LOGO VNBET
Ý nghĩa
PHẨM PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC THỨ 17
PHẨM PHÁP SƯ CÔNG ĐỨC THỨ 19
 
Đức Phật dành đến ba phẩm: 17,18 và 19 nói về công đức của kinh Pháp Hoa. Điều này chứng tỏ công đức của kinh Pháp Hoa rất lớn. Nhiều vị cao Tăng cũng nhận xét rằng công đức của kinh Pháp Hoa nói không bao giờ cùng tận.
Bốn phẩm: 17, 18, 19 và 20 có thể dồn lại ý chính trong phẩm 17 Tùy hỷ công đức để chúng ta hiểu. Như vậy, cần biết yếu chỉ của phẩm 17 để chúng ta thực tập trong cuộc sống tu hành cho đạt kết quả tốt đẹp.
I - Ý NGHĨA PHẨM PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC
Mở đầu phẩm Phân biệt công đức, Đức Phật nói một câu hàm chứa nhiều nghĩa lý sâu xa mà chúng ta cần suy nghĩ : "Bấy giờ Đức Phật bảo Di Lặc Bồ tát khi Ngài diễn nói thọ mạng dài lâu của Đức Như Lai thì có vô số Bồ tát không thể tính đếm chứng được Vô sanh Pháp nhẫn, hoặc Văn trì đà la ni, nhạo thuyết biện tài, chuyển được pháp luân bất thối và phát đại tâm cầu Vô thượng đạo”.
Đức Phật diễn nói thọ mạng dài lâu của Đức Như Lai nghĩa là Ngài giới thiệu cho chúng ta Đức Phật vĩnh hằng bất tử, vì lâu nay, người ta chỉ nghĩ rằng Đức Phật

* Trang 157 *
device

sinh diệt, là Phật có sinh ra trên cuộc đời này và Ngài chết là hết. Những người chấp vào Phật sinh diệt và tu trên sinh diệt, hay còn gọi là tu trong chiêm bao, tức vướng mắc với thân tứ đại và tài sản này, thì dù có làm bất cứ việc gì và làm nhiều đến đâu, thì đến khi chết, thân tứ đại và tài sản cũng bỏ lại. Giống như chúng ta nằm mơ thấy mình bố thí thật nhiều, nhưng thức dậy chúng ta cũng vẫn là người nghèo khổ. Người nghèo này là con người thực của chúng ta trên cuộc đời; nhưng con người thực trên cuộc đời này lại là con người chiêm bao trên chân tánh, vì chúng ta mê trên chân tánh, mới bị nghiệp lực dắt dẫn vào cuộc đời sinh tử này. Có thể ví cuộc đời này là đại mộng, cho nên nhắm mắt lìa đời thì chỉ nắm tay không mà đi và giấc chiêm bao của chúng ta có thể ví là tiểu mộng, thức dậy, mọi việc trong chiêm bao liền hoàn không. Cả hai cùng là giấc mộng, chỉ khác nhau là giấc mộng dài, hay giấc mộng ngắn.
Kinh Pháp Hoa dạy chúng ta tu trên con người bất tử, tức tu trên chân tánh của chúng ta, đó là tu trên tỉnh, không phải tu trên mê. Tu trên mê thì làm việc này việc nọ, rồi tưởng là có công đức, nhưng thực tế ít người được công đức. Chính vì vậy mà Tổ Đạt Ma nói thẳng với vua Lương Võ Đế rằng ông xây 72 ngôi chùa kết thành quả báo đáng vào địa ngục vô gián. Vì ông cúng dường bố thí nhiều mà tạo thành lớp người lợi dụng chiếc áo tu để làm việc sai trái. Có những việc chúng ta cho rằng tốt, nhưng lại phản tác dụng, trở thành xấu; tu không có công đức là vậy.
Trở lại thực tế, việc tu hành của chúng ta phải nương theo lời dạy của Phật để tìm về Đức Phật vĩnh

* Trang 158 *
device

hằng bất tử. Có chìa khóa kinh Pháp Hoa mở cánh cửa bước vào thế giới chân thật, chúng ta không làm trên chiêm bao nữa, mà giữa ta và Đức Phật cùng Thánh chúng có mối tương thông sâu sắc. Nhật Liên Thánh nhân diễn tả cốt lõi này bằng hình ảnh mặt trời mọc thì Đức Phật xuất hiện, hoa sen nở ra vô số Bồ tát, nghĩa là mở ra thế giới Phật, chúng ta phải thâm nhập thế giới vĩnh hằng này và theo đó hành Bồ tát đạo thì công đức thật sự mới sinh ra. Thế giới siêu hình này không thấy bằng mắt, nhưng cảm tâm được với điều kiện tâm chúng ta thanh tịnh mới thấy Phật thọ mạng dài lâu; nếu không, chúng ta thấy toàn là những điều chán nản, thì dễ rời bỏ ngôi nhà Phật pháp.
Nghe Đức Phật nói về thọ mạng dài lâu của Đức Như Lai làm chúng ta nhận ra được thọ mạng vô cùng vô tận của Ngài và thọ mạng của tâm chúng ta cũng vô cùng vô tận. Nghĩa là từ vô thỉ kiếp cho đến mãi về sau, con người tâm linh chúng ta không thay đổi, dù chúng ta mang nhiều sắc thân khác nhau. Thân thay đổi, nhưng chơn tâm không đổi. Thân ví như chiếc áo của tâm, hay cái nhà của tâm. Chúng ta chỉ thay đổi chiếc áo hay đổi nhà ở mà thôi.
Theo Phật, Bồ đề tâm là trên hết, cho nên đạo Phật gọi là đạo của trí tuệ. Kinh Pháp Hoa cho chúng ta Bồ đề tâm là cho trí tuệ để chúng ta nhận ra được tốt xấu của cuộc đời và tâm Bồ đề mới giúp chúng ta thông với Phật, hiểu Phật. Không thấy Phật bằng tâm Bồ đề thì nói Phật nhập diệt. Nhưng đối với chúng ta, Đức Phật luôn có trong lòng chúng ta, mới làm tâm chúng ta sáng lên và công đức theo đó sinh ra. Không

* Trang 159 *
device

phát tâm Bồ đề, hay không có tâm Bồ đề, tâm chúng ta hoàn toàn mờ tối, thì dù có tu bất cứ pháp gì cũng như tu trong chiêm bao.
Khi Đức Phật nói thọ mạng dài lâu là thế giới thật, sự giáo hóa thật của Ngài, thì có vô số Bồ tát chứng VÔ SANH PHÁP NHẪN, tức xa lìa trần cấu, không bị thế giới vật chật chi phối; tuy còn mang thân người, nhưng tâm hồn họ hoàn toàn trong sáng, ở hoàn cảnh nào họ cũng an vui tự tại. Vì họ đang sống với con người thật, giữa họ và Phật cùng Thánh chúng có mối tương quan mật thiết với nhau, cho nên họ không bận tâm đến con người sinh diệt. Thực tế chúng ta thấy khi say mê đọc sách, tham Thiền, có đời sống tâm linh mãnh liệt thì dễ dàng quên đói, quên tất cả phiền muộn.
Chứng Vô sanh pháp nhẫn, đã xa rời mọi ràng buộc của cuộc đời, tiến sang bước thứ hai được VĂN TRÌ ĐÀ LA NI, nghĩa là Đức Phật nói gì, người nghe nhớ không sót, nhờ ghi nhận bằng tâm thanh tịnh. Còn đa số chúng sinh tâm điên đảo vọng tưởng, trong đầu đầy ắp dữ kiện, trần cấu quá nặng, cho nên không tiếp nhận được Phật pháp. Văn trì đà la ni rất cần thiết, nghe một lần và nghe bao nhiêu pháp Phật cũng nhớ đủ. Ngoài ra, còn có TRIỀN ĐÀ LA NI là khi chúng ta nghe pháp, hay nhìn tượng Phật, thì lời pháp và hình ảnh Phật vẫn luôn tác động tâm trí chúng ta. Vì thế, dù không tụng kinh, không nghe pháp, không đối trước tượng Phật, nhưng lời pháp vẫn văng vẳng bên tai, tượng Phật vẫn mường tượng trong đầu. Chứng được Triền đà la ni và Văn trì đà la ni để đem pháp Phật vào tâm lưu giữ mới rửa sạch được phiền não trần lao

* Trang 160 *
device

nghiệp chướng. Được như vậy, trần duyên thuận nghịch tâm không thiết, vì tâm đã có Phật pháp ngự trị rồi, những thứ bên ngoài không đưa vào được, không nhớ, không làm phiền não, rất dễ tiến tu.
Nghe thọ mạng dài lâu của Phật, vào thế giới Phật, hành giả cũng được NHẠO THUYẾT BIỆN TÀI, nhờ Phật huệ rọi, tất cả pháp cần giảng dạy tuôn chảy không cùng như dòng thác, thuyết pháp suốt cuộc đời cũng không hết ý. Và hành giả CHUYỂN ĐƯỢC PHÁP LUÂN BẤT THỐI, tương đương với đệ bát địa theo kinh Hoa Nghiêm. Từ đệ thất địa trở về trước là Thánh, nhưng vẫn còn thoái chuyển. Bồ tát đệ bát địa đã xả "Thức”, "Thức” hoàn toàn thanh tịnh. Riêng chúng ta nếu qua được cánh cửa Không, tâm thật sự thanh tịnh, thâm nhập Phật huệ, thì không tha thiết cuộc đời này nữa, làm gì trở lại cuộc đời. Người tu đạt được chuyển pháp luân bất thoái chuyển là không phải mình không thoái chuyển, nhưng làm cho người khác phát tâm tu không thoái chuyển.
Khi Đức Phật nói phẩm Như Lai thọ lượng, một số Bồ tát lớn chứng được các pháp như vậy. Đức Phật vừa nói dứt lời thì trời mưa hoa cùng bột chiên đàn và các thiên y, bảo ngọc như ý, trân châu ma ni để cúng dường Đức Phật và hàng tứ chúng. Điều này muốn nói rằng người nghe pháp, tu hành, an trụ trong chánh pháp có được niềm vui kỳ diệu cũng như người giàu sang sung sướng nhất trên cuộc đời tiêu biểu bằng hoa trời và hương trời, áo trời, ngọc ma ni v.v..., tức có đầy đủ tất cả những gì tốt nhất. Mặc dù người tu còn mang thân tứ đại, cuộc sống đạm bạc, nhưng tâm họ cảm nhận sự hoan hỷ cùng tột trong hoàn cảnh sống cao quý của

* Trang 161 *
device

pháp Phật. Họ không còn cảm thấy thiếu thốn thứ gì cả, vì đã thâm nhập Phật huệ, sở đắc pháp vô thượng của Phật giúp họ thoát khỏi sinh tử trong sáu nẻo luân hồi; đó là của báu quý nhất đối với người tu.
Và tuy còn mang thân tứ đại ngũ uẩn, nhưng hành giả Pháp Hoa không bị thân vật chất chi phối, tác hại, vì đã chuyển hóa được thân ngũ uẩn thành ngũ phần Pháp thân. Ý này được kinh diễn tả là "Thiên y”, tức mặc áo trời thì hành giả không còn mệt mỏi buồn phiền. Làm việc cho Phật suốt nhiều năm, suốt đời, nhưng không cảm thấy chán nản, mệt nhọc, phiền muộn; trái lại luôn cảm nhận niềm an lạc kỳ diệu là nhờ có tâm Bồ đề, hành đạo tinh tấn, công đức mới lớn lao vô cùng. Đức Phật nói hạng người thứ nhất nghe thọ mạng dài lâu của Đức Phật và thâm nhập được thì có công đức như vậy. Nhưng hạng người thứ hai không được như hạng người thứ nhất, họ chỉ có một niệm tín giải thì Đức Phật dạy như sau.
Đức Phật lại bảo Di Lặc Bồ tát: "Chúng sinh nào nghe thọ mạng dài lâu của Đức Như Lai mà sanh một niệm tín giải sẽ được công đức vô lượng vô biên nhiều hơn công đức của người bố thí, trì giới, nhẫn nhục trong tám mươi muôn na do tha kiếp. Nếu hiểu ý nghĩa thọ lượng Như Lai thì có thể phát sanh Phật huệ Nhứt thiết chủng trí, lại có thể thấy Thích Ca Như Lai ở Kỳ Xà Quật thuyết pháp giáo hóa chúng đại Bồ tát và thấy thế giới Thật Báo của Lô Xá Na. Nếu thấy như thế thì không cần xây chùa tháp cúng dường, mà chính người ấy đã đến đạo tràng, trong thân của họ có sẵn Đức Phật. Ông bảo Trời người phải nên cúng dường như cúng chư Phật”.

* Trang 162 *
device

Đức Phật dạy rằng người bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn và Thiền định, trừ trí tuệ ba la mật, nghĩa là tu năm pháp ba la mật, nhưng trí tuệ chưa phát sinh thì dù người đó có trải qua vô số kiếp tu hành, công đức của họ cũng không bằng công đức của người chỉ có một niệm tín giải kinh Pháp Hoa. Tại sao một niệm tín giải mà được công đức lớn lao đến như vậy. Thử nghĩ tu một pháp đã khó, mà vô số kiếp hành trì năm pháp của Bồ tát chắc chắn khó vô cùng, vậy mà kết quả lại không bằng một niệm tín giải kinh Pháp Hoa. Theo tôi, đi thẳng vào niệm tín giải là tu Bổn môn, mới có công đức bất khả tư nghì vượt hơn tất cả.
MỘT NIỆM TÍN GIẢI
Trên bước đường hành trì Pháp Hoa, cần có một niệm tín giải. "Tín” là tin. Người không trồng căn lành với Phật, không thể tin Phật, không thể tin giáo pháp Phật dạy; vì họ chỉ sống với thế giới vật chất hữu hình, tin vào thế giới tâm linh siêu hình rất khó. Người có căn lành thường sống nội tâm, đã hình dung man mán thế giới vô hình mới tin được.
Sở dĩ tu năm pháp ba la mật trong vô số kiếp mà công đức không bằng tu một niệm tín giải, bởi đó là tu mù, vì đã trừ Bát nhã ba la mật. Có thể thấy rõ rằng tu sáu pháp ba la mật cũng phải khởi điểm từ Bát nhã. Thật vậy, có người bố thí khắp mọi nơi, nhưng sao phước không sinh, mà chỉ có trần lao nghiệp chướng tăng trưởng; đến khi mạng chung lại đọa vào ba đường ác. Người bố thí không có trí tuệ dễ sinh nghiệp hơn là phước. Chính vì trí tuệ là điều kiện quan trọng nhất, có tính cách quyết định việc

* Trang 163 *
device

đúng hay sai của năm pháp : bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn và thiền định, cho nên Đức Phật đã khẳng định rằng tu năm pháp "Trừ trí tuệ ba la mật”, công đức rất ít so với một niệm tín giải.
Trí tuệ mới giải được niềm tin. "Tin” mà không giải là mê tín, chẳng được gì, chỉ có hại. "Giải” mà thiếu niềm tin thì chỉ là người nghiên cứu nói Phật pháp suông. "Giải” không phải là giải thích từng chữ, cũng không phải là giải thích theo triết học. Tự trong lòng chúng ta cảm nhận được và chỉ bằng Bồ đề tâm của chúng ta mới giải được. Hành giả khác với học giả ở điểm này.
Đối với người đệ tử Phật, tu Bát nhã ba la mật, tức trí tuệ là chính yếu. Tuy nhiên, khi chưa có trí Bát nhã, chưa giải được mọi việc đúng đắn, chúng ta phải nương tựa thiện tri thức, nhờ họ khai ngộ để có thể áp dụng cốt lõi của Phật dạy vào cuộc sống, công đức mới sinh ra. Vị thiện tri thức cho chúng ta biết việc nên làm, người đáng theo. Thí dụ Đức Phật dạy chỉ cần giúp người chân tu một việc nhỏ mà họ thành đạt là mình được công đức ngay. Điển hình như cô gái chăn bò là Su Dà Ta dâng cúng Phật một bát sữa giúp Ngài phục hồi sức khỏe, thoát khỏi sự ngả gục vì pháp tu khổ hạnh để Ngài tiếp tục việc tu hành và đắc đạo. Vì thế, công đức cúng dường của cô gái này, dù chỉ một bát sữa, đã được Đức Phật khen ngợi rằng lớn hơn công đức cúng dường của vua chúa. Đức Phật hiện hữu giáo hóa chúng sinh, được bao nhiêu công đức thì Su Dà Ta đều có phần.
Khi chưa có trí tuệ, nên làm theo thiện tri thức;

* Trang 164 *
device

nhưng quan trọng phải phát huy trí tuệ của ta để không có thiện tri thức nữa, ta cũng biết được người đáng độ, việc đáng làm, mới sinh ra công đức. Đối với người không thể độ, việc không đáng làm, nhưng vẫn hạ quyết tâm độ và nhất quyết làm; phạm sai lầm như vậy, chỉ có phiền não nối tiếp nhau mà thôi. Người xuất gia, ngoài trí tuệ, không cầu gì khác. Ý này được Đức Phật nhắc rằng nếu tu năm pháp, mà trừ Bát nhã, tức trí tuệ, thì cũng không được gì cả.
Trở lại tầm quan trọng của một niệm tín giải trong kinh Pháp Hoa, nếu có được thì công đức bất khả tư nghì. Nhưng tín giải về cái gì và tín giải như thế nào ?
Tín giải của chúng ta là tin Phật, hiểu Phật. Tin mà không hiểu Phật dễ trở thành hủy báng Phật. Tội này nặng lắm, Nhật Liên Thánh nhân gọi đó là phá pháp tội chướng. Nhiều người tu khổ cực, nhưng quả báo xấu không lường, vì họ phạm sai lầm này, rồi đổ thừa rằng tụng kinh Pháp Hoa bị nghiệp khảo, nghiệp đổ. Tụng kinh Pháp Hoa đúng thì nghiệp không đổ, mà công đức sinh ra, trải đường đi cho hành giả. Sở dĩ nghiệp đổ vì tin Phật, nhưng không hiểu Phật, hoặc hiểu mà không tin Phật; cả hai đều sai.
Tất cả chúng ta đương nhiên tin Phật, tin rằng Đức Phật Thích Ca hiện hữu trên thế gian này ở nước Ấn Độ cách đây hơn 25 thế kỷ. Ngài đã viên tịch, nên người ta tạc tượng tôn thờ và kính lễ Ngài. Nếu chỉ tin như vậy mà không giải được thì niềm tin này dễ trở thành mê tín. Giải được nghĩa là chúng ta ý thức rằng Đức Phật Thích Ca ứng hiện trên cuộc đời này và hiện thân trong loài người. Như Đức Phật đã

* Trang 165 *
device

nói trong phẩm Như Lai thọ lượng, Ngài có thiên bá ức hóa thân, không phải chỉ có một thân Phật Thích Ca ở Ấn Độ.
Đức Phật xuất hiện ở cõi Ta bà này, nhưng chúng ta không biết Ngài ở đâu, tìm được chỗ thường trụ của Đức Phật là việc rất khó. Thiền ví như tìm trâu bằng cách đi tìm dấu chân trâu gọi là Tích môn. Tìm dấu vết Đức Phật để lại cuộc đời để biết Đức Phật ở đâu là cách tu từ Tích môn vào Bổn môn. Đức Phật từ thế giới vĩnh hằng của Ngài đi khắp tam thiên đại thiên thế giới giáo hóa, chúng ta phải tìm về cội gốc để gặp Đức Phật. Thiền diễn tả ý này là nương vào ngón tay chỉ mặt trăng dưới nước để hình dung ra mặt trăng trên trời. Và từ một mặt trăng trên bầu trời rọi xuống, có bao nhiêu dòng sông thì có bấy nhiêu mặt trăng xuất hiện trong đó (Thiên gian hữu thủy thiên gian nguyệt). Cũng vậy, từ một Đức Phật gốc hằng hữu, nhưng ở Ta bà có bao nhiêu chúng sinh có căn lành và niềm tin sâu sắc về Phật, thì có bấy nhiêu Đức Phật xuất hiện đầy đủ trong tâm của họ.
Từ đó, phát khởi niềm tin về Phật, thì niềm tin ta và Phật gắn liền với nhau mật thiết sẽ nhận ra Đức Phật vẫn hằng hữu tại nơi đây, ngay trong Ta bà này. Chỉ vì chúng ta cuồng si, không nhận ra Đức Phật thọ mạng vô cùng, bất sinh bất diệt, nên Ngài dùng phương tiện nói rằng Phật đã Niết bàn.
Trên bước đường tu, nương theo phương tiện hình thức ở giai đoạn đầu để dần thâm nhập thế giới Phật. Và có được niệm tín giải là nhận chân được Đức Phật

* Trang 166 *
device

bất sinh bất diệt, từ đây hướng về Đức Phật bất tử này mà tu hành bằng tâm thanh tịnh của chúng ta. Tu từ bản tâm thanh tịnh, chúng ta mới ngang qua Đức Phật thường trú. Được như vậy, trở về hiện tượng giới này, chúng ta hiện hữu như một phần của Pháp thân Phật để cứu giúp chúng sinh thoát khỏi mọi trói buộc khổ đau và thăng hoa tri thức. Chỉ có niềm tin về Đức Phật hằng hữu như vậy đã được công đức vô lượng.
HIỂU Ý NGHĨA THỌ LƯỢNG CỦA NHƯ LAI
Hiểu ý nghĩa thọ lượng của Như Lai là thấy được con người thật của Đức Phật kết tinh bằng phước đức vô lượng và trí tuệ vô cùng, đó chính là Báo thân Phật hằng hữu. Sanh thân của Đức Phật vắng bóng trên cuộc đời, nhưng Báo thân của Ngài vẫn tồn tại và còn lớn thêm nữa. Thật vậy, sau khi Đức Phật nhập diệt, chùa tháp kính thờ Phật nhiều hơn, Tăng Ni và Phật tử khắp năm châu đông hơn. Chính Báo thân Phật, hay phước đức trí tuệ của Đức Phật đã duy trì tất cả mọi sinh hoạt của Phật pháp. Không có Đức Phật hằng hữu thì chắc chắn thọ mạng Phật pháp không còn. Vì vậy, thấy phước đức trí tuệ của Đức Phật là thấy thế giới Thật báo Lô Xá Na, tức thế giới chân thật của Phật, thấy Phật tại thế và Phật nhập diệt thì thế giới chân thật này vẫn còn nguyên, chỉ khác là chúng ta không sử dụng được, không vào được. Thực tế những nơi nào sử dụng được phước đức và trí tuệ theo Phật, Phật pháp nơi đó hưng thạnh; nơi nào không phát triển được Báo thân Phật, nơi đó đạo Phật suy đồi.

* Trang 167 *
device

"Nếu thấy như thế thì không cần xây chùa tháp cúng dường, mà chính người đó đã đến đạo tràng. Trong thân của họ có sẵn Đức Phật. Ông bảo Trời người phải nên cúng dường như cúng chư Phật”. Đó là câu kết của phẩm Phân biệt công đức thứ 17. Nghĩa là thấy được thân phước đức trí tuệ của Đức Phật và sử dụng được thân này và sống được với thế giới Phật thì việc của họ làm là Phật làm, tất nhiên không cần xây chùa tháp nữa. Vì chùa không có vị chân tu thì cũng không hơn gì chùa hoang. Có vị cao Tăng đức hạnh ở, chùa mới tỏa ra sức sống thanh tịnh cho mọi người nương tựa thăng hoa tri thức và đạo đức, tức nuôi lớn Báo thân của mỗi người.
Điều này kinh Pháp Hoa muốn nhắc nhở chúng ta tu hành ngộ đạo là chính yếu, không phải lo xây dựng cơ sở vật chất. Nói như vậy không có nghĩa là không xây dựng chùa, nhưng không phải nhứt thiết lao tâm nhọc sức với việc xây dựng để tâm bị phiền não, thân bệnh hoạn, chắc chắn đó không phải là ý của Đức Phật dạy. Bước theo dấu chân Phật, tùy duyên làm đạo, gặp việc đáng làm mới làm, sẽ loại trừ được quả báo xấu. Thực tế cho thấy nhiều người tha thiết làm, nhưng gánh hậu quả không tốt; vì làm nhiều nhưng làm không đúng.
Tu Bổn môn Pháp Hoa, không nhất định phải làm gì, nhân duyên đến thì làm, nhân duyên hết thì bỏ; làm hay bỏ đều bình thường, vì thân mạng còn phải bỏ mà. Tuy nhiên, trong khi thân mạng còn hiện hữu, những việc cần làm lợi ích cho đời, tại sao lại không làm. Người tu làm trong giải thoát gọi là hành vô hành, làm

* Trang 168 *
device

không thấy làm gọi là vô vi, mà thực là làm tất cả, họ đã vào bí mật tạng để tu, thông được với Đức Phật và Thánh chúng, mới được công đức vô lượng.
Đọc phẩm Phân biệt công đức, thấy có sự khác lạ đối với cuộc sống chúng ta; vì phẩm này nói cho người đã thâm nhập giới đàn vô tướng và tu trên Bổn môn, nên thành tựu công đức lớn lao vô cùng. Và từ giới đàn vô tướng trở lại cuộc đời giáo hóa độ sinh, những pháp mà họ chứng đắc cũng thể hiện trong cuộc sống thực tế, chứ không phải chỉ nói suông. Tu Pháp Hoa, phải kết hợp được pháp tu và thực tế cuộc sống, vì nói và làm phải tương ưng với nhau. Điển hình như Ngài Trí Giả đại sư trụ trong Thiền định thấy trong đầm sình lầy xuất hiện ngôi chùa tráng lệ. Từ cái thấy trong tư duy, trong đạo tràng vô tướng có chùa như vậy, thì sau đó trở về thực tế, Tấn Dương Quảng thống nhất đất nước Trung Hoa, lên ngôi, lấy tên là Tùy Dạng Đế. Và ông đã đưa quân đến vùng sình lầy đó để xây chùa Ngọc Tuyền rất đồ sộ. Nói cách khác, xây dựng được ngôi chùa trong tâm linh bằng công đức thì ngôi chùa vật chất tự động hình thành; đó là thành tựu công đức. Còn thấy trong Thiền định mà thực tế không có gì, phải biết đó là hoang tưởng.
II - Ý NGHĨA PHẨM PHÁP SƯ CÔNG ĐỨC
Để triển khai yếu nghĩa về sở đắc tâm linh và thực tế cuộc sống gắn liền với nhau, Đức Phật đã nói tiếp hai phẩm Tùy hỷ công đức và Pháp sư công đức. Nếu người trì kinh Pháp Hoa đúng như Đức Phật dạy, thân tứ đại này lần lần cũng sinh ra công đức. Trước là

* Trang 169 *
device

con người trần lao nghiệp chướng, nhưng tu hành, xóa bỏ được nghiệp chướng thì cũng người đó mà được quý trọng. Ý này được kinh diễn tả là có 6.000 công đức trang bị cho sáu căn thì tất cả những gì của sáu căn phát ra đều là công đức.
Trong phẩm Pháp sư công đức, Đức Phật nói rõ người tu Pháp Hoa sẽ được 800 công đức của mắt, 1.200 công đức của tai, 800 công đức của mũi, 1.200 công đức của lưỡi, 800 công đức của thân và 1.200 công đức của ý; tổng cộng là 6.000 công đức trang nghiêm thân tâm. Người trì kinh Pháp Hoa sáu căn thanh tịnh, đạt được những công đức này trong Thiền định, trong đạo tràng vô tướng và trở về thực tế, dùng 6.000 công đức quán sát cuộc đời, họ nhận biết người và việc không sai lầm, nghĩ đến việc nào thì việc đó thành tựu, nghĩ đến người nào thì người đó đến hợp tác.
Nếu thọ trì kinh Pháp Hoa đúng như pháp, sinh được 800 công đức của lưỡi, thì phát ra âm thanh vi diệu khiến người thích nghe, hoặc nói điều gì, người nghe cũng cảm thấy mát lòng êm tai. Lưỡi chúng ta chưa có công đức, nói đúng mà người cũng nghĩ sai. Hoặc có thân công đức là xuất hiện nơi nào, người trông thấy đều được an lạc và phát tâm tu theo. Sau đây, chúng tôi triển khai công đức của mắt và tai.
CÔNG ĐỨC CỦA MẮT VÀ TAI THEO KINH PHÁP HOA
Tôi nghĩ rằng sống trên cuộc đời này, mình muốn tu học hay làm việc gì cũng khó cả. Thật vậy, cuộc đời

* Trang 170 *
device

tôi phải lang thang đầu ghềnh cuối chợ, phải tự mình nỗ lực đi lên. Và ra làm đạo, cái gì cũng không biết, cũng không làm được mà muốn tu Bồ tát đạo, phải làm sao ?
Đọc phẩm Pháp Sư Công đức, tôi tâm đắc là phải có được 800 công đức nhãn trang bị cho đôi mắt trần, để thấy ma quỷ hay chư Thiên, Tỳ kheo, v.v... đều nhận biết rõ, không sai lầm. Lầm người, lầm việc thì nguy hiểm vô cùng. Thử nghĩ trên bước đường tu mà lầm ác ma là thiện hữu, chắc chắn phải chết.
Nhiều khi không có công đức nhãn, thấy A tu la sân hận mà tưởng là sa môn theo hầu thì chết. Phật kể rằng xưa kia có một tên thợ săn muốn bắn sư tử, đã mặc áo sa môn để nó tưởng lầm là người tu, đến gần, mới dễ giết. Vì vậy, nhìn một người phải nhận biết được bản chất bên trong họ là gì mới không bị mắc lầm. Người có đôi mắt công đức của Pháp Hoa thấy người dù không mặc áo tu, vẫn nhận ra bản chất thầy tu của họ đã có sẵn. Điển hình là Hòa thượng Vạn Linh nhìn thấy Hòa thượng Trí Tịnh từ lúc còn bé, đã khẳng định rằng đời trước chú bé này đã là Hòa thượng, đời này cũng tu và sẽ là Hòa thượng lớn. Hòa thượng Trí Tịnh nghe vậy, Ngài tỏ ngộ và xin xuất gia.
Quý vị trì kinh Pháp Hoa, sinh được công đức của mắt, nhìn biết người không sai lầm. Tôi thấy ít sai lầm, nên trải qua trên 50 năm hành đạo, làm được một số việc và còn tồn tại trong đạo. Một số huynh đệ chỉ vì thấy sai lầm nên chấm dứt cuộc đời tu một cách dễ dàng.

* Trang 171 *
device

Đạt được công đức của mắt, nhìn biết người có căn lành, hay có nghiệp ác, chúng ta xử sự khác, giáo dục khác. Khi có công đức nhãn, đối với người có nghiệp ác, cần phải khó, phải răn đe, bằng mọi cách hạn chế tối đa, không cho ác nghiệp của họ sinh khởi. Trái lại, chúng ta dễ dãi với người tốt để giúp thiện căn của họ tăng trưởng. Nói chung, có công đức, nhận ra chỗ đáng tới, việc đáng làm, người nên gần; từ đó quyến thuộc Bồ đề của chúng ta luôn phát triển.
Ngoài 800 công đức của mắt, người trì kinh Pháp Hoa còn được 1.200 công đức của tai. Công đức của tai thù thắng hơn công đức của mắt, vì mắt phải có đủ duyên như ánh sáng mới thấy được. Vì thế, tai có nhiều hơn mắt 400 công đức. Phát huy được công đức của tai quả là thú vị hơn nhiều. Chỉ cần nghe tiếng nói của người, chúng ta biết rõ bản chất của họ, biết họ nghĩ gì, tìm ta làm gì.
Theo kinh nghiệm của riêng tôi, khi còn ở Nhật, tôi đã đến thăm Thiền sư Sato sống cách nơi tôi ở 600 cây số. Tôi ngạc nhiên khi có thầy tri sự đứng đợi tôi trước cửa chùa và hỏi tôi có phải là nhà sư Việt Nam hay không. Ông cho biết Hòa thượng Viện chủ dạy rằng có tôi đến thì đón vào. Mình muốn đi thăm thì Ngài đã biết. Điều lạ là Ngài mù và đã hơn 80 tuổi, nhưng công đức nhĩ của Ngài lớn vô cùng. Nghe giọng nói của tôi, Ngài đoán định được hành trạng và tương lai của tôi; quả thật những gì Ngài nói hoàn toàn đúng.
Được vị danh Tăng, chân tu khai ngộ và cho chúng ta lời khuyên quý giá vô cùng. Họ trì kinh có

* Trang 172 *
device

công đức, nghe âm thanh biết đời trước của người đối diện là Tỳ kheo hay chư Thiên. Chúng ta không biết rõ được như vậy, nhưng tụng kinh, sinh được một phần công đức nhỏ thôi, thì nghe âm thanh cũng biết được người hiền lành, hay hung dữ, tham lam, không thể gần. Không biết thì mình dễ phạm sai lầm và bị đọa. Biết rồi, họ nói gì, ta chỉ mỉm cười; ta làm việc ta, họ làm việc họ, ta cũng không làm mất lòng họ.
6.000 công đức trang bị cho sáu căn thì sáu căn phát ra đều là công đức. Và sử dụng công đức này mới giáo hóa chúng sinh được. Chưa có công đức, làm gì thiên hạ cũng chê bai. Ý thức như vậy, chúng ta phải nỗ lực thể hiện tinh thần Phật dạy trong cuộc sống.
Sau đó, Đức Phật chứng minh công đức của người trì kinh Pháp Hoa, Ngài nói tiếp phẩm Thường Bất Khinh. Đức Phật cho biết trong kiếp quá khứ lâu xa, tiền thân Ngài là Bồ tát Thường Bất Khinh giáo hóa chúng sinh, nhưng người không nghe còn ném đá. Nhờ tu hành theo kinh Pháp Hoa, thâm nhập được 20 muôn ức bài kệ kinh Pháp Hoa do Phật Oai Âm Vương truyền trao, mà Ngài sinh được công đức. Bấy giờ, những người trước kia đánh mắng Ngài, nay đều trở thành đệ tử của Ngài, đó là 500 Bồ tát, đứng đầu là Bạt Đà Bà La. Ý này nhắc nhở chúng ta kiên nhẫn tu hành, đắc đạo, sẽ có được công đức, chắc chắn mọi người đều ủng hộ, mọi việc đều thành tựu tốt đẹp.

* Trang 173 *
device

 
Cương Yếu Kinh Pháp Hoa