LOGO VNBET
Ý nghĩa
PHẨM BỒ TÁT TÙNG ĐỊA DŨNG XUẤT THỨ 15
 Mở đầu phẩm này, chúng ta thấy các Bồ tát mười phương xin hoằng truyền kinh Pháp Hoa ở Ta bà sau khi Như Lai diệt độ. Nhưng Đức Phật Thích Ca từ chối lời thỉnh cầu này và nói rằng tại Ta bà đã có vô số Bồ tát sẽ thay thế Phật hoằng truyền kinh Pháp Hoa sau khi Ngài diệt độ.
Di Lặc Bồ tát đứng đầu Bồ tát mười phương mới hỏi Đức Phật rằng từ trước tới nay, ở đây không thấy Bồ tát nào, sao Đức Phật lại nói như vậy. Liền lúc đó, đất đều rúng nứt và vô số Bồ tát Tùng địa dũng xuất từ đất vọt ra.
Đọc đoạn này, chúng ta bắt đầu suy nghĩ về Bổn môn Pháp Hoa; có thể nói rằng Phật giáo chúng ta dù sao sinh hoạt chính yếu vẫn là tôn giáo. Khởi đầu, Phật giáo Nguyên thủy lấy đạo đức là chính, nhưng qua Đại thừa, hướng sinh hoạt là kết hợp cuộc sống đạo đức và tín ngưỡng tâm linh, mới hình thành Pháp Hoa.
Bồ tát mười phương đến nghe Đức Phật thuyết pháp và phát nguyện truyền bá kinh Pháp Hoa. Trong khi trên thực tế, chúng ta thấy Đức Phật Thích Ca có bốn chúng là Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu bà tắc và Ưu bà di. Nhưng theo Pháp Hoa, bốn chúng nhập lại thành một chúng là Bồ tát, có Bồ tát tại gia và Bồ tát xuất gia. Bồ tát lấy

* Trang 127 *
device

việc phát huy trí tuệ và đạo đức là chính yếu, thì tùy theo trình độ tu chứng của mỗi người mà có trí tuệ và đạo đức lớn nhỏ khác nhau. Trí Giả đại sư ví tất cả đệ tử Phật đều là hoa sen, có cái mới nảy mầm, có cái còn trong bùn, có cái lên khỏi mặt nước... Mỗi người tu một cách khác nhau, nhưng muốn có kết quả tốt đẹp, phải đi vào thật tướng, tức là chấp nhận vị trí thật sự của mình để từ đó tiến tu lên; rời bỏ chỗ phát xuất của mình mà cố phát triển chỉ là đi tìm lông rùa sừng thỏ.
Đối với cách sắp xếp của chúng ta, Tỳ kheo đứng đầu bốn chúng và Ưu bà di đứng cuối, nhưng trong phẩm Đề Bà Đạt Đa của kinh Pháp Hoa, lại đưa Long Nữ lên vị trí cao nhất, vừa là nữ giới vừa là trẻ nhỏ mới 8 tuổi, thậm chí là loài rồng, mà Long Nữ thành Phật trong chớp mắt. Điều này nói lên cốt tủy của Pháp Hoa là tinh thần bình đẳng tuyệt đối trên thật tướng hay trên chân lý, vì không có sự đối đãi già trẻ, nam nữ, thông minh hay trí kém...; cho nên vấn đề giới tánh không quan trọng, cốt lõi bên trong là Phật tánh mới chính yếu. Long Nữ phát huy và vận dụng được Phật tánh một cách trọn vẹn, nên thành Phật.
Theo Pháp hoa, Bồ tát là chính yếu. Bồ tát có Bồ tát nhân gian, Bồ tát mười phương và Bồ tát tâm. Nhân gian Bồ tát là Bồ tát ở thế gian mang thân người, phát tâm Bồ đề, tu hạnh Bồ tát, cứu nhân độ thế. Bồ tát mười phương như Phổ Hiền ở phương Đông, Quan Âm ở phương Tây đến Ta bà. Bồ tát mười phương là Bồ tát tâm linh, đến với Đức Phật bằng tâm nguyện, hạnh nguyện. Đức Phật Thích Ca thuyết Pháp Hoa ở Ta bà, nhưng Bồ tát Phổ Hiền ở thế giới phương Đông có cùng

* Trang 128 *
device

tâm nguyện, cùng hạnh nguyện với Đức Phật, nên tương thông với Phật, đến với Phật bằng tâm, gọi là Bồ đề tâm. Nếu là xác thân con người mà tụ họp đông người liền có chướng ngại, nhưng Bồ tát tâm, hay Bồ đề tâm thì trong một vi trần dung chứa được vô số Bồ tát, có vô số quốc độ không hề chướng ngại.
Mở đầu hội Pháp Hoa chỉ có hai vạn Bồ tát, nhưng đến phẩm 15 có bát thập vạn ức na do tha Bồ tát. Nghĩa là Đức Phật trải qua suốt 49 năm giáo hóa chúng sinh, làm nhiều việc lợi ích cho đời, thì số người tốt hiểu Ngài, kính mến Ngài, quy ngưỡng Ngài đông hơn, nên Ngài thành tựu nhiều việc độ sinh lớn hơn.
Bát thập vạn ức na do tha Bồ tát đến xin Đức Phật rằng sau khi Như Lai diệt độ, các Ngài sẽ truyền bá kinh Pháp Hoa là tư tưởng nhất Phật thừa. Tại sao Bồ tát mười phương lại phát nguyện như vậy. Trong phẩm Trì thứ 13, chúng ta thấy các vị Bồ tát mới phát tâm xin truyền bá kinh Pháp Hoa ở các nước nào có Phật, các Ngài không dám truyền bá Pháp Hoa ở Ta bà, vì sợ không đủ đạo lực, không kham nổi những người tệ ác, gọi chung là ba hạng tăng thượng mạn gồm có tục chúng tăng thượng mạn, đạo môn tăng thượng mạn và tiếm Thánh tăng thượng mạn. Tục chúng tăng thượng mạn là người ở ngoài Phật pháp thường chống phá người theo đạo Phật. Đạo môn tăng thượng mạn là người xuất gia tu hành nhưng tâm niệm ích kỷ, ganh tỵ nên thích phá hại người chân tu và tiếm Thánh tăng thượng mạn là người tu lâu nhưng có nhiều việc tệ ác. Đối trước sự chống phá của ba hạng tăng thượng mạn như vậy, làm sao truyền bá tư tưởng nhất Phật

* Trang 129 *
device

thừa. Các Thanh văn nguyện rằng Đức Phật sinh chỗ nào thì họ sinh theo hỗ trợ Ngài. Đức Phật còn tại thế, họ ở đây, nhưng Đức Phật Niết bàn, họ vào núi tu, không dám ở đây.
Bồ tát mười phương thấy các Bồ tát mới phát tâm không dám truyền bá kinh Pháp Hoa ở Ta bà, nên các Ngài mới phát nguyện truyền bá kinh này sau khi Đức Phật diệt độ. Nhưng Đức Phật cũng từ chối lời thỉnh cầu của Bồ tát mười phương.
Đức Phật dạy rằng các vị Bồ tát mười phương thuộc Pháp thân, Báo thân, hóa thân, không phải là sanh thân và không có nghiệp chủng tử của chúng sinh; cho nên cấu trúc cơ thể của các Bồ tát mười phương, cùng suy nghĩ và cách sinh hoạt của các Ngài hoàn toàn khác với Ta bà. Từ các Tịnh độ hoàn hảo thật sự, nghĩa là thân tâm thanh tịnh, tinh khiết hoàn toàn, nếu sinh lại thế giới Ta bà phải mang thân tứ đại, tất nhiên phải chịu sự chi phối của quy luật sinh già bệnh chết, lại thêm chịu sự tác động của xã hội, của phong tục, tập quán, v.v... nghĩa là chồng chất thêm sự ràng buộc nữa, e rằng không đủ sức chịu đựng.
Đức Phật khuyên Bồ tát mười phương chỉ nên đến Ta bà để biết thêm về cuộc sống của các loài hữu tình ở trong thế giới ngũ trược mà thôi, chứ các Ngài không thể thay Phật giáo hóa ở Ta bà. Nghe lời Đức Phật giải thích như vậy, các vị Bồ tát mười phương nhận ra rằng hành đạo ở Ta bà phải có sức kham nhẫn lớn lao như các vị đại Bồ tát là Quan Âm mới có khả năng ở ngay Ta bà cứu độ chúng sinh, hoặc Bồ tát Địa Tạng mới đủ sức vào địa ngục cảm hóa tội nhân.

* Trang 130 *
device

Sau đó, Đức Phật bảo các Bồ tát mười phương yên tâm vì ở Ta bà đã có vô lượng Bồ tát hoằng truyền kinh Pháp Hoa, không thể thấy được bằng mắt thường và ngay cả Bồ tát Di Lặc cũng không thấy biết các vị này; đó là sáu muôn hằng hà sa Bồ tát Tùng địa dũng xuất chỉ thấy được bằng Phật huệ. Đến đây, Đức Phật mở ra cho chúng ta cái nhìn về mặt siêu hình hay mặt tâm linh là mặt thật của cuộc đời; đừng thấy mặt hiện tượng sinh diệt là mặt giả tạm. Tu Pháp Hoa phải dùng tâm quán sát sự vật, hướng về nội giới, không dùng mắt thường, không chấp vào văn tự, vì sẽ phạm nhiều sai lầm. Một vấn đề chúng ta không thể giải quyết ổn thỏa chỉ ở mặt hiện tượng vật chất, nhưng phải giải quyết về tình cảm, về xã hội, về tâm linh mới quan trọng.
Nhìn về siêu hình, như Đức Phật Thích Ca đã dạy rằng, Ngài thành Phật từ vô lượng kiếp, vì thương nhân gian mà Ngài hiện thân lại thế gian này, mang thân người. Tuy có thân người, nhưng Ngài không có tâm nhiễm ô tội lỗi như mọi người, vì Đức Phật đã đoạn sạch nghiệp, cho nên Ngài khác với chúng ta. Đức Phật sống gần gũi chúng ta, nhưng bên trong Ngài quan hệ với chư Phật và chư Bồ tát trong mười phương. Đức Phật cũng xác định rằng ban ngày Ngài giảng dạy các Tỳ kheo, ban đêm Ngài thuyết pháp cho chư Thiên và Bồ tát, cũng như liên lạc với chư Phật trong khắp Pháp giới. Như vậy, tâm Phật quan hệ với Bồ tát, La hán, chư Thiên; còn thân hữu hình của Ngài thuyết pháp giáo hóa chúng ta. Từ đó, chúng ta thấy Đức Phật là thấy sắc thân Ngài và Đức Phật cũng tùy thuận với hoàn cảnh của chúng ta mà thuyết pháp giáo hóa. Có

* Trang 131 *
device

thể nói tuy Đức Phật sống với chúng ta, Ngài vẫn thấy thế giới sinh diệt này là giả tạm và thật sự tâm Ngài vẫn sống với thế giới vĩnh hằng bất tử. Và Đức Phật cho biết quyến thuộc thân cận với Ngài có đến sáu vạn hằng hà sa Bồ tát Tùng địa dũng xuất đóng vai trò quan trọng hơn cả; trong khi loài người thấy Đức Phật đơn độc một mình dưới cội Bồ đề.
"Đức Phật vừa mới dứt lời, ba ngàn thế giới rung động sáu cách, vô số Bồ tát bỗng nhiên xuất hiện. Các Bồ tát này thân màu hoàng kim...”
Tôi suy nghĩ ý này rất lâu. Chúng ta tu hành cứ nghĩ Ta bà là biển khổ; vì chúng ta có tâm trạng và suy nghĩ như vậy, nên hiện lên thế giới khổ đau theo nghiệp thức khổ đau của chúng ta. Tâm chúng ta nghĩ người xấu, thì người phải xấu với chúng ta và tất cả mọi người trên cuộc đời này cứ phá hại nhau theo cách suy nghĩ xấu, theo tâm xấu đó. Nhưng Đức Phật thì trái lại, Ngài đắc đạo, tâm Phật hoàn toàn thánh thiện, thân Ngài phước lành vô tận, đến nơi nào Đức Phật cũng cứu khổ ban vui cho mọi người. Đức Phật đã thể hiện phương cách sống chuyển hóa từ tâm cho đến hành động, từ Bồ tát tâm biến thành Bồ tát hạnh khiến cho người người thương quý Đức Phật và tác động cho người hung ác như vua A Xà Thế, hoặc người tội lỗi như Vô Não phải buông bỏ vũ khí để trở thành Phật tử. Sự xuất hiện của Đức Phật trên cuộc đời vô cùng thánh thiện như vậy, đã làm thay đổi cách suy nghĩ và việc làm của mọi người thật sự tốt đẹp mà kinh diễn tả là ba ngàn thế giới rung động sáu cách.
Từ tâm tốt và hạnh tốt, làm những việc có ý nghĩa,

* Trang 132 *
device

lợi ích cho đời, cho đạo sẽ khiến những người có cùng suy nghĩ tốt, muốn làm việc tốt tìm đến hợp tác với chúng ta; đó chính là ý nghĩa vô số Bồ tát xuất hiện. Như vậy, Bồ tát này phát xuất từ tâm, từ hạnh của chúng ta. Cuộc đời giáo hóa độ sinh của Đức Phật thể hiện rõ ý này. Đại đệ tử của Đức Phật như Xá Lợi Phất Mục Kiền Liên tu theo đạo thần lửa, Ca Diếp theo đạo thần rắn, Ca Chiên Diên là chiêm tinh gia, nói chung phần lớn họ theo ngoại đạo; nhưng Đức Phật đã chuyển hóa họ thành Thánh La hán. Tại sao Đức Phật giáo dục được nhanh như vậy. Đức Phật cho biết từ khi Ngài phát tâm Bồ đề, tu Bồ tát hạnh, tức làm việc mang an vui, lợi ích đến cho người, thì những vị đệ tử này đã là quyến thuộc của Đức Phật, từng đồng hành, đồng sự trong quá khứ với Ngài. Nói cách khác, họ đã tu tạo phước đức trí tuệ dưới sự chỉ dạy của Đức Phật, cho nên hiện đời họ xuất hiện với tư cách ưu việt, thành tựu được những việc khó làm. Họ tiến tu nhanh vì cái gốc đã là người tu nhiều đời rồi, như Xá Lợi Phất đã theo Phật 60 tiểu kiếp, nên nhìn thấy Phật là đắc quả A la hán liền, hoặc Mục Kiền Liên xưa là ngũ thông tiên nhân, nay gặp Phật tu một ngày thôi là đắc La hán. Điều này nhằm nhắc nhở chúng ta tu hành phải tạo nhân tốt thì tái sinh, chúng ta sẽ có thành quả tốt.
Trong cuộc sống con người, có quan hệ vật chất và quan hệ vô hình. Quan hệ vô hình của mọi người còn trong sinh tử là quan hệ bằng tâm thức đầy phiền não, nhiễm ô, xấu ác, cho nên chúng sinh luôn đau khổ. Quan hệ vô hình của Đức Phật Thích Ca là mối tương quan với chư Phật, chư Bồ tát và với tất cả chúng

* Trang 133 *
device

sinh đều bằng tâm sáng suốt, thanh tịnh, giải thoát; cho nên mọi việc, mọi người đối với Đức Phật tốt đẹp vô cùng. Tâm Phật hoàn toàn thanh thản, Ngài mới hiện ra tướng hoàn toàn giải thoát. Đức Phật thanh thản, vì Ngài biết rõ mọi việc tận nguồn ngọn, vì phước đức vô lượng Ngài đã tạo rồi, vì nhân lành của Ngài đã viên mãn, không ai có thể hại Ngài, thì còn gì để lo sợ, buồn giận. Phải thấy trí giác và phước đức của Đức Phật hoàn hảo như vậy, đừng thấy Ngài là người bình thường và cũng phải thấy mối quan hệ của Đức Phật ở mặt siêu hình hoàn toàn an ổn tốt đẹp. Chính vì lực bên trong thuần thiện như vậy, cho nên Đức Phật đến nơi nguy hiểm giáo hóa, Ngài vẫn bình an. Điển hình như vua A Xà Thế thả voi say hại Phật, hoặc giáo chủ thờ thần rắn là Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp thả rắn độc giết Phật, vẫn không hại được Ngài, mà voi và rắn còn phủ phục dưới chân Đức Phật. Đức Phật bình yên đối trước tình huống không yên chút nào, vì đã có lực bảo vệ của thế giới vô hình, gần nhất là có Thiên long bát bộ đối phó, bảo vệ Ngài. Vòng ngoài bảo vệ Phật an toàn như vậy, còn chính bản thân Đức Phật vẫn luôn an nhiên tự tại, vì với huệ nhãn, Ngài thấy rõ tất cả mọi việc đều được giải quyết ổn thỏa; có người gây rối thì cũng có người đến bảo vệ Ngài.
Đối với chúng ta quyết tâm tu theo Phật cũng sẽ nhận được lực gia hộ, mà chúng ta thường gọi là Phật hộ niệm rất quan trọng. Tôi luôn nghĩ rằng nếu không được Phật hộ niệm thì tôi không làm được gì cả. Điều dễ thấy là khi chúng ta có tấm lòng hy sinh vì đạo, chắc chắn sẽ được chư tôn đức quý trọng và

* Trang 134 *
device

anh em bạn cũng không ganh tức với ta, vì ta hy sinh; còn tranh giành quyền lợi thì người phải ghét. Có thể nói được Tăng Ni, Phật tử ủng hộ thì chúng ta sẽ được Phật hộ niệm.
Tôi nghĩ rằng khi ta quyết lòng và phát tâm sống chết với đạo, Phật lực mới gia bị và có Đức Phật hộ niệm thì mọi việc đều tốt lành. Phát nguyện hành Bồ tát đạo, tức có tâm tương ưng với Phật, mới nhận được sự mật tá của Ngài. Tôi thường lạy Bồ tát Tùng địa dũng xuất và cầu nguyện các Ngài thầm giúp cho tôi. Các Ngài muốn làm việc cứu nhân độ thế và tôi tình nguyện làm thì xin các Ngài trợ giúp.
Đức Phật cho biết có sáu vạn hằng hà sa Bồ tát Tùng địa dũng xuất mà dẫn đầu là bốn vị Bồ tát thượng thủ : Thượng Hạnh, Vô Biên Hạnh, Tịnh Hạnh và An Lập Hạnh. Các vị đại Bồ tát này thay Đức Phật giáo hóa chúng sinh ở Ta bà, nên Đức Phật không bận tâm. Mỗi vị dẫn theo vô số quyến thuộc đồng hạnh đồng nguyện, nghĩa là tất cả những vị này làm việc gì thì đều cùng đồng lòng chung sức, nên việc khó cũng trở thành dễ. Chúng ta không làm được việc, vì chín người mười ý; thậm chí có người không làm mà chỉ chuyên chống phá.
Các vị Bồ tát Tùng địa dũng xuất tiêu biểu cho đạo đức, tri thức và năng lực vẹn toàn, thể hiện qua "thân kim sắc”, tức không có chút tỳ vết nào có thể chỉ trích được. Đức Phật chọn Bồ tát Thượng Hạnh làm quyến thuộc đứng đầu, ta cũng theo gót chân vị Bồ tát này, phát tâm làm việc khó làm và làm với tất cả tấm lòng, vô điều kiện, chắc chắn Đức Phật sẽ chọn và bổ xứ ta. Trên bước đường hành đạo, đến nơi nào, cũng phải vượt

* Trang 135 *
device

trội hơn người về hiểu biết, sức khỏe, năng lực, việc làm, chắc chắn chúng ta dạy họ dễ dàng, thay Đức Phật truyền bá tư tưởng Phật thừa; đó chính là ý nghĩa thượng hạnh. Còn họ cho chúng ta ăn và xem thường chúng ta làm sao truyền bá pháp Phật.
Vị Bồ tát thứ hai được Đức Phật chọn là Vô Biên Hạnh, tức Bồ tát đa năng, làm việc gì cũng được, làm không câu nệ, không đòi hỏi, không lựa chọn công việc. Ở lãnh vực nào cũng ứng xử một cách tốt đẹp là đa năng theo Đại thừa. Đức Phật lãnh đạo được tất cả thành phần xã hội, thể hiện tinh thần đa năng một cách siêu tuyệt, nên Ngài làm thầy của chư Thiên, vua chúa, Tỳ kheo, Bồ tát... Còn chỉ có một hạnh là Độc giác hay Thanh văn, không phải Phật. Riêng chúng ta thể hiện sự đa năng, hiểu biết rộng, làm được nhiều việc, tuy không giỏi, nhưng chúng ta có nhiều cơ hội để làm. Có thể nói ở giai đoạn đa năng nhiều lãnh vực, xã hội cũng cần chúng ta, khi sinh hoạt của cộng đồng chưa đạt tới mặt chuyên.
Bồ tát ở vị trí thứ ba là Tịnh Hạnh chỉ cho Bồ tát sống trong chánh định, không nương phúc lợi thế gian để sống; nói cách khác, không cần tiếng khen và lợi dưỡng. Đặc điểm của Bồ tát Tịnh Hạnh là dấn thân hành đạo, chịu cực mà không đòi hỏi lợi lộc gì, lúc nào tâm Bồ tát cũng an tịnh, ôn hòa, trong sạch, không có lỗi lầm nên được Đức Phật chọn làm quyến thuộc của Ngài.
Thứ tư là Đức Phật chọn Bồ tát An Lập Hạnh, tức làm việc theo yêu cầu của nhiều người, không từ nan, không yêu sách. Nhiều người giỏi, nhưng không làm được việc vì đòi phải giao cho chức này, việc nọ mới làm.

* Trang 136 *
device

Chúng ta nên tập bất cứ yêu cầu nào của đạo pháp, của xã hội, cũng sẵn lòng. Và theo kinh nghiệm riêng tôi, năng lực cao mà làm việc thấp thì thừa sức, dễ thành công; chỉ sợ năng lực ta kém mà làm việc lớn là tự chuốc họa cho mình. Được giao nhiệm vụ và hoàn thành thì còn danh dự hơn là chức lớn mà không làm được việc. Được việc nhỏ, thì người mới giao việc lớn.
Đức Phật chọn Bồ tát làm việc là Bồ tát ẩn danh hay vô hình, tức không cần danh lợi. Đặc tính này được kinh Pháp Hoa diễn tả là Bồ Tát Tùng địa dũng xuất không nương Trời người. Bồ tát còn cần danh lợi thì còn nương Trời người. Đức Phật làm được việc lớn vì Ngài có quyến thuộc là những Bồ tát siêu việt đông vô số thầm trợ giúp Ngài, thì việc gì mà không thành. Đây là điểm quan trọng mở ra cho chúng ta nhận chân được con người thật của Đức Phật.
Đến hội Pháp Hoa, Đức Phật mới giới thiệu những quyến thuộc siêu đẳng là bốn vị Bồ tát Tùng địa dũng xuất thượng thủ : Thượng Hạnh, Vô Biên Hạnh, Tịnh Hạnh, An Lập Hạnh và sáu vạn hằng hà sa Bồ tát Tùng địa dũng xuất mà cả Trời người đều không biết, thậm chí Bồ tát Di Lặc cũng không biết. Vì vậy các Ngài là Bồ tát nội bí ngoại hiện, nghĩa là bề ngoài các Ngài bình thường, nhưng bên trong phi thường, mới làm được việc lớn.
Thực tế, chúng ta thấy những người không làm được nhưng khoe khoang đủ thứ. Hạng ưa kể công này nên bỏ đi, không sử dụng được. Hạng thứ hai là Bồ tát nhỏ làm việc nhỏ và làm được việc gì thì mọi người đều biết. Người biết rõ khả năng và bản tánh ta, họ biết ta mà ta chưa biết họ, nên ta chỉ làm được việc nhỏ.

* Trang 137 *
device

Hạng thứ ba là Bồ tát nội bí ngoại hiện, làm tất cả, nhưng người không biết vì làm âm thầm, không cầu danh. Bồ tát không tự xưng rằng mình làm được việc này, việc kia, nhưng tìm người nào làm được thì Bồ tát giúp họ. Họ làm coi như Bồ tát làm và họ thành công cũng phát xuất từ sự giúp đỡ của Bồ tát, đó là thành công của Bồ tát Tùng địa dũng xuất.
Nói cho dễ hiểu, ví dụ tôi là Bồ tát nhỏ làm những việc như Trưởng ban Hoằng pháp, Tổng Biên tập Báo Giác Ngộ, Trưởng ban Trị sự Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh, v.v... ; đó là những chức vụ hữu danh mà ai cũng biết. Nhưng quan trọng là lực vô hình của Phật tác động, gia bị cho tôi làm được. Là nhà tôn giáo, chúng ta mới nhận chân được lực gia bị vô hình của Đức Phật và chư Bồ tát giúp chúng ta thành tựu những Phật sự đáng kể trong cuộc đời hành đạo. Ý thức như vậy, một mặt chúng ta nuôi dưỡng hạnh khiêm tốn, một mặt nỗ lực tiến tu để tạo được lực tác động của riêng mình, mới làm được việc lớn, cho đến tác động được muôn pháp trong vũ trụ là đạt quả vị Như Lai, vì Như Lai chuyển vật, còn chúng sanh thì bị vật chuyển. Như vậy, nếu có bốn Bồ tát Tùng địa dũng xuất thượng thủ là Thượng Hạnh, Vô Biên Hạnh, Tịnh Hạnh và An Lập Hạnh trợ lực từ thế giới siêu hình cho đến xuất hiện trong thực tế cuộc sống có sự hợp tác của bốn hạng người có khả năng vượt trội như vậy thì mọi việc của chúng ta thành tựu dễ dàng.
Đức Phật nói có Bồ tát mười phương đến giúp hay không, không thành vấn đề; vì những Bồ tát Tùng địa dũng xuất tự làm được, tức do công đức tu hành

* Trang 138 *
device

của chính mình mới quan trọng. Ý chính này được Đức Phật giải thích rằng hằng hà sa Bồ tát Tùng địa dũng xuấtdo chính Đức Phật giáo hóa sau khi Ngài thành Phật, tức đạt được sự hiểu biết chính xác và tâm thanh tịnh hoàn toàn, thấy được sự thật của sự vật mới giáo hóa được. Và trải qua vô lượng kiếp từ khi thành Phật đến nay, với phước đức và trí tuệ viên mãn đã có sẵn, với quyến thuộc và bạn bè trong vô hình tài đức siêu phàm, nay gặp lại trong hiện đời, những người tài giỏi, đức hạnh phát tâm theo Phật vô điều kiện, thì không có việc khó nào mà Đức Phật Thích Ca không thành tựu.
Còn chúng ta từ quá khứ cho đến ngày nay đã tạo quá nhiều oan gia, nay chúng ta mới phát tâm tu, họ nghe mình sắp đi xa theo Phật, nên vội vàng kéo tới đòi nợ. Trong thế giới sinh tử này, ta nợ người, người nợ ta; hôm nay họ chưa đòi được thì mai kia họ đòi. Chưa tu, không có vấn đề; nhưng phát tâm thật tu, đủ thứ rắc rối tìm đến, vì đã tạo nhiều nghiệp quá khứ. Những người hiện đời tu dễ dàng, vì bạn bè tốt trong quá khứ đã kết nối và nghiệp quá khứ không có, hoặc có ít.
Riêng Đức Phật từ khi thành Phật cho đến hiện đời giáng sinh ở thành Ca Tỳ La Vệ, đã giáo hóa biết bao người đi theo con đường thánh thiện, thì khi Ngài tái sinh lại cuộc đời này, những người tốt, người giỏi sinh theo làm quyến thuộc cùng hoằng dương chánh pháp với Ngài, hoặc thân cận, cúng dường, hộ pháp, bảo vệ Ngài.
Nhìn người đến với chúng ta mà tự biết được nghiệp duyên quá khứ của mình. Theo tôi, đối với nghiệp duyên quá khứ xảy đến, một là nhịn, hai là tránh

* Trang 139 *
device

mặt và ba là tránh lòng. Tránh mặt thì dễ, không gặp gỡ sẽ không đụng chạm, không buồn phiền; nhưng lỡ gặp, hay bắt buộc gặp thì không có cách gì tốt hơn là chịu thua họ, vì tranh cãi chỉ làm cho nghiệp mình tăng thêm mà thôi. Khi tránh mặt rồi, chúng ta tránh lòng; nghĩa là thấy họ, nhưng lòng chúng ta nghĩ đến Phật, nhiếp tâm niệm Phật để thay thế hình ảnh mà mình không bằng lòng. Và mặt đã tránh, lòng cũng không nghĩ đến người, giúp cho tâm chúng ta thanh tịnh. Chúng ta nuôi dưỡng quyến thuộc Bồ đề theo phương cách này và phát triển được càng nhiều quyến thuộc Bồ đề thì ác ma không làm gì được chúng ta. Đơn giản là xóa bỏ việc xấu ác bằng cách làm việc thiện lành, sẽ dẫn đến kết quả là thăng hoa mặt tốt càng lớn, mặt xấu tự động bị tiêu diệt.
Đức Phật Thích Ca trong vô số kiếp quá khứ đã dìu dắt nhiều người đạt được trí sáng suốt, năng lực và đức hạnh vô song, được tiêu biểu qua hình ảnh vô số Bồ tát Tùng địa dũng xuất trong thế giới siêu hình và thể hiện trên thực tế cuộc sống là 1250 vị Hiền Thánh đệ tử thân cận với Ngài trên bước đường giáo hóa độ sinh, xây dựng nên đạo Phật lợi lạc cho quần sinh, có giá trị vượt thời gian và không gian; cho đến thời hiện đại giáo pháp của Đức Phật vẫn còn là kim chỉ nam giúp cho nhân loại tạo dựng thế giới hòa bình, an lạc, hiểu biết, cảm thông, chia sẻ và phát triển. Đó chính là ý nghĩa mà Đức Phật muốn chỉ dạy qua hình ảnh Bồ tát Tùng địa dũng xuất.

* Trang 140 *
device

 
Cương Yếu Kinh Pháp Hoa