LOGO VNBET
Bồ Tát hạnh:
DƯỢC VƯƠNG BỒ TÁT, DIỆU ÂM BỒ TÁT,QUAN ÂM BỒ TÁT, DIỆU TRANG NGHIÊM BỒ TÀT
VÀ PHỔ HIỀN BỒ TÁT
 
Người tu Pháp Hoa thâm nhập đạo tràng vô tướng, đắc được các pháp vi diệu và trở lại thực tế cuộc sống, sinh hoạt của họ sẽ chuyển đổi theo chiều hướng rất tốt đẹp, gọi là thành tựu công đức. Vì vậy, đến phẩm Phân biệt công đức thứ 17, đáng lẽ kết thúc phần Bổn môn; nhưng tôi đưa thêm phẩm Phổ Môn thứ 25 và phẩm Phổ Hiền Bồ tát khuyến phát thứ 28 là có dụng ý theo Phật. Vì thâm nhập đạo tràng vô tướng, thành tựu công đức bất khả tư nghì không phải là việc đơn giản mà ai cũng có thể làm được, phải nói rằng muôn người chưa được một người, Tổ Quy Sơn gọi là vạn trung vô nhất.
Cửa Không dù không có cửa đóng then cài, nhưng không ai vào được. Tuy nhiên, nếu không thâm nhập được cửa Không, thì giáo pháp sẽ bị mai một hay sao; cho nên kinh Pháp Hoa có thêm phần lưu thông để mở ra cho nhiều người tu được. Thật vậy, thân phận nghiệp dày phước mỏng của chúng ta không qua cửa Không

* Trang 174 *
device

được, thì cánh cửa Phật đóng kín, không ai làm Phật được. Vì vậy, Đức Phật khai ra các pháp phương tiện để mọi người nương theo tu hành, lần lần cũng có những vị chân tu tiếp độ được chúng sinh.
Trở lại thân phận nhỏ bé của chúng ta không trực ngộ được yếu chỉ của Đức Phật, chúng ta nên tu bằng niềm tin, tin Phật pháp và làm theo lời Phật dạy để đạt được những kết quả nhất định trong cuộc sống.
Từ thế giới vô tướng quá đặc thù, trở lại cuộc sống thực tế, Đức Phật giới thiệu hình ảnh Bồ tát Quan Âm với 32 tướng hảo để chúng ta tạo mối giao cảm với Ngài. Nói cách khác, 32 ứng hiện thân của của Đức Quan Âm để tất cả mọi người có thể nhận biết được Đức Phật và đến với đạo Phật qua 32 cửa phương tiện. Tuy nhiên, muốn đạt được công hạnh siêu tuyệt như Bồ tát Quan Âm, phải có quá trình tu học theo hai vị Bồ tát là Dược Vương và Diệu Âm. Vì thế, phẩm Dược Vương Bồ tát bổn sự thứ 23, phẩm Diệu Âm Bồ tát thứ 24 và phẩm Phổ Môn thứ 25 liên quan mật thiết với nhau, nhưng phẩm Phổ Môn là đỉnh cao của hạnh Bồ tát giáo hóa chúng sinh. Thật vậy, phẩm 23 nói về kiếp quá khứ tu hành của Bồ tát Dược Vương và phẩm 24 giới thiệu phương cách giáo hóa siêu việt của Bồ tát Diệu Âm, tức phải có căn lành đời trước và trải qua quá trình tu hành thâm nhập yếu nghĩa của pháp vi diệu ở đạo tràng vô tướng, mới dẫn đến đỉnh cao của hạnh Bồ tát Quan Âm là tùy loại ứng hiện thân.

* Trang 175 *
device

Kinh Pháp Hoa nói về nhân hạnh Bồ tát, gọi là giáo Bồ tát pháp là pháp Phật dạy Bồ tát tu hành. Chúng ta suy nghĩ Bồ tát tu thế nào và bắt đầu làm theo các Ngài cho được kết quả tốt đẹp. Trong kinh Pháp Hoa, quyển thứ bảy nói về các Bồ tát : Dược Vương, Diệu Âm, Quan Âm, Diệu Trang Nghiêm và Phổ Hiền. Mỗi vị Bồ tát này có một hạnh khác nhau mà vị nào cũng tài giỏi xuất sắc và cũng rất dễ mến để chúng ta bắt chước tu theo.
BỒ TÁT DƯỢC VƯƠNG
Mở đầu phẩm, Đức Phật nói về hành trạng của Bồ tát Nhứt Thiết Chúng sinh Hỷ Kiến vào thuở quá khứ lâu xa, nay là Dược Vương Bồ tát. Ngài thường gia công Thiền quán. "Thiền” là tâm yên tĩnh hoàn toàn và "Quán” là nhìn sự vật qua tâm thanh tịnh, thấy sự thật của sự vật. An trụ Thiền quán, nên Ngài chứng được Hiện Nhứt thiết Sắc thân Tam muội, nghĩa là hiện thân hình hoàn toàn tự tại, cần thân nào thì hiện thân đó. Nói cách khác, cảnh giới của Bồ tát tùy tâm hiện, tâm và cảnh nhất như, nên Bồ tát được giải thoát, không có bất cứ chướng ngại nào. Còn chúng sinh thì tâm và cảnh không thuận nhau, họ không muốn cảnh đó, không muốn người đó, nhưng cảnh và người bất như ý vẫn cứ hiện hữu bên cạnh và ràng buộc họ; trái lại, họ muốn điều gì thì điều đó lại không đến.
Trên bước đường tu, chứng được pháp Hiện Nhứt thiết Sắc thân Tam muội thì trong thế giới tâm linh phải hiện hữu cảnh hay vật trước, sau đó cảnh này,

* Trang 176 *
device

vật này phải có thực trên cuộc đời. Như vậy, tâm và cảnh được thống nhất, hay nói cách khác là chuyển đổi sở đắc tâm linh siêu hình trở thành hiện thực. Chuyển đổi bằng cách chúng ta tu hành phát huy công đức của mình; vì chỉ có công đức mới làm thay đổi được, mới biến ngôi chùa tâm linh thành ngôi chùa hiện thực. Công đức thành tựu nhờ những việc làm mang lợi lạc cho mọi người, nên mọi người thấy Bồ tát là mừng rỡ, Ngài mới có tên là Nhứt Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến.
Ngoài ra, trong kinh nói Bồ tát Dược Vương tu chứng được pháp Giải nhứt thiết chúng sanh ngữ ngôn đà la ni. Nghĩa là làm được như Ngài thì gặp người nào, chúng ta cũng hiểu được họ. Thực tế cho thấy nhiều người thường phạm sai lầm, thích bắt người nghe mình, hiểu mình, mà không chịu hiểu người ta muốn gì. Ap đặt người ta nghe theo, chẳng ai nghe đâu. Quan trọng là phải hiểu người, trong kinh gọi là đà la ni, hay huệ giải nhờ có trực giác giúp chúng ta nhận ra được.
Hiểu người nghĩ gì, muốn nói gì thì phải có đà la ni, huệ giải và muốn có đà la ni huệ giải, phải bắt đầu lóng nghe trước. Đa số người muốn nói mà không muốn nghe; không nghe làm sao hiểu được. Nghe nhiều, ít nói là hướng tu của Bồ tát Dược Vương. Chúng ta lập hạnh tu của Bồ tát này lần lần dễ mến, vì ít nói, thường nghe người khác nói. Nghe điều gì tâm đắc, mỉm cười gật đầu, họ sẽ thích và thương mình liền vì nghĩ rằng mình hiểu họ, cho nên có điều gì họ cũng muốn tâm sự với mình. Đức Phật

* Trang 177 *
device

giới thiệu Bồ tát Dược Vương, nhằm chỉ dạy chúng ta tu Bồ tát đạo phải biết lóng nghe, thông cảm và giải quyết tốt đẹp cho người, mới tạo thêm được Bồ đề quyến thuộc.
BỒ TÁT DIỆU ÂM
Tu chứng trong Thiền định và giáo hóa trên thực tế cuộc sống tốt đẹp, tiến qua gia đoạn hai, thể hiện công hạnh của Bồ tát Diệu Âm. Diệu Âm hành đạo gián tiếp, Ngài ẩn thân, không đến Kỳ Xà Quật, nhưng 84.000 hoa sen đã nổi lên ở đó tiêu biểu cho đức hạnh và uy danh của Ngài mà ai cũng mong đợi; nghĩa là từ Nhứt thiết Chúng sinh Hỷ Kiến biến thành hoa sen. Điều này nhằm nhắc nhở chúng ta rằng đến nơi nào làm đạo cũng phải thể hiện tinh thần vô nhiễm. Bồ tát Diệu Âm đến Ta bà không vì quyền lợi riêng, nhưng vì thương chúng sinh và kính trọng Đức Phật Thích Ca. Trên bước đường hành đạo, chúng ta làm theo lời di huấn của Đức Phật không nghĩ đến để được quyền lợi, nhưng tùy theo yêu cầu của người mà giúp đỡ. Và người mang ơn, chúng ta cũng không nên lưu lại đó lâu ngày; vì ở để cho người cơm bưng nước rót thì chỉ một thời gian sau, họ sẽ đối xử khác liền. Vì vậy, chúng ta thấy các vị Bồ tát cứu độ chúng sinh xong là trở về bổn độ, công đức các Ngài mới dư thừa. Chúng ta làm ít hưởng nhiều, nên cuộc đời đi xuống lần. Hành đạo theo Bồ tát Diệu Âm thì đến và đi đúng lúc, đúng chỗ, đúng việc và thể hiện đúng ý nghĩa cao quý.

* Trang 178 *
device

Thật vậy, Bồ tát Diệu Âm ở thế giới phương Đông, Đức Phật Thích Ca muốn điều Ngài đến Ta bà để nói kinh Pháp Hoa. Đức Phật liền phóng hai luồng hào quang chiếu vào thân của Diệu Âm, một hào quang phóng từ bạch hào tướng tiêu biểu cho trí tướng, nghĩa là Đức Phật điều động Bồ tát Diệu Âm bằng trí tuệ. Điều này nhắc nhở chúng ta muốn người hợp tác, phải chứng tỏ hiểu biết của mình hơn người. Nhưng chỉ có trí tuệ mà tâm ác độc, không có đức hạnh thì người cũng không thể hợp tác với mình. Vì vậy, Đức Phật còn phóng luồng hào quang thứ hai từ vô kiến đảnh tướng là đức tướng hay đức hạnh. Từ khi phát tâm tu hành, Đức Phật chưa bao giờ dám xem thường chúng sinh; với đức hạnh như vậy, người người đều muốn được gần gũi, được làm việc chung với Ngài. Vì thế, Diệu Âm nói rằng Ngài phải qua Ta bà vì đức hạnh cao vòi vọi của Đức Phật Thích Ca.
Ngoài ra, Bồ tát Diệu Âm sở đắc âm thanh vi diệu đi thẳng vào lòng người, tác động cho họ rơi rụng phiền não nhiễm ô, được thanh tịnh. Và vị Bồ tát này thường ẩn thân, ít xuất hiện, vì để cho chúng sinh gặp gỡ dễ dàng quá, họ cũng hay khởi tâm niệm xem thường. Và Ngài thành tựu việc khó làm rồi cũng ẩn ngay, vì tâm lý và nhu cầu của con người trong thực tế cuộc sống luôn thay đổi, không phải lúc nào họ cũng muốn lắng nghe sự thật. Mỗi vị Bồ tát chọn một hạnh và thực hiện hạnh đó một cách trọn vẹn. Diệu Âm thành tựu một hạnh đặc

* Trang 179 *
device

biệt là Ngài xuất hiện vô nhiễm như hoa sen. Nhưng chuyển sang hạnh Quan Âm thì lại đa năng, việc nào Ngài cũng xuất sắc.
BỒ TÁT QUAN ÂM
Tinh ba của đạo Phật đã thể hiện rõ nét khi đề xướng Phật tánh, hay chân tánh của con người, theo đó không có tướng nam nữ, không có tướng già trẻ, không có tướng sang hèn, v.v... Nói chung là không có hình thái cố định đối với người tu đắc đạo, vì họ đã giải thoát khỏi sự chi phối của định luật thiên nhiên và xã hội. Với tâm trí sáng suốt, thấy đúng mọi việc, nên tùy theo yêu cầu của xã hội mà Bồ tát xuất hiện với thân hình tương ưng thích hợp để thể hiện lòng từ bi, cứu nhân độ thế.
Đức Quan Âm chính là vị Bồ tát tiêu biểu rõ nét tinh thần này qua 32 ứng hiện thân của Ngài trên cuộc đời. Bồ tát Quan Âm có thể hiện thân cao quý nhất là Phật thân để khai ngộ cho những bậc đại nhân, hoặc hiện thân Thanh văn thể hiện Tứ Thánh đế một cách siêu tuyệt để giúp người tu vượt qua được những vướng mắc của ngữ ngôn văn tự, tâm trí được lắng yên và lên bờ giác. Hoặc Ngài hiện thân người lãnh đạo anh minh, tài giỏi, giữ vững biên cương, làm cho dân chúng được an lạc; thậm chí Đức Quan Âm còn xuất hiện thân tầm thường như trẻ con. Tất cả hiện thân của Ngài chỉ để đáp ứng yêu cầu của mọi người ở mọi lãnh vực. Ngay cả với những mong ước rất đời thường của con người là sinh được con trai, hay con gái, Ngài cũng sẵn lòng dang tay

* Trang 180 *
device

giúp đỡ, nhất là cứu người thoát khỏi những tai nạn hiểm nguy trong cuộc sống, được kinh Phổ Môn ghi là "thất nạn nhị cầu”. Vì thường xuyên ở Ta bà cứu khổ độ sinh, nên Bồ tát Quan Âm phải có 32 hiện thân tiêu biểu cho năng lực vô cùng ở mọi dạng thức; còn có một thân, một dạng cố định tất nhiên việc làm phải bị giới hạn.
Quan Âm Bồ tát được tôn thờ, kính lễ vì Ngài làm được vô số việc khó làm. Đức Phật Thích Ca cho biết Bồ tát Quan Âm là một vị cổ Phật hiện thân làm Bồ tát. Trong khi Bồ tát mới phát tâm vừa hành đạo, vừa rút kinh nghiệm và phải nương theo các Bồ tát lớn để tu tạo công đức, nhưng chỉ làm được một số việc mà thôi. Còn Bồ tát thành Phật rồi hiện thân lại cứu độ chúng sinh thì việc gì cũng làm được. Đức Quan Âm là Chánh Pháp Minh Như Lai ở Tịnh độ, nhưng Ngài hiện thân làm Bồ tát lóng tai nghe tiếng kêu cứu của chúng sinh ở Ta bà có nhân duyên căn lành với Ngài để cứu giúp nên có tên là Quán Thế Âm. Có nhân duyên căn lành với Đức Quan Âm nghĩa là có niềm tin sâu sắc với Ngài, có độ cảm tâm mãnh liệt với Ngài và tâm trí luôn nghĩ nhớ đến công hạnh của Ngài, thì cầu Ngài gia hộ mới có kết quả. Thật vậy, Bồ tát Quan Âm ở thế giới Tịnh độ, tâm Ngài ly trần, sáu trần hoàn toàn không tác động đến Ngài; nếu chúng ta dùng thanh trần mà kêu Ngài, chắc chắn không được, nhưng Ngài nghe được tâm tha thiết kính trọng của chúng ta, chúng ta chỉ tương thông được với Ngài qua tâm thành và thanh tịnh.

* Trang 181 *
device

Vì vậy, người niệm Quan Âm rất nhiều, nhưng không phải ai cũng được Ngài cứu. Theo tôi, Bồ tát cứu giúp nếu chúng ta bị hàm oan, còn tội thiệt thì không cứu được. Tuy nhiên, cũng có trường hợp tạo tội thật sự đáng chết, nhưng Bồ tát cũng cứu để họ tu hành, lập công chuộc tội. Thứ hai là bị tai nạn, nhưng nhờ đã tạo một công đức nào đó, mới được cứu. Điển hình như Hòa thượng Thiện Hào kể cho tôi nghe rằng thuở sanh tiền, vào giai đoạn Ngài làm trụ trì chùa Giác Ngạn. Thời đó, ông Nguyễn văn Tâm làm Tổng trưởng An ninh của chính quyền Pháp, ông đã ra lệnh phòng Nhì đến bắt Hòa thượng. Nhưng bà vợ của ông nghe được tin này, liền đem xe công an Pháp đến chùa chở Hòa thượng xuống Mỹ Tho trốn thoát. Thiết nghĩ Bồ tát Quan Âm đã tác động đến bà này, hay nói cách khác, bà này là hiện thân của Đức Quan Âm trong đúng công việc cứu Hòa thượng. Không phải Quan Âm cởi rồng xuống cứu.
Và quan trọng nhất là những ai một lần được đức Quan Âm gia hộ thì cuộc đời họ sẽ từng bước phát triển tâm từ và làm lợi ích cho người. Đó chính là hình ảnh Bồ tát Quan Âm cao quý mà chúng ta kính lễ, tôn thờ.
Từ biểu tượng Quan Âm có quyền năng vô hạn mà chúng ta kính ngưỡng, tôn thờ, trở lại thực tế cuộc sống, quan sát sinh hoạt xã hội, theo tôi, bất cứ người nào dù khoác áo hình thức nào, nhưng mang lại an vui cho đời và giúp đỡ người vượt qua

* Trang 182 *
device

những khó khăn hiểm nguy, thì người đó chính là thị hiện của Bồ tát Quan Âm.
Và càng kính lễ Bồ tát Quan Âm, bước theo dấu chân Ngài, chúng ta càng nuôi lớn tâm từ bi, hạnh từ bi của chính mình. Đó thật sự là con đường truyền thông nối liền chúng ta và Bồ tát Quan Âm trong Pháp giới, là nhịp cầu trợ giúp chúng ta tiếp nhận được năng lực siêu nhiên của Đức Quan Âm. Nhờ sự gia bị của Ngài, chúng ta mới dễ dàng thành tựu những việc làm lợi ích cho đời, tốt đẹp cho đạo, những việc thật khó khăn vượt ngoài khả năng và suy nghĩ của con người bình thường. Vì vậy, có lúc nhận thấy một người rất tầm thường, nhưng họ lại làm được việc phi thường. Và sau đó, họ lại sinh tâm cao ngao, tự cho rằng mình tài giỏi, tự làm được, thì Phật lực, Bồ tát lực không gia bị nữa và niềm tin của họ đối với Phật, Bồ tát không còn. Phạm sai lầm này, họ rơi trở lại thân phận con người tầm thường, chẳng làm nổi việc gì dù nhỏ nhất.
DIỆU TRANG NGHIÊM VƯƠNG HAY BỒ TÁT HOA ĐỨC
Phẩm 27 nói về Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn sự nghĩa là Diệu Trang Nghiêm vương của quá khứ và hiện tại ở hội Pháp Hoa, Ngài là Bồ tát Hoa Đức. Bồ tát Hoa Đức cũng là Văn Thù Sư Lợi Bồ tát. Do đó, kết thúc kinh Pháp Hoa bằng Bồ tát Văn Thù và Phổ Hiền.
Vào Pháp Hoa phải vào bằng cửa trí, nghĩa là phải thấy đúng và làm đúng mới thành tựu công đức. Muốn thấy đúng, phải làm sao ? Diệu Trang Nghiêm vương sẽ cho chúng ta biết bằng kinh nghiệm bản thân tu tập của chính Ngài.

* Trang 183 *
device

Trong kiếp quá khứ, Diệu Trang Nghiêm vương được Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn đưa đến gặp Đức Phật; ông mới phát tâm tu tập theo Phật, nghĩa là từ đây ông không giải quyết mọi việc theo sự hiểu biết phân biệt của vọng thức. Vì tính toán theo vọng thức, không còn sáng suốt nên ông đã nghe theo những lời chỉ dẫn sai lầm của Bà la môn.
Diệu Trang Nghiêm vương phát tâm theo Phật, nhận thức theo Phật là quán sát sự việc hay con người qua mười dạng thức khác nhau, kinh Pháp Hoa gọi là thập Như thị : như thị tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bản mạt cứu cánh. Thí dụ thấy một người có tâm tánh xấu hoặc việc làm xấu, thì chúng ta tránh họ. Nhưng thấy theo Đức Phật thì mọi việc, mọi người trên cuộc đời này đều tương đối. Một người có thể xử sự xấu với người này, nhưng lại tốt với người khác, hoặc họ xấu ở hoàn cảnh này nhưng tốt ở hoàn cảnh khác, họ có thể xấu lúc này nhưng tốt lúc khác. Thấy theo thập như thị là thấy một sự việc, một người ở nhiều dạng khác nhau, không cố định, thấy được tâm xấu của cảnh giới địa ngục cho đến cuối cùng thấy người có tâm địa xấu ác nhất cũng sẽ thành Phật, tức thấy được Phật tánh của họ. Đức Phật thấy rõ Phật tánh của mọi người và giúp cho chúng ta phát huy Phật tánh của mình, thì lần lần theo Phật chúng ta cũng trở thành người tốt. Chính vì vậy mà Đức Phật cảm hóa từ vua chúa cho đến người thấp kém nhất trong xã hội, vì họ đều có Phật tánh, thậm chí con ong, cái kiến cũng có Phật tánh. Tình thương

* Trang 184 *
device

của Đức Phật trải rộng khắp muôn loài, trí tuệ của Đức Phật soi rọi khắp Pháp giới. Còn người thiệt tốt, nhưng ta không thấy cái tốt của họ, chỉ nhắm vô lỗi lầm của họ mà chê trách, khiến cho cái xấu ác đó của họ bung lên. Thể hiện tinh thần này, Đức Phật dạy Bồ tát Địa Tạng vào địa ngục giáo hóa chúng sinh, tất nhiên ở đó toàn là những người tội nặng, nhưng Bồ tát cũng cố tìm điểm tốt nhất của họ để khai thác và giúp họ thoát khỏi cảnh khổ, tức phát huy tánh tốt cho họ.
Vua Diệu Trang Nghiêm nhờ có căn lành sâu dày nên được hai vị thiện tri thức là Bồ tát Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn tái sinh làm con để hướng dẫn ông phát tâm bỏ vọng thức và nhận thức bằng chơn tâm. Với công phu tu tập như vậy, vua Diệu Trang Nghiêm đã có hậu thân là Bồ tát Hoa Đức thành tựu tri kiến Như Lai.
Ngày nay, học theo gương của Hoa Đức Bồ tát, trong mối quan hệ với mọi người, dù có gặp người tồi tệ đến mấy, chúng ta cũng nên thấy mặt tốt của họ để phát triển căn lành của chính mình và của người.
BỒ TÁT PHỔ HIỀN
Mở đầu phẩm Phổ Hiền Bồ tát khuyến phát thứ 28, Đức Phật nói với Bồ tát Phổ Hiền rằng muốn có kinh Pháp Hoa sau khi Như Lai diệt độ phải thành tựu bốn điều là trồng căn lành, có tâm từ bi, sống trong Thiền định và thấy đúng sự thật của tam thế gian. Có bốn pháp này mới được Phật lực và Phổ Hiền lực gia bị.
Trước nhất, muốn có căn lành, phải xóa trừ mười nghiệp ác của thân khẩu ý; vì đầy đủ nghiệp ác mà thọ trì kinh Pháp Hoa không có công đức, còn phạm tội phá

* Trang 185 *
device

pháp. Và nghiệp ác sạch rồi cũng chưa được Phổ Hiền hộ niệm, còn đỏi hỏi chúng ta phải có căn lành. Chúng ta trồng căn lành ở Đức Phật nào mà chúng ta cảm để Ngài bảo hộ chúng ta. Trồng căn lành ở Phật nghĩa là suy nghĩ, lời nói và việc làm của chúng ta giống vị Phật đó, mới nhận được lực gia bị của Ngài. Thí dụ Đức Phật Thích Ca làm những việc khó làm, chúng ta tập theo hạnh của Ngài, dấn thân làm một số việc khó một cách vô điều kiện, không ngại gian lao, thì được Đức Phật hộ niệm và ấn chứng với Phổ Hiền là chúng ta làm thay Phật, nên được Phổ Hiền che chở, chúng ma không phá hại được, việc dữ hóa lành, việc khó thành dễ.
Bồ tát Phổ Hiền đến Ta bà với vô số Bồ tát thị tùng và bát bộ Thiên long ủng hộ, Ngài đến từ thế giới của Đức Phật Bảo Oai Đức Thượng Vương, tức một nước có đầy của báu, đầy quyền uy, đầy đức độ. Bồ tát Phổ Hiền đến đâu thì mưa châu báu rải xuống đến đó. Nói cách khác, Bồ tát Phổ Hiền xuất hiện trên cuộc đời với đầy đủ thế và lực siêu tuyệt để có thể cảm hóa tất cả thành phần chúng sinh ở Ta bà và chuyển đổi mọi tình huống trở thành tốt đẹp.
Bồ tát Phổ Hiền có ba lời nguyện. Thứ nhất, người tu Pháp Hoa gặp ma chướng nhiễu hại, tức hoàn cảnh khó khăn. Gần nhất là khó khăn về ba việc căn bản của sự sống : cơm ăn, áo mặc, chỗ ở và ra ngoài bị người chống phá, đe dọa. Tin lời nguyện của Đức Phổ Hiền rằng nếu có như vậy, Ngài sẽ dùng sức thần thông hộ trì Diệu Pháp, giữ ma lại, không cho ma phá hại chúng ta. Thậm chí nhờ lực Phổ Hiền gia bị biến ác ma thành pháp lữ, nghĩa là người đang chống phá,

* Trang 186 *
device

họ vụt đổi ý thành giúp đỡ, nếu chúng ta đúng như pháp tu hành. Điển hình như bác sĩ Cầm xưa kia đưa người đến dẹp chùa Ấn Quang lúc còn là chùa lá. Nhưng ông không dám phá, mà lại cấp giấy phép xây dựng chùa. Theo tôi, lúc bấy giờ ở chùa Ấn Quang chư Tăng trụ pháp, vững niềm tin ở Phật, nên nhận được lực gia trì rất lớn của Phổ Hiền Bồ tát. Quả thật, những người chống phá Phật giáo đã trở thành người bảo trợ Phật học đường Nam Việt thời ấy. Thiết nghĩ gặp ma phá, chúng ta nhiếp tâm tu, tin tưởng ở lực gia trì của Đức Phật và Bồ tát, thì thuận nghịch đều là duyên, ma sẽ trở thành pháp lữ.
Trường hợp thứ hai được Phổ Hiền Bồ tát gia bị là nếu người chất phác, có tánh ôn hòa, học kinh Pháp Hoa mà không hiểu nghĩa lý sâu xa, nên ngồi suy nghĩ thường trú Pháp thân, Ngài sẽ ân cần hiện hình dạy bảo. Người có tánh nhu hòa, hiền lành, không chấp việc sai trái của người, nhưng họ chưa hiểu nghĩa kinh sâu sắc. Họ chỉ cần ngồi yên suy nghĩ thường trú Pháp thân, nghĩa là tin tưởng, nghĩ rằng Phật sanh thân không còn, nhưng Pháp thân Phật bất sinh bất diệt, thường trú vĩnh hằng. Đức Phật vẫn hiện hữu trong ta, trên ta và xung quanh ta.
Tâm chúng ta nghĩ đến Đức Phật, ở trong thế giới Phật, lần lần thế giới mà chúng ta sống cũng an lành theo, là an từ trong tâm lẫn đến phát triển thế giới bên ngoài an lành. Điều này thể hiện rõ nét khi các bậc chân tu chỉ có tấm lòng, nhưng từ đó mà chùa chiền và quyến thuộc được phát triển.

* Trang 187 *
device

Sống chân thật và chuyên nghĩ đến Đức Phật thường trú Pháp thân, Phật lực ảnh hưởng đến chúng ta, chuyển chúng ta thành Pháp thân Phật. Bấy giờ, người nhìn thấy ta, họ nghĩ đến Phật và phát tâm. Thấy ta mà người chưa phát tâm là tự biết tâm chúng ta chưa ngay thật diệu hòa.
Đó là cánh cửa thứ hai của Phổ Hiền mở ra cho tâm trí chúng ta bừng sáng về Pháp Hoa. "Pháp” thì thậm thâm vi diệu và "Hoa” là tinh khiết. Phải nương lực Phổ Hiền gia bị, tâm chúng ta trong sáng mới hiểu biết "Diệu Pháp” mà không cần suy nghĩ, biết bằng trực giác.
Và nguyện thứ ba của Phổ Hiền là khi chúng ta tu hành không an ổn, nên nhập thất 21 ngày tu quán Phổ Hiền. Đây là phương tiện ban đầu giúp chúng ta tập sự thâm nhập thế giới tâm linh. Phổ Hiền dạy chúng ta nên ngồi suy nghĩ thường trú Pháp thân Phật; nghĩa là trụ định, rời bỏ thế giới sai biệt này và tâm hoàn toàn lắng yên đến quên mình có mạng sống này, quên thân phận nghèo, dốt, dở, hay gọi là vong ngã. An trụ Thiền định, quán sát thường trú Pháp thân, để nhận biết được Đức Phật từ đâu đến trần gian này và vắng bóng trên cuộc đời, Ngài đi về đâu, thì Phổ Hiền Bồ tát sẽ ân cần hiện hình dạy bảo. Trong thế giới Thiền định mới có Phổ Hiền xuất hiện làm bạn trợ lực chúng ta.
Bấy giờ, sẽ thấy Bồ tát Phổ Hiền cởi voi trắng sáu ngà đến đưa chúng ta lên Đâu Suất Đà thiên nghe Di Lặc thuyết pháp. Nhận được pháp của Bồ tát Di Lặc truyền trao, thì trở lại nhân gian, chúng ta có tầm nhìn siêu xuất. Điển hình là Ngài Vô Trước được Đức Phổ Hiền đưa lên cung trời Đâu Suất nghe Di Lặc Bồ tát

* Trang 188 *
device

thuyết pháp và trở lại nhân gian, Ngài viết bộ Bách pháp luận, lý giải mọi sinh hoạt trên cuộc đời không thuần như trên Pháp tánh, mà gồm có 8 thức tâm vương, 51 tâm sở, 6 căn bản phiền não, 20 tùy phiền não và 24 bất tương ưng hành pháp. Cuộc đời Ta bà thì có bách pháp, còn trong Thiền định thì không có những thứ lăng xăng lộn xộn này.
Thanh lọc nội tâm vắng lặng hoàn toàn, Đức Phổ Hiền giúp chúng ta đến Di Lặc Bồ tát, nghe 100 pháp trong cuộc sống, để không phạm sai lầm và chuyển hóa tám thức của con người khổ đau thành bốn trí của bậc giác ngộ, tâm gương chúng ta trong sáng, thấy biết chính xác mọi sự việc và thành tựu những việc khó làm.
Bồ tát Phổ Hiền phải trải qua vô lượng kiếp mới thành tựu được mười đại hạnh. Chúng ta tu Pháp Hoa chỉ làm ba việc như trên cũng được Bồ tát Phổ Hiền gia bị, trao lực cho chúng ta thì việc của chúng ta là việc của Đức Phổ Hiền, nên đạt được thành quả phi thường, vượt ngoài sức người. Tâm thanh tịnh, tiếp nhận được lực gia bị của Bồ tát Phổ Hiền, chúng ta tu tạo công đức rất nhanh, nhưng phạm sai lầm, thì một việc nhỏ cũng không thành là biết Phổ Hiền không gia bị cho ta nữa.
Nương lực Bồ tát Phổ Hiền, được dạo chơi mười phương thế giới Phật, thì tuy vẫn hiện hữu ở trần gian này nhưng việc ăn, mặc, ngủ nghỉ không còn chi phối chúng ta; trái lại chúng ta luôn sống trong Thiền định, sống trong thế giới Phật. Được như vậy, khi mãn duyên Ta bà, chúng ta nhẹ nhàng về với Phật.

* Trang 189 *
device

Tôi tâm đắc hạnh Phổ Hiền, nghĩ đến Ngài tôi cảm nhận an lành vô cùng. Thật vậy, tu ở Ta bà gặp nhiều nguy hiểm, nhưng được Bồ tát Phổ Hiền thần thông tự tại, oai đức vô song thủ hộ, Ngài thừa sức che chở chúng ta, thì chẳng còn gì để sợ. Chúng ta chưa đủ sức tin lời Phật dạy và thần lực của Bồ tát, mới khiếp sợ. Đủ niềm tin vững mạnh, sợ hãi biến mất, tôi bắt đầu quán sát việc của Đức Phật, của Bồ tát để tạo mối quan hệ giữa tôi và các Ngài, như vậy mới an được.
Tóm lại, trụ pháp sẽ nhận được ba điều căn bản mà Ngài Phổ Hiền luôn gia bị để chúng ta thấy Đức Phật, hiểu nghĩa lý kinh và vượt được mọi chướng duyên trên bước đường tu, tiến đến Bảo sở.
Trì tụng Pháp Hoa, chúng ta cần suy nghĩ, tìm hiểu hành trạng của chư vị Bồ tát. Học theo hạnh nguyện của các Ngài, tâm hồn chúng ta sẽ giống các Ngài; suy nghĩ giống và áp dụng được hạnh đức của các Ngài thì hành động và việc làm của chúng ta cũng giống các Ngài. Học hạnh Bồ tát để tự trang nghiêm thân tâm như vậy, chúng ta sẽ thành tựu công đức, là người khách quý mà chúng sinh hằng mong đợi.

* Trang 190 *
device

 
Cương Yếu Kinh Pháp Hoa