộng tại phủ Thanh Hoa vầ một sở ruộng còn lại. Bảo Từ Hoàng thái hậu cúng 22 mẫu đất tại phủ An Hoa để giúp cho công việc chóng hoàn thành, Tư Đồ lại cúng 300 mẫu ruộng tại Gia Lâm và hai trang trại Đông Gia và An Lưu. Tổng cộng ruộng đất hơn 1.000 mẫu, cùng hơn 1000 người canh tác để làm của thường trụ cho viện Quỳnh Lâm.
Ngày mồng một tháng giêng năm Ất sửu, niên hiệu Khai Thái thứ hai (1325), Bảo Huệ Quốc mẫu mời Sư (28a) về cung Dưỡng Phúc giảng Kim Cương kinh Niêm Tụng. Sư lại phụng chiếu vào chùa Tư Phúc trong đại nội, giảng Tuyết Đậu Ngữ Lục.
Tháng ba Tá Thánh Đại Sư và Hoa Dương công chúa mời Sư về chùa Thiên Quang giảng hội thứ tám kinh Hoa Nghiêm. Sư lại phụng chỉ của Bảo Từ Hoàng Thái hậu đến viện Quỳnh Lâm

* Trang 51 *
device

giảng tiếp hội thứ chín rồi thiết lễ Thiên Phật hội bảy ngày đêm, lại xây hai ngôi tháp bằng gạch và đá tại viện Quỳnh Lâm.
Ngày mồng một tháng chín, Sư phụng chiếu vào chùa Tư Phúc trong đại nội giảng kinh Viên Giác. Tháng này trời hạn có chiếu thỉnh Sư cầu mưa, Sư sai một vị Tăng cầu được ứng nghiệm.
(28b) Ngày 22 tháng 2 năm Bính dần, niên hiệu Khai Thái thứ ba (1326), Sư phụng chiếu đến chùa Hoa Vân núi Yên Tử tôn trí Xá-lợi của Điều Ngự vào kim tháp Tuệ Quang. Bảo Từ Hoàng Thái hậu cúng 30 mẫu ruộng tốt để làm của thường trụ viện Quỳnh Lâm.
Ngày 18, Thượng vị Chương Văn hầu mời Sư về chùa Kinh Hào thuyết pháp. Ngày 30, Sư phụng chiếu vào điện Động Thiên truyền giới Bồ-tát cho Chiêu Từ Hoàng Thái Phi và giới Bồ-đề tâm cho các cung nhân.
Tháng tư đại hạn, Sư phụng chiếu cầu mưa, bèn sai Thu Tử cầu được ứng nghiệm lập tức.
Ngày mồng một tháng 5, Thái Thượng hoàng và cung phi của vua mời Sư vào chùa Tư Phúc trong đại nội truyền phép Quán đỉnh.
Ngày 7 tháng 3 năm Đinh mão, niên hiệu

* Trang 52 *
device

Khai Thái (29a) thứ tư (1327), Sư đúc đại tượng Di-lặc và Thánh Tăng tại viện Quỳnh Lâm.
Tháng 10, Sư sáng lập các am An Mã, Thị Khê và Hạc Lai.
Tháng 3 năm Mậu thìn, niên hiệu Khai Thái thứ 5 (1328), Bảo Từ Hoàng Thái hậu và Bảo Huệ Quốc mẫu mời sư về Quỳnh Lâm, tập họp chư Tăng mười phương, thiết lễ Đại trai đàn chuyển Tạng mười ngày đêm, cung tiến Thượng hoàng Anh Tông và Quốc Kháo Hưng Nhượng đại vương. Nhân lúc Thái Thượng hoàng đến chùa, Sư tâu xin cấm quân rước đại tượng Di-lặc lên nền điện, rồi đưa lên bảo tòa thiếp vàng.
Tháng 9, Thái Thượng hoàng xuống chiếu sai Sư soạn sách Nhân Vương Hộ Quốc Nghi Quỹ (29b) để tiện việc tu thân.
Tháng 7 năm Kỷ tỵ, niên hiệu Khai Hựu thứ nhất (1329), Sư mở thắng cảnh Côn Sơn và Thanh Mai Sơn.
Tháng 8, Sư truyền giới xuất gia cho Tuyên Chân công chúa, ái nữ của Quốc phụ Thượng tể.
Tháng 9, Sư truyền giới xuất gia cho Lệ Bảo công chúa, ái nữ của Chiêu Huân Vương.
Tháng 11, Sư lập đàn tràng tại viện Quỳnh

* Trang 53 *
device

Lâm, làm lễ điểm nhãn tượng Phật Di-lặc, và lấy một phần của Xá-lợi của Điều Ngự tại tháp Thắng Tư Thiên đem cất vào tháp đá tại viện Quỳnh Lâm.
Sư đã tạo hơn 1.300 tượng Phật lớn nhỏ, hai bộ tượng sơn mài, hơn trăm tượng bằng đất, dựng hai cảnh chùa lớn và năm ngôi tháp, lập hơn 200 Tăng xá, độ (30a) hơn 15.000 Tăng, Ni, in một bộ Đại Tạng kinh. Những đệ tử đắc pháp hơn 3000 người đã liệt kê ở lược đồ. Pháp sư có sáu người như Tuệ Nhiên, Tuệ Chúc, Hải Ấn v.v… điều hành pháp đắc lực. Còn Hoằng Tế và Huyền Giác hiện đang chăm sóc tháp của Sư.
Năm Canh ngọ, niên hiệu Khai Hựu thứ hai (1330), Sư 47 tuổi, Rằm tháng giêng, Đại Sư Kiên Đức ở An Lạc và Thí chủ Lệ Bảo công chúa mời sư về An Lạc tàng viện, giảng lại hai hội thứ nhất và thứ nhì (kinh Hoa Nghiêm). Ngày 26, Sư lên kinh đô chúc mừng Thái Thượng hoàng vừa dẹp xong bọn mọi ở Nê giang mới trở về. ngày mồng ba tháng hai,Sư trở lại viện An Lạc (30b), nhờ trưởng lão Bích Phong thay mình giảng diễn. Đến ngày mồng năm, Sư lâm bệnh, trải qua bảy tám ngày, bệnh trở nặng. Đến ngày mười một vào lúc ban đêm Huyền Quang vào thăm bệnh, trong lúc ngủ, Sư kêu “hồng hồng” một tiếng, Huyền Quang hỏi: “Ngủ với thức đã là một chưa?”

* Trang 54 *
device

Sư đáp: “Ngủ với thức là một, là khi y không bệnh”.
Huyền Quang hỏi: “Bệnh với không bệnh đã là một chưa?”
Sư đáp: “Bệnh cũng chẳng can gì đến y, chẳng bệnh cũng chẳng can gì đến y”.
Huyền Quang hỏi: “Thế thì tại sao có tiếng nói thốt ra?”
Sư đáp: “ Tiếng gió thổi qua cây mà quan tâm làm gì”.
Huyền Quang nói: “Tiếng gió thổi qua cây thì người ta không lầm, nhưng khi ngủ nói mớ thì có thể làm người ta lầm”.
Sư nói: “(31a) Kẻ si mê cũng có thể bị tiếng gió thổi qua cây làm mê lầm lắm”.
Huyền Quang nói: “ Chỉ có một bệnh đó mà đến chết cũng chưa khỏi”.
Sư bèn đạp Huyền Quang, Huyền Quang bỏ ra. Từ đó, bệnh thuyên giảm dần. Đến ngày 13, Sư về lại viện Quỳnh Lâm, nghỉ tại phương trượng cũ. Ngày 19, vào lúc ban đêm, bệnh trở nặng, Sư đem Ca-sa và tâm kệ của Điều Ngự truyền lại giao cho Huyền Quang, bảo phải gìn giữ. Lại viết kệ giao cho Cảnh Ngung, Cảnh Huy, Vô Tế v.v…., các đệ tử

* Trang 55 *
device

lớn, môn đồ, kẻ trước người sau, ngày ngày vào xin kệ, Sư đều viết trao cho tất cả. Lại trả lời những câu hỏi của họ không biết mỏi mệt. Bấy giờ, Sư đã thọ ký những đệ tử đắc pháp hơn 3000 (31b) người. Đến ngày mồng một tháng ba, Thượng Hoàng thân hành đến thăm bệnh; lúc ra Ngài nói: “Là Tổ sư tự tại, cần đi thì đi, cần ở thì ở, không thể biết được, như xét đến giọng nói thì chưa thấy có triệu chứng gì sắp chết”. Nhân đó xuống chiếu sai thái y đến chữa trị. Thái y cũng bảo không chết. Sư cũng uống thuốc, không từ khước. Ngày mồng hai, Sư sai Sa-môn được ban áo tía là Thu Tử đến thuyền vua trình lên vua pháp kệ và lời di chúc. Giờ ngọ, ngày mùng ba, Thượng phẩm phụng ngự Đàm Cối vào xem mạch cũng bảo chưa thấy có triệu chứng gì sắp chết. Đến giờ Hợi trong đêm, bệnh nguy kịch, Huyền Quang vào thăm hỏi: “Xưa nay những người sắp lâm chung thì buông đi (32a) tốt hay giữ lại tốt?”
Sư đáp: “Đi hay ở đều chẳng liên can gì cả”.
Huyền Quang hỏi: “ Chẳng liên can gì cả là thế nào?’
Sư đáp: “Tùy xứ Tát-bà-ha (25)”.
Các môn đồ vào thưa: Người xưa khi lâm chung đều có kệ dạy, vì sao Thầy không có?”

* Trang 56 *
device

Sư quở trách họ; giây lâu bèn ngồi dậy, bảo đem bút đến, viết lớn bài kệ:
“Muôn duyên cắt đứt, tấm thân nhàn,
Hơn bốn mươi năm cõi mộng tàn
Giã biệt! Xin đừng theo hỏi nữa,
Bên kia trăng gió mặc thênh thang”.
rồi quăng bút an nhiên viên tịch, đúng vào giờ Tý, thọ 47 tuổi. Môn nhân đệ tử khâm liệm vào quan tài, giờ Sửu rước lên núi Thanh Mai tôn trí vào chỗ đất mà trước đó Sư đã bảo họ làm sẵn. (32b) Thượng hoàng sai trung sứ thân hành đến đó, bấy giờ môn nhân liền đem bài kệ thị tịch và các nhân duyên vấn đáp trao cho sứ giả trình lên Thượng hoàng. Bốn chúng lễ tạ bốn lạy rồi ra về.
Ngày 11 tháng 3, Thái Thượng hoàng ngự bút phong thêm Sư hiệu Tịnh Trí Tôn giả, đặt tên tháp là Viên Thông, và ban cho 10 lượng vàng để xây tháp, đồng thời làm thơ viếng Sư:
“Tay rũ trần hoàn đã hết duyên,
Giác Hoàng y pháp được người truyền,
Phần mộ núi xanh trùm cỏ dại,
Xác ve cây biếc phủ sương huyền.
Giảng đường rọi bóng trăng kim cổ,
Thiền thất mờ mây khói nhị biên
Xót duyên kim cải ôi thương tiếc.
                  (33a) Chuốt một bài thơ khóc khách Thiền

* Trang 57 *
device

Các đệ tử của Sư có: Quang ở Côn Sơn, Ngung ở Quế Đường, Huy ở Ngân Sơn, Ngân ở Diễn Châu, Thuần ở Nhân Kiệt, Nhãn ở Quỳnh Lâm, Nguyên ở Siêu Loại, Quản ở Trúc Đường, Na ở Hồ Thiên, Sang Khoáng ở Quỳnh Lâm, Quang ở Tuyết Am, Tánh ở (…) Am, Chỉ ở Phổ Minh, Trang ở Cổ Châu, Hạnh ở Ái Châu, gồm tất cả hơn 3.000 người, đã liệt kê trong lược đồ.
Ngoài ra các đệ tử theo học mới đắc pháp có Tiểu Huệ bà, Tuyên Từ Hoàng Thái hậu, Từ Huệ Tỳ-kheo-ni, Thiên Trinh Trưởng công chúa, Vua Anh Tông, Thái Thượng hoàng, Động Nhiên Tấn, Tư Đồ Văn Huệ Công, Hồ Thiên Đức, Uy Huệ Vương, Tùng Liêu Tế, Chương Văn Thượng Vị hầu, (33b) Luân ở Đẩu Am, Khôi ở Tố Am, Quách Sơn, Nhãn ở Tích Sơn, Quan ở Ái Châu, Cư ở Không Sơn, Di ở Thẩm Am, Nhu ở Tiên Giá, Minh ở Hải Triều, Tiệt ở Hư Đường, Huệ Đại Tôn Giả ở Tế Giang.
Sau khi Sư viên tịch, vua xét ban nhà cửa, vàng bạc cho 50 người, cho 10 người cháu làm quan hộ, lại cho 20 người làm đại hình; sau đó, lại cúng một sở ruộng 8 mẫu. Các thứ đều chép đầy đủ trong tập văn.
Bản niên phổ này khắc in năm Nhâm dần, niên hiệu Đại Trị thứ năm (1362).

* Trang 58 *
device

 
Tam Tổ Thực Lục