LOGO VNBET

Ý nghĩa
PHẨM PHÁP SƯ THỨ 10

 
Như đã nói, trong toàn bộ giáo pháp, điểm quan trọng Đức Phật muốn nhấn mạnh rằng tam thừa giáo chỉ là phương tiện của Ngài tạo ra để nhằm chỉ nhứt thừa giáo ẩn chứa bên trong, kinh Pháp Hoa thường diễn tả ý này là Đức Phật khai tam thừa hiển nhứt thừa. Vì vậy, theo Tích môn Pháp Hoa, nhứt Phật thừa là chính và tam thừa là quyền. Đức Phật phải triển khai giáo pháp thành tam thừa để ứng hợp với trình độ chúng sinh, nhưng kết quả đều đưa mọi người đến quả vị Phật. Vì Đức Phật là đấng toàn giác, nên Ngài phải dìu dắt mọi người đến quả vị toàn giác như Ngài, không thể dẫn đến quả vị Thanh văn hay Duyên giác được.
Phẩm Pháp sư thứ 10 kết lại pháp tam thừa và Đức Phật quy về nhứt thừa để mở ra một thế giới khác cho đại chúng tiếp nhận. Trong phần chánh tông, Đức Phật thọ ký cho Ma Ha Ca Diếp, Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề, Ca Chiên Diên, A Nan, La Hầu La và tất cả A la hán cùng những vị chưa đắc A la hán. Ý nghĩa thọ ký là Đức Phật muốn xác định rằng những người theo Ngài tu hành đều thành Phật.
Trước khi nói kinh Pháp Hoa, Đức Phật chưa thọ ký cho ai thành Phật, chỉ có người đắc A la hán hay Bích Chi Phật, nghĩa là có sai biệt giới. Trước đó, nhìn

* Trang 105 *
device

vào xã hội hay quan sát chúng hội của Đức Phật thấy có sai biệt, không ai giống ai; nhưng đến đây quy về bản thể tu hành thì tất cả mọi người phải thành Phật, không thể thành quả vị gì khác. Và mọi người này là ai ? Đó là hàng nhị thừa : Thanh văn và Duyên giác.
Từ trước, mọi người đều nghĩ rằng hàng nhị thừa chỉ đạt đến quả vị A la hán thôi, không thể thành Phật. Nhưng nay Đức Phật xác định hàng nhị thừa đều thành Phật được. Đến đây chấm dứt phần chính của Tích môn nói về một đời giáo hóa của Đức Phật, vì chẳng lẽ hàng nhị thừa xuất gia tu theo Đức Phật mà lại không thành Phật.
Ngoài ra, Đức Phật còn mở rộng sự thọ ký, kể cả hàng cư sĩ tu hành cũng thành Phật. Người tu trước thì đạt quả vị trước và ai tu cũng thành Phật. Ý này bắt đầu bằng phẩm Pháp Sư thứ 10, Đức Phật nói với Dược Vương Bồ tát : "Tất cả Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, thiên long bát bộ, người cầu Thanh văn, người cầu Bồ tát hay cầu Phật đạo mà ở trước Phật nghe kinh Pháp Hoa một câu, một kệ, một niệm tùy hỷ, ta đều thọ ký Vô thượng bồ đề”.
Trước đó, Đức Phật chỉ thọ ký cho người xuất gia tu hành có đức hạnh trong xã hội như Mục Kiền Liên, Ca Diếp, Tu Bồ Đề, A Nan, La Hầu La, v.v... Nhưng nay, Đức Phật thọ ký cho mọi thành phần, không phân biệt xuất gia hay cư sĩ, nam hay nữ và kể cả loài súc sinh. Khi họ chưa phát Bồ đề tâm thì chưa thành Phật được, nhưng nếu phát tâm Bồ đề và tu hành, chắc chắn cũng thành tựu quả vị Phật. Tuy nhiên, đến đây còn loại trừ hàng nhứt xiển đề, họ không thể thành Phật.

* Trang 106 *
device

Đó là ý quan trọng nhất của kinh Pháp Hoa rằng tất cả mọi loài, mọi người nghe kinh Pháp Hoa một câu, một kệ, một niệm tùy hỷ đều được Đức Phật thọ ký thành Phật. Như vậy, Đức Phật khẳng định rõ là học kinh Pháp Hoa mới được thọ ký, pháp hội khác, Đức Phật không thọ ký. Vậy Pháp Hoa là gì ?
Pháp Hoa là nhất Phật thừa hay giáo Bồ tát pháp, Phật sở hộ niệm; nghĩa là pháp hành trì của Bồ tát và pháp mà chư Phật hộ niệm. Đức Phật thọ ký dù chúng ta là Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, nhân, thiên; nhưng quan trọng là phải phát tâm Bồ đề, hành Bồ tát đạo cho đầy đủ hạnh Bồ tát.
Trước kia, hàng Thanh văn, Duyên giác hướng về Niết bàn là thú tịch Thanh văn nên không thể thành tựu quả vị Phật. Vì vậy, đạt được quả vị A la hán rồi, phải phát tâm Bồ đề, trọn vẹn Bồ tát đạo mới đạt đến quả vị Phật. Chúng ta thấy rõ ý này khi Đức Phật thọ ký cho Xá Lợi Phất, Ca Diếp, Mục Kiền Liên, Phú Lâu Na, v.v... Ngài đều dạy các vị này rằng phải hành Bồ tát đạo đầy đủ tâm đại bi mới thành Phật được; không phải Đức Phật thọ ký là thành Phật liền, mà không cần tiến tu Bồ tát hạnh. Nhận chân được ý Phật dạy như vậy, ngày nay chúng ta tu hướng về Niết bàn, không nghĩ đến độ sanh, chắc chắn không thể thành Phật.
Nghe kinh Pháp Hoa là học và thực hành pháp tu của Bồ tát hướng đến độ sanh. Một vị đắc A la hán đi vào sinh tử để thực hiện việc giáo hóa chúng sinh, nói cách khác là hành Bồ tát đạo đến khi trọn vẹn được công hạnh của Bồ tát thì sẽ đạt quả vị Phật.

* Trang 107 *
device

Ở giai đoạn tu Thanh văn một mình, nay phát tâm Bồ đề, hành Bồ tát đạo lấy giáo hóa độ sanh làm việc chính. Việc hành Bồ tát đạo của chúng ta cao hay thấp căn cứ ở thành quả giáo hóa chúng sinh. Độ được càng nhiều người sống theo pháp Phật, công đức chúng ta càng lớn. Như vậy, con đường đi đến Phật quả là phải thực hiện việc giáo hóa độ sanh, cho đến khi không còn người nào, loài nào mà ta không cảm hóa được thì mới thành tựu quả vị Phật.
Ở các giai đoạn trước, Đức Phật phải nói pháp Thanh văn chỉ dạy người hướng đến Niết bàn, là vì Ngài muốn độ những người sợ sinh tử. Nhưng nay, Đức Phật dạy phải thực hiện việc độ sanh theo tiêu chuẩn là Diệu Pháp Liên Hoa; nghĩa là giúp người trên nền tảng đạo đức và trí tuệ. Cốt lõi của kinh Pháp Hoa nhằm xây dựng người đạo đức và tri thức, trí tuệ là Diệu Pháp và đạo đức là Liên Hoa.
Khi chưa tu, chúng ta không độ được người. Đến khi phát tâm xuất gia học đạo, rèn luyện pháp tu Thanh văn, chúng ta trở thành người đạo đức, tức không tham, sân, si. Từ mẫu đạo đức của Thanh văn, tiến sang bước thứ hai, thực tập pháp tu Duyên giác sẽ giúp chúng ta thành người trí thức có tầm nhìn thấy xa biết rộng. Chúng ta đừng hiểu lầm rằng Duyên giác chỉ học quán 12 nhân duyên, như vậy thì không đủ. Quán 12 nhân duyên là mở rộng tầm hiểu biết về nhân duyên sinh diệt của tất cả pháp, vì thấy nhân duyên là thấy pháp. Thật vậy, theo Phật, tất cả pháp đều do nhân duyên sinh, nên ta biết được nhân duyên

* Trang 108 *
device

là biết được tất cả pháp hữu hình, vô hình, hữu tình, vô tình. Nói theo ngày nay là phải thấy được sự việc ở mọi mặt về chính trị, văn hóa, xã hội, v.v...
Trải qua pháp tu của hàng nhị thừa, đạo đức của chúng ta là không tham sân si và hiểu biết của chúng ta là biết khoa học tự nhiên và xã hội; kết hợp đạo đức và tri thức như vậy mới dấn thân theo tinh thần Pháp Hoa được.
Như vậy, người hành trì Pháp Hoa không nhứt thiết mang hình thức nào. Điều kiện đòi hỏi là tin kinh Pháp Hoa và thực hiện tinh thần Pháp Hoa, tức nâng cao đạo đức và tri thức. Thử nghĩ các Bồ tát vào đời mà không hiểu chúng sinh, chúng sinh nghiệp, chúng sinh phiền não thì làm thế nào giáo hóa họ. Nếu đạo đức chúng ta cao, ta không cần họ, nhưng họ cần ta thì ta sẵn lòng giúp. Ta đến với người vì người cần ta, còn ta cần thì đừng tới.
Nghe kinh Pháp Hoa tùy hỷ, được Đức Phật thọ ký, tức phát triển đạo đức và tri thức làm đẹp cuộc đời là được thọ ký; không cần phải là Tăng Ni, nhưng bất cứ ai làm đẹp cho đời là được Đức Phật thọ ký.
Những người trì kinh Pháp Hoa đúng chuẩn đó là đã thành Vô thượng Đẳng giác vì thương nhân gian sinh lại đời. Ý này mở ra cánh cửa thứ hai để chúng ta thấy khác lạ hơn. Trước kia, chúng ta thấy chỉ có con đường từ đây đến thành Phật là từ nhân hướng quả. Nhưng đến yếu nghĩa Pháp Hoa thì từ quả hướng nhân, là vì thương nhân gian mà sinh lại cuộc đời. Điều này giúp chúng ta phân biệt được Bồ tát từnhân hướng quả và Bồ tát từ quả hướng nhân.

* Trang 109 *
device

Người tu lâu mà không làm được việc, thì biết là họ mới tu đời này, đang từ nhân hướng quả. Người làm được việc lớn là Bồ tát từ quả hướng nhân, đời trước đã tu nên đời hiện tại tài giỏi vượt hơn nhiều người. Điển hình như Hòa thượng Thiện Hoa ra Huế chỉ học dự thính và viên tịch vào tuổi 55, nhưng đã để lại sự nghiệp lớn lao cho đạo pháp, vì đời trước Ngài đã là luận sư, nên hiện đời mới có tài đức như vậy. Hoặc Tổ Huệ Năng chỉ công quả, giã gạo, không được học, nhưng làm Tổ. Có thể hiểu vì đời trước Ngài đã là Tổ sư, nên tái sinh, Ngài thị hiện làm người tầm thường, không phải tầm thường thật.
Mới phát Bồ đề tâm tu hành, việc công phu tu tập của chúng ta còn nhiều khó khăn lắm. Biết như vậy, ta không phiền não, ganh tức với người; nếu không, ta dễ bất mãn, khinh khi rằng họ dở hay tu sau ta, thì bị tổn phước.
Bồ tát từ nhân hướng quả tu hành vất vả cực khổ mà kết quả không được là bao, thậm chí nhiều khi còn bị kết quả xấu. Trái lại, Bồ tát từ quả hướng nhân sống đơn sơ, làm việc đơn giản mà thành quả không ai có thể sánh bằng, phải biết đó là người ngoại lệ. Muốn nhận ra người ngoại lệ, nên nhìn chiều sâu để biết thực chất của họ là thương nhân gian mà sinh lại cuộc đời hay là người lợi dụng đời.
Từ sự phân biệt được Bồ tát đang tu nhân hướng quả và Bồ tát từ quả hướng nhân, vì thương nhân gian sinh lại cuộc đời này, kinh Pháp Hoa khẳng định cho chúng ta thấy đời này tu, đời sau hưởng thành quả, hay mở ra cánh cửa cho thấy Đức Phật đời trước đã là Phật,

* Trang 110 *
device

nên đời này Ngài chỉ trải qua 6 năm thể nghiệm pháp là thành Phật ngay lập tức. Như vậy, tự biết chúng ta còn trải qua vô số kiếp nữa mới thành Phật.
Nếu ai chê Bồ tát thương nhân gian sinh lại đời thì bị tội nặng còn hơn chửi mắng Phật trong một kiếp. Tôi nghiệm ý này thấy rằng nếu ta có học mà thua người không học thì phải tự xấu hổ, còn khinh chê họ là tự hại mình. Đừng chê những thầy có nhiều đệ tử, chê họ thì đệ tử họ ghét ta, chống ta. Trân trọng họ thì đệ tử họ cũng thương mình. Sinh trên cuộc đời, có người được quyến thuộc đông, người ít quyến thuộc; đó là do quá trình hành Bồ tát đạo đời trước. Nếu đời trước chúng ta học giỏi, nhưng tu hạnh viễn ly Thanh văn, Duyên giác, không giúp đỡ ai, nên đời này không ai theo ta. Thầy dở, nhưng người theo vì đã cứu họ. Học kinh Pháp Hoa phải nhớ lý nhân duyên.
Có duyên mới độ được. Chúng ta còn nhớ câu chuyện Mục Kiền Liên đời quá khứ đã tu Tiên đạo và từng cứu một tổ ong bị rớt xuống sông. Kết quả là hiện đời, đám ong này tái sinh làm người, chỉ tôn thờ Mục Kiền Liên làm thầy, chúng không chịu theo Phật. Phật hóa hữu duyên là vậy. Ta tu hành, lo độ người có duyên; người khác có thầy của họ, đừng chen vô làm phiền ta và người. Theo duyên mà độ là làm đúng với sự phân công tự nhiên thì lòng ta luôn thanh thản.
Để chỉ thành quả tu hành của tam thừa giáo là Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát, Đức Phật lấy thí dụ đào giếng trên cao nguyên. Thanh văn đào giếng trên cao nguyên ngụ ý người khổ công tu, nhưng không gặt hái được kết quả bao nhiêu; vì cách Phật huệ quá

* Trang 111 *
device

xa, không thể thấy Phật. Phải nỗ lực đào đến đất ướt, đất bùn, mới gần được nước, chỉ cho chúng ta cố gắng tu tập nhiều mới có được thành quả. Hay nói ngược lại là người tu ít mà được thành quả nhiều là biết họ đang ở đất ướt, đất bùn rồi.
Trong phẩm Pháp Sư nói rằng người nghe kinh Pháp Hoa mà tin được và áp dụng trong cuộc sống thì được gần Phật, được Đức Phật thọ ký. Hàng Thanh văn chưa nghe được kinh này, trong khi ta đã nghe rồi là biết ta đã tiến được một bước. Và người nghe kinh Pháp Hoa mà kinh nghi, sợ sệt là Thanh văn tăng thượng mạn hay Bồ tát mới phát tâm. Thanh văn tăng thượng mạn thì nhìn sai lệch, vì không hiểu đạo nên thường phê phán người được quần chúng ủng hộ, cho rằng họ dở, không học, không tu và ưa nói xấu họ, nên thường bị quả báo.
Người nghe kinh Pháp Hoa mà kinh sợ là Bồ tát mới phát tâm; điển hình như nhiều người thấy Ngài Huệ Năng bửa củi, giã gạo mà lại làm Tổ thì họ nghi ngờ, chê bai. Họ chỉ thấy việc bửa củi bình thường, đâu biết Ngài đang thể hiện tinh thần chẻ cây để tìm hoa hay phân tích thân ngũ uẩn để tìm Phật tánh bên trong là pháp tu của hàng thượng trí.
Từ Phật tánh hiện thân trên cuộc đời, mang thân tứ đại, ngũ uẩn thì ai cũng như ai; nhưng thực chất bên trong mỗi người lại hoàn toàn khác nhau. Thật vậy, cùng là thân người nhưng tại sao có người được kính trọng, có người bị chà đạp, người giỏi, kẻ dở, người đẹp, kẻ xấu, v.v... Tìm hiểu sự khác biệt bên trong mỗi người là bắt đầu chẻ thân ngũ uẩn thành năm phần : sắc, thọ,

* Trang 112 *
device

tưởng, hành, thức. Về sắc uẩn, ai cũng giống nhau, cũng có chất khoáng, chất khí, chất nước, v.v..., nên không cần đề cập thêm. Còn lại phần thọ uẩn cho đến thức uẩn đóng vai trò chủ yếu. Nếu chẻ thọ uẩn ra để tìm thì thấy có khổ thọ, lạc thọ và trong khổ vui cũng có vô số khổ vui khác nhau của con người.
Tuy nhiên, quan sát kỹ, thấy khổ vui của mọi người dính liền với nguồn sâu kín nằm trong tưởng uẩn và hành uẩn. Nhận chân như vậy, việc căn bản của người tu Thiền là ngồi yên suy nghĩ về hành và thức uẩn. Từ thức uẩn khởi hiện hành và từ hiện hành lại sinh ra thức. Vì vậy, khổ vui cũng đều từ hành và thức uẩn mà ra. Trong 12 nhân duyên, vô minh duyên hành, hành duyên thức, từ đó ta thấy thức uẩn hay nhận thức của con người thuộc vô minh. Trên căn bản này, người tu Thiền phát hiện được rằng nếu vô minh duyên khởi thì tạo thành trùng trùng nghiệp chướng trần lao. Biết như vậy, nên ý thức nào khởi lên là ta cắt liền, không cho khởi thì cũng cắt lìa được hành uẩn là anh em sinh đôi với thức uẩn. Và cắt bỏ được thức uẩn và hành uẩn khởi xuất từ vô minh dẫn con người đi vào sinh tử khổ đau thì chơn như tâm hiện ra, mới phát hiện được tác động của chơn như duyên khởi như thế nào. Đó là nét đặc sắc của tinh thần Đại thừa Phật giáo; quán sát diễn biến của vô minh duyên khởi, Ngài Thế Thân lập ra tông phái Duy Thức học nổi tiếng. Và triển khai phần chơn như duyên khởi, Tổ Long Thọ và Mã Minh lập thành tông phái Pháp tánh học.
Việc bửa củi hay chẻ cây của Tổ Huệ Năng cũng giống như Bàn Đặc quét lá, thể hiện pháp tu quét phiền não, bụi dơ. Công việc hàng ngày ảnh hưởng đến tâm

* Trang 113 *
device

thức hành giả, làm cho nó thanh tịnh hay nhiễm ô. Tổ Huệ Năng giã gạo thì Tổ Hoằng Nhẫn hỏi gạo trắng chưa. Người thường thấy lục Tổ làm việc giã gạo bình thường và Tổ Hoằng Nhẫn cũng hỏi câu bình thường. Nhưng Thiền ngữ không thể hiểu suông như ngôn ngữ bình thường. Gạo ví cho tâm và cám bọc bên ngoài hạt gạo ví như phiền não. Ý Tổ muốn hỏi tu hành phải cực nhọc công quả như vậy có buồn phiền hay không, đã tróc hết phiền não chưa. Nếu giã tróc cám rồi, tức phiền não không còn thì phải thấy khác.
Tôi thấm thía ý nghĩa này vì đã thể nghiệm được trong cuộc sống mình. Thuở mới vào Phật học đường Nam Việt, tôi làm công tác của đại chúng giao phó, tuy vất vả, nhưng cảm thấy vinh quang, luôn ghi nhớ trong lòng câu hỏi của Tổ là phiền não tróc hết chưa. Tôi thấy rõ khi hết buồn giận, cuộc đời tôi tự đổi khác; muốn tiếp tục dọn quét nhà vệ sinh cũng không ai cho, Hòa thượng Thiện Hoa đã sắp đặt tôi làm thị giả hầu Ngài. Còn trước đó, mình đến gần thầy, người ta cũng không chịu vì sợ mình hôi dơ, xấu xí, sẽ lây bệnh cho thầy.
* NHÀ NHƯ LAI, ÁO NHƯ LAI, TÒA NHƯ LAI
Trong phẩm Pháp sư, đưa ra ý quan trọng : nhà Như Lai, áo Như Lai, tòa Như Lai. Những ý này có liên quan đến vai trò của pháp sư, nên suy nghĩ và áp dụng trong việc truyền giáo. Nếu không sống đúng hướng này, không thể thay Phật thuyết pháp giáo hóa. Ngày nay, chúng ta thuyết pháp mà còn bị nhiều chướng duyên là biết mình không đủ tiêu chuẩn nói trên của kinh đưa ra.
Nhà Như Lai là tâm từ bi. Từ tâm tam muội là đến

* Trang 114 *
device

với người, mang niềm vui cho họ, không vì ta hay vì mục đích khác. Hành đạo theo tinh thần này mới không bị thọ quả báo. Hòa thượng Thiện Hoa thể hiện từ tâm tam muội qua lời phát nguyện rằng nơi nào chúng sanh cần thì Ngài đến.
Đức Phật dạy muốn thuyết pháp phải phát tâm đại từ bi. Bình thường chúng ta cũng có lòng từ bi, nhưng đối tượng của ta là người có phước và người tốt với ta thì ta dễ phát tâm từ bi. Như vậy, lòng từ bi hay tình thương của chúng ta có giới hạn, có điều kiện. Đức Phật dạy phải nâng tâm từ bi lên mức độ cao là đại từ bi tâm. Đối với người chống đối vẫn thương được mới hoằng truyền kinh Pháp Hoa được; còn lúc vui thì thương, buồn thì bỏ là thương người theo kiểu chúng sinh.
Ngoài ra, từ bi mà còn phân biệt, khởi lên và biết được thì chưa phải là từ bi. Từ bi phải đưa vào tam muội là chánh định hay tận cùng đáy lòng ở Thiền định, nên khi phát ra ngoài, dù thuận hay nghịch cũng giáo hóa được. Nếu có tâm từ bi ở trong thế giới vô sai biệt mà làm đạo thì đối tượng là người tốt hay xấu, lòng ta vẫn thanh thản. Chính chúng ta muốn ban vui cứu khổ, nên phát xuất từ từ bi tâm tam muội nảy sinh ra vô số phương tiện cứu giúp người là vào được nhà Như Lai.
Hành Bồ tát đạo là cứu người, giống như thầy thuốc chữa bệnh cho người, họ bị đau đớn vì bệnh nhưng lại la mắng thầy thuốc cứu họ; ông ta vẫn vui vẻ là biết thầy thuốc này có tâm từ bi. Giáo hóa độ sinh cũng vậy, người làm gì cũng được, miễn ta cứu độ được họ thôi. Và cứu độ người chống đối, hại ta thì

* Trang 115 *
device

công đức lại lớn hơn, sau này, họ sẽ quý trọng ta nhiều hơn. Lịch sử về cuộc đời truyền giáo của Ngài Nhật Liên cho thấy có người tìm ra tận đảo nơi Ngài đang bị tù đày để giết Ngài. Lúc ấy, Nhật Liên Thánh nhân đang nhập từ tâm tam muội và tên sát nhân đứng bên ngoài hang tuyết chờ, bỗng nhiên lòng thù hận của ông bị tâm từ bi của vị Thánh Tăng này tác động, nên đã chuyển đổi từ tâm sát hại thành tình thương đối với Ngài. Và sau đó ông sám hối, xin làm đệ tử của Nhật Liên, trở thành người hầu cận sống chết với Ngài.
Đức Phật khuyên chúng ta trước nhất phải nhập từ tâm tam muội, nghĩa là vui từ trong lòng, nên gặp hoàn cảnh tốt xấu gì cũng vui, gặp đối tượng nào cũng cứu giúp được; còn buồn giận, bất mãn thì phải lo tu hành, thay đổi tâm tánh cho thanh tịnh. Nhập định, thương người, dù họ ở trước mặt hay ở xa, khi chúng ta khởi tâm đại bi trong Thiền định hay tam muội, họ vẫn cảm nhận được sự an lành. Người tu luôn giữ tâm đại bi và an trụ Thiền định, tâm đại từ đại bi phát xuất từ chánh định mang an vui, cứu giúp người thoát khổ.
Điều kiện thứ hai mà nhà truyền giáo cần có là tâm nhu hòa, nhẫn nhục được ví như áo Như Lai. Luyện tập "tánh nhu” là sẵn lòng mềm mỏng với người, người càng sân hận, ta càng trải tâm từ tiếp đón. Luyện tập "tánh hòa” bằng cách dùng trí tuệ của ta để giải nghiệp chúng sinh. Ta thuyết pháp, đặt mình vào hoàn cảnh người và dùng trí khôn theo Đức Phật để giải quyết việc khó của người. Còn thuyết pháp nói những điều không dính líu gì đến cuộc sống thì không mấy tác dụng. Trang bị tâm nhẫn nhục, ta mang quyền lợi cho

* Trang 116 *
device

người, cực khổ về ta; có như vậy, mới được người thương quý dù thuyết pháp bằng lời nói hay hành động, là mặc áo Như Lai.
Điều thứ ba là ngồi tòa Như Lai vì biết các pháp trong thế giới sinh diệt như mộng huyễn bào ảnh. Mọi vật đều hoàn không, không có gì tồn tại mãi và ta nhắm mắt lìa đời cũng không đem theo được cái gì. Ý thức như vậy, chúng ta không bận tâm với nó, tất nhiên cũng không tham đắm nó, nên chẳng xảy ra vấn đề gì phải đối phó. Nếu chúng ta còn kẹt pháp hữu vi, mà không bảo vệ được điều mình thích thì phiền não nhân đó phát sinh và gây đụng chạm với người. Chúng ta coi như mọi sự việc đều không có, nhưng ta sử dụng nó như phương tiện để cứu đời; không phải không có rồi buông tay thụ động, không làm việc lợi ích cho người thì uổng phí cuộc đời.
Thành tựu được ba đức tánh quan trọng : tâm đại từ bi, tâm nhu hòa nhẫn nhục và an trụ pháp Không thì dù pháp sư ở chỗ vắng, Đức Phật cũng sai hóa nhân đến nghe thuyết pháp và cùng tu hành với pháp sư, không chống đối. Nếu có người muốn hại pháp sư, Phật khiến bát bộ Thiên long che chở, bảo vệ. Và ai gần gũi pháp sư cũng được an lạc.
Nối gót theo Phật, phải rèn luyện ta thành điểm tựa của người; xã hội bất an thì ta là người có khả năng mang an lành đến cho người, thay Phật giáo hóa chúng hữu tình. Dù Đức Phật không hiện hữu trên cuộc đời, nhưng có pháp sư thành tựu tinh thần cao thượng như vậy, làm lợi ích cho người, coi như Đức Phật vẫn hiện thân ở đời.

* Trang 117 *
device

 
Cương Yếu Kinh Pháp Hoa