LOGO VNBET

Ý nghĩa
PHƯƠNG TIỆN VÀ CHÂN THẬT

 
Trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật dạy có hai cửa vào đạo là Chân thật môn và Phương tiện môn. Chân thật môn là con đường chính, nhưng chỉ có Đức Phật mới đi vào con đường này được. Nói cách khác, theo tinh thần Pháp Hoa, chỉ có Đức Phật thị hiện trên cuộc đời , mang thân phàm phu và xuất gia học đạo, chỉ tu sáu năm mà thành Phật. Từ đó đến nay, biết bao nhiêu người tu trải qua năm mười năm, hay suốt cả cuộc đời, nhưng không ai thành Phật. Tại sao ? Vì chúng ta là phàm phu, hay nhị thừa, hoặc Bồ tát, thì cũng chỉ chứng được quả mà chúng ta đã có từ đời trước. Thí dụ các vị Thánh La hán tái sinh trên cuộc đời, tu hành, cũng chỉ chứng đến quả La hán là cao tột. Từ quả La hán mà tiến tu lên được quả vị cao hơn nữa có thể được, nhưng cũng không đơn giản. Người may mắn gặp được Phật, thì sự tu chứng nhanh hơn; chỉ trong một niệm tâm liền chứng được quả A la hán, như Ngài Xá Lợi Phất. Với người không gặp Phật, phải trải qua quá trình nương theo pháp Phật để tu tập, gia công Thiền định cũng chứng được quả A la hán. Như vậy, quả A la hán họ đã có sẵn, nên đời này mang thân phàm mới chứng đắc dễ dàng.
Còn những vị chân sư đã trồng căn lành đời trước, nay tái sinh, xuất gia, học đạo. Với quả vị Hòa thượng

* Trang 45 *
device

đã có từ đời trước, các Ngài tu hành, từng bước cũng phát triển đạo lực, làm Hòa thượng hay A xà lê, nhưng chưa là Thánh.
Đắc đạo, Đức Phật nghĩ rằng nếu đưa ra Chân thật môn, tức chỉ bày chân lý, mọi người không tiếp thu được, còn bị đọa. Đức Phật muốn vào Niết bàn, vì những điều Ngài hiểu, chứng được, thì không dạy được, bởi nghiệp của chúng sinh quá sâu nặng và họ lại không có khả năng. Lúc đó, mười phương Phật hiện ra, ấn chứng cho sự thấy đúng của Đức Phật Thích Ca và tất cả những gì mà Ngài chứng đắc cũng như của chư Phật mười phương chứng đắc.
Nhưng thấy đúng rồi, có làm được không ? Chúng ta phát tâm tu hành thường rơi vô lý tưởng. Lý tưởng luôn luôn quá đẹp, mà thực tế lại phũ phàng. Khoảng cách rất xa giữa thực tế và lý tưởng làm cho chúng ta thất vọng, bất mãn, chán nản, buồn phiền, v.v...; trần lao nghiệp chướng từ đây phát sinh liền.
Đức Phật Thích Ca đắc đạo, tương thông được với mười phương Phật, quả là tuyệt vời. Nhưng Ngài trở lại cuộc đời, thân cận với chúng sinh đầy đủ tham sân si để cảm hóa họ đi theo con đường chân thật giải thoát hoàn toàn, không còn khổ đau sinh tử, là cả vấn đề không đơn giản chút nào. Thấu hiểu sự khó khăn này, chư Phật mười phương khẳng định với Đức Phật Thích Ca rằng tất cả chư Phật hiện thân trên cuộc đời, giáo hóa chúng sinh, đều phải mở cánh cửa phương tiện cho họ đi vào. Con đường chân thật của Đức Phật đi, chúng sinh không thể nào đi được.
Vì vậy, trong phẩm Tựa, Đức Phật nhập Vô lượng nghĩa xứ định và phóng quang cho thấy tất cả cảnh giới

* Trang 46 *
device

của tứ thánh lục phàm. Những người vào được ánh quang Phật, tức tiếp nhận được tinh ba của pháp Phật mới nhận chân toàn cảnh Pháp giới. Còn người chấp pháp, chấp ngã thì tuyệt phần. Đức Phật thương xót những người không thâm nhập được thế giới chân thật trong Thiền định, nên Ngài từ an tường tam muội thuyết pháp cho Bồ tát, đã trở lại đời sống bình thường và bắt đầu giảng nói về phương tiện.
Nhiều người hiểu lầm nghĩa phương tiện của Đức Phật. Khi người ta làm một điều gì sai trái, họ thường giải thích đó là phương tiện, để biện minh cho ý đồ đen tối và việc làm xấu của họ. Phương tiện không có nghĩa như vậy, phương tiện không phải là lừa dối. Phương tiện của Đức Phật nhằm chỉ dạy mọi người nhận ra được chân thật, vì chân thật không thể diễn tả bằng ngôn ngữ, không thể nắm bắt bằng trí thế gian.
Mở đầu phẩm Phương tiện, Đức Phật gọi Xá Lợi Phất để nói về trí tuệ sâu mầu Như lai tu chứng. Ngài khẳng định rằng trí tuệ Phật khó hiểu khó vào, hàng nhị thừa mới đến lớp vỏ và hàng Bồ tát chỉ vào được một phần, làm thế nào nói cho chúng sinh bị ngũ uẩn ngăn che nhận biết được. Và Đức Phật kết luận rằng "Duy Phật dữ Phật nãi năng cứu tận chư pháp thật tướng”, nghĩa là chỉ có Đức Phật Thích Ca và chư Phật thấu biết pháp chân thật, hay thật tướng các pháp.
Thật vậy, pháp chân thật mà Đức Phật chứng đắc lìa vọng tưởng điên đảo, lìa ngôn ngữ, lìa suy nghĩ theo thế nhân, trong khi mọi người luôn sống với vọng thức thì làm sao hiểu được. Muốn cho chúng sinh hiểu pháp chân thật, Đức Phật phải mở cánh cửa phương tiện. Trước nhất,

* Trang 47 *
device

Đức Phật cho họ thấy cái mà loài người gọi là bất tư nghì. Từ trước, mọi người chỉ tin tưởng đấng tạo hóa sản sinh ra sự sống và toàn quyền quyết định sự sống của muôn loài. Nay Đức Phật dạy ngược lại rằng mọi người tu hành có thể thành Phật, nghĩa là chủ động trong việc chuyển hóa muôn sự muôn vật theo ý muốn của mình. Và chuyển đổi bằng cách từ bỏ tất cả để được tất cả. Còn chấp ngã chấp pháp không thâm nhập Phật huệ được.
Cuộc sống của Đức Phật đã chứng minh sâu sắc ý này. Ngài từ bỏ ngai vàng điện ngọc và trải qua 11 năm phát huy trí giác đến cùng tột, Ngài thành tựu quả Vô thượng Bồ đề. Từ đó, Đức Phật đã dấn thân trên vạn nẻo đường với hai tay không để giáo hóa độ sinh, nhưng bước chân từ ái của Ngài đến nơi nào thì người người dâng cúng đất đai, tinh xá, phẩm vật, v.v... Đức Phật đã rất nhẹ nhàng đối với việc sở hữu vật chất, nếu có vật chất thì đó chỉ là phương tiện để Ngài độ sinh; còn phần lớn Đức Phật sử dụng công đức để giáo hóa.
PHÁP PHƯƠNG TIỆN
Có thể khẳng định rằng tất cả những gì Đức Phật giảng dạy trong 49 năm đều là phương tiện. "Phương” là địa phương, mỗi nơi mỗi khác. "Tiện” là thời gian luôn trôi chảy không dừng. Vì vậy, Đức Phật nói pháp ở thành Tỳ Da Ly khác với pháp ở thành Vương Xá; nói chung trong 300 hội, Ngài thuyết pháp không giống nhau, không lập lại. Nghe pháp ở Tỳ Da Ly thấy thích thú và chê pháp ở Xá Vệ là phạm sai lầm, ví như người mù rờ voi, nên không ai đắc đạo. Pháp phương tiện không giống nhau, không thể chấp pháp

* Trang 48 *
device

pháp nào là tuyệt đối đúng. Pháp phương tiện của Đức Phật rất nhiều, nhưng chủ yếu là tam thừa giáo. Trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật đã khẳng định rằng Ngài vì người cầu Thanh văn, nói pháp Tứ đế; vì người cầu Duyên giác, nói pháp 12 nhân duyên và vì người cầu Bồ tát, nói lục độ vạn hạnh.
Ngoài ra, Đức Phật còn dùng vô số pháp phương tiện khác để cứu độ chư Thiên và loài người. Vì chư Thiên và loài người còn trong sinh tử, nên không là đối tượng của tam thừa giáo được. Chỉ có hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát nương theo phương tiện tam thừa giáo, ra khỏi Nhà lửa, đạt đến Không môn, kinh Pháp Hoa gọi là bãi đất trống, từ đó Đức Phật mới nói pháp chân thật. Còn giáo pháp dành cho nhân thiên chỉ nhằm tạo phước lạc cho họ. Vì hàng Trời người còn muốn hưởng phước, muốn vui trong ngũ dục, không muốn lên Niết bàn, thì nói Niết bàn làm sao họ nghe theo. Những người muốn ra khỏi Nhà lửa sinh tử, thoát khỏi lục đạo, đem pháp Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát dạy, họ mới nghe và thực hiện được. Phương tiện của Đức Phật dùng đúng người, đúng lúc, đúng chỗ nên có hiệu quả tốt. Phương tiện này là tam thừa giáo dìu dắt Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát ra khỏi sinh tử và những phương tiện khác làm cho Trời người được an vui, lợi ích; đó là mục tiêu Đức Phật hiện thân trên cuộc đời này.
Trên bước đường tu, tôi nhận rõ ý này. Chúng ta phải chấp nhận thực tế là mỗi người có hoàn cảnh khác nhau, không ai giống ai, nên không thể bắt chước được. Từ hoàn cảnh riêng mà tu hành, ý thức về lời Phật dạy là pháp sai biệt dành cho mỗi người khác nhau.

* Trang 49 *
device

Đức Phật Thích Ca triển khai tám mươi bốn ngàn pháp môn tu, nghĩa là chúng sinh có bao nhiêu phiền não, trần lao nghiệp chướng, thì Đức Phật có bấy nhiêu pháp tương ưng để đối trị. Còn Thánh La hán không có phiền não, trần lao nghiệp chướng; nên không có pháp đối trị dành cho các Ngài. Phật dạy tất cả giới luật mà Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di phải tuân thủ; vì họ sẽ phạm những lỗi lầm, nếu không được cấm ngăn, bảo vệ. Đối với hàng Thánh Tăng như Kiều Trần Như, Đức Phật không chế giới, bởi mới thấy Phật, tâm ông liền thanh tịnh, đắc quả A la hán, thì cần gì giới điều ràng buộc.
Đức Phật triển khai tất cả các giới điều nhằm giúp chúng ta không sinh khởi tâm phiền não, không phạm hành động xấu ác, không làm những việc vô ích, có hại... Vì vậy, khi nương được pháp phương tiện của Đức Phật dạy, chúng ta tu hành, tâm hồn được thoải mái, an vui, bởi nhận chân được sự thật của cuộc đời; chúng ta không lý tưởng hóa mọi việc, không nhận thức sai lầm.
Thuở nhỏ, một vị Hòa thượng dạy tôi tụng Pháp Hoa sẽ hết bực bội, buồn phiền; nếu không thì cứ thắc mắc tại sao thế này mà không thế kia và không bằng lòng ai cả. Hòa thượng dạy rằng phải nhìn đúng sự thật, con cò phải trắng, con quạ phải đen. Không thể bắt con quạ trắng như con cò. Phải nhìn rõ cốt lõi bên trong của một người là gì. Nếu họ là tiên giáng phàm, không dạy, họ vẫn có cốt cách thần tiên. Trái lại, bắt khỉ mặc áo người, nó cũng chỉ làm được trò khỉ.
Bồ tát, Thánh Tăng tái sinh, tất yếu cốt lõi của họ là Bồ tát, Thánh Tăng. Người làm thuê ở mướn, hay người

* Trang 50 *
device

trốn nợ, trốn tù, cạo đầu vô chùa ở, thì phải cảnh giác họ. Phải nhìn thấy thực, tưởng lầm họ là Thánh thì nguy hiểm vô cùng. Những người nặng về hình thức, tưởng tất cả người mặc áo tu là thật tu, dễ bị lợi dụng, phiền não, thoái tâm.
Hòa thượng Trí Tịnh chuyên tụng phẩm Phương tiện thứ hai của kinh Pháp Hoa. Tôi nhận ra pháp phương tiện giúp chúng ta không mắc bệnh cố chấp; vì yếu nghĩa của phương tiện chỉ cho chúng ta nhận chân được sự thật, chúng ta sẽ không phạm sai lầm. Họ không thể là Tăng sĩ, nhưng chúng ta cho xuất gia, cuối cùng cũng hoàn tục mà còn có hại nữa. Có thầy nói rằng lo cho một đệ tử ăn học xong, lại ra đời, buồn quá. Nhận rõ sự thật, chúng ta sẽ không buồn. Tôi thấy cậu bé thông minh, nhưng không có căn lành, không cho xuất gia. Tôi cho tiền học để cậu ta trở thành người có giáo dục, có nghề nghiệp đàng hoàng, sống tốt cho bản thân, cho gia đình và đóng góp được cho xã hội. Như vậy, chắc chắn có lợi hơn là cho xuất gia.
Đức Phật dạy quán sát thật tướng các pháp; nghĩa là công nhận sự thật, thấy sự thật, không thấy khác. Và thấy rõ rồi, mới khai phương tiện. Tôi không cho phép anh bị nghiện xuất gia, nhưng dạy anh ta pháp cai nghiện . Từ bi cho họ sống chung trong chùa, phải trông chừng cẩn thận; không để ý, họ gây rắc rối liền. Đối với người này, pháp cai nghiện là thích hợp nhất.
Đức Phật Thích Ca mang sanh thân con người và nói pháp phương tiện, nhằm mục tiêu giúp mọi người nhận ra những cái giả tạm trên thế gian này và tu hành để thành tựu chân thân, hay Pháp thân và sở đắc pháp

* Trang 51 *
device

chân thật. Thấu hiểu lý này, Trí Giả đại sư kiến giải rằng vì thật mới khai mở quyền, nghĩa là phải có chân thật mới đưa ra phương tiện được; kinh diễn tả là nương pháp chân thật, khai phương tiện môn. Vì vậy, pháp phương tiện tùy thuộc ở chân thật và nương theo đó, chứng Nhứt thiết chủng trí.
Dựa trên tinh thần phương tiện và chân thật theo kinh Pháp Hoa, Ngài Thiên Thai Trí Giả đã đưa ra khái niệm "Thân quyền thật” và "Thừa quyền thật”. "Thân” là thân người được chia ra quyền và thật, tức phương tiện và chân thật. Về giáo pháp Đức Phật đã giảng dạy gọi là "Thừa” cũng có pháp phương tiện và pháp chân thật, gọi chung là thừa quyền thật, được Trí Giả đại sư triển khai như sau:
Tùng thật thi quyền
Khai quyền hiển thật
Phế quyền lập thật
Thật pháp, hay pháp chân thật thì lìa tướng, lìa ngữ ngôn văn tự, lìa cả tâm duyên, nên không nói được, không giải thích được. Thật vậy, sự sống luôn tiếp diễn không ngừng, những người nghe pháp trong lớp học này ở trước mặt tôi đây, một tiếng sau đã có lớp người khác đến thay thế, hoặc những gì nói ra sẽ trở thành quá khứ, không phải là cái hiện tại đang sống động luôn tiếp diễn. Vì vậy, thời gian trôi qua không trở lại, chúng ta hành đạo nên cố gắng sống với "Nhứt niệm hiện tiền”, nói đơn giản là giờ nào việc đó, nhìn thẳng vào hiện tại, hiện tiền mà giải quyết mọi việc, kinh Nguyên thủy gọi là "bây giờ và ở đây”.

* Trang 52 *
device

SANH THÂN HAY THÂN PHƯƠNG TIỆN CỦA ĐỨC PHẬT
Ngài Trí Giả đã dùng hình ảnh hoa sen để ví cho thân quyền và thân thật của Đức Phật như sau:
Vị liên cố hoa
Hoa khai liên hiện
Hoa lạc liên thành
Hoa sen có nhân quả đồng thời, vì hoa chưa nở đã có hạt rồi, đó là điểm khác biệt của hoa sen với các loài hoa khác. Cốt lõi là gương sen, nhưng phải có hoa bên ngoài bao bọc che chở gương sen . Nhìn hoa đã biết cốt lõi của nó là "Vị liên cố hoa”. Con người cũng vậy. Cốt lõi là linh hồn chúng ta, nhưng chúng ta có thân tứ đại bên ngoài để che chở linh hồn bên trong.
Hoa nở thấy gương sen là "Hoa khai liên hiện”. Căn cứ vào cuộc sống con người thì biết được người thật bên trong mình là Phật, là Bồ tát, Thánh hiền, hay là ma quỷ, v.v...
"Hoa lạc liên thành”, hoa rụng xuống, còn gương sen với những hạt mầm để cho những đóa sen kế tiếp nở hoa. Cũng vậy, sanh thân Phật vắng bóng trên cuộc đời, nhưng Pháp thân Phật tồn tại vĩnh viễn. Theo Pháp Hoa, Đức Phật vẫn hiện hữu trong tâm trí chúng ta, trong niềm tin con người. Cuộc sống của Đức Phật và giáo pháp của Ngài quá đẹp, cũng như các hàng Thánh chúng vẫn tồn tại mãnh liệt trong lòng nhân thế, đó chính là ý nghĩa "Hoa lạc liên thành”.
Theo lý giải của Ngài Trí Giả, Đức Phật Thích Ca mang thân người hữu hạn trên cuộc đời thì sanh thân đó là một trong những phương tiện của Ngài và Pháp

* Trang 53 *
device

thân của Đức Phật Thích Ca ở Tịch Quang chơn cảnh mới là thân thật, tức chân thân.
Và điều quan trọng là phải có chân thật mới đưa ra phương tiện được. Ý này được Đức Phật nói rõ trong phẩm Như Lai thọ lượng thứ 16. Đức Phật khẳng định rằng Ngài đã thành Phật từ vô lượng kiếp trước, không phải mới thành Phật trong hiện đời này. Nhưng Trời, người, A tu la đều cho là Phật mới rời cung dòng họ Thích, xuất gia, đến cội Bồ đề gần thành Già Da mà thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Người đời chưa đắc đạo, chỉ thấy bằng mắt thịt, mới tưởng như vậy. Trong khi chư Phật mười phương với huệ nhãn thấy được Đức Phật Thích Ca đã thành Phật từ lâu xa, vì lòng đại bi mà Ngài hiện thân lại cuộc đời này để cứu khổ độ sinh.
Đức Phật xác định rằng Trời, người, A tu la thấy Phật mới thành Vô thượng đẳng giác; nói cách khác, họ chỉ thấy thân tứ đại giả tạm của Đức Phật, còn thân chân thật của Đức Phật là Pháp thân thì chỉ có chư Phật và Bồ tát nhận thấy mà thôi.
Đối với Đức Phật, thân người là phương tiện và chỉ riêng Đức Phật mới có đầy đủ đạo lực làm chủ muôn pháp trong vũ tru, mới có thể coi sanh thân là phương tiện. Còn đối với chúng ta, thân này không phải phương tiện, mà là nghiệp thân; vì chúng ta không muốn mang thân đau khổ, thân xấu xí, thân bệnh hoạn, thân ngu dốt mà vẫn phải gánh chịu nó... Nói chung là mọi người phải chấp nhận một thân thể bất toàn, dù không muốn chút nào, cho nên tất cả mọi người chỉ có nghiệp thân.
Vì sử dụng thân tứ đại như một phương tiện, nên Đức Phật tùy lúc, tùy chỗ, tùy người mà Ngài ứng hiện

* Trang 54 *
device

nhiều thân khác nhau. Trong phẩm Như Lai thọ lượng, Đức Phật cũng cho biết Ngài thành Phật ở nơi này thì có tên này, ở chỗ khác thì có tên khác, gọi đó là thiên bá ức hóa thân Phật.
Với mục đích hiện thân cứu độ, Đức Phật mang sanh thân để độ loài người, hiện hóa thân để độ Trời, A tu la. Nhận thức như vậy, chúng ta thấy Đức Phật Thích Ca sinh trong loài người vì nguyện của Ngài như vậy, không phải bị nghiệp dẫn vô thế giới này mà phải đau khổ. Ví dụ các giảng sư ở thành phố Hồ Chí Minh, phát nguyện đến các láng trại xa xôi để an ủi, giúp đỡ những người cai nghiện, hay người phạm pháp. Quý vị không bị bắt buộc đến đó, chỉ vì nguyện mà đi, vì muốn giải khổ và mang vui cho người. Trong khi những người cai nghiện hay phạm pháp bị bắt tập trung đến đó. Chính hành động nghiện ngập, hay phạm pháp đã tạo thành hậu quả khổ đau cho họ mà nghĩ lại, họ cũng không muốn. Nhưng dù không muốn cũng không thể khác, gọi là nghiệp dẫn. Nói chung, tất cả chúng sinh trong sáu đường sinh tử mang nghiệp của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A tu la, Trời, người, nên đều phải hiện hữu và sinh hoạt trong thế giới tương ưng với nghiệp của họ, không có quyền lựa chọn khác, đó là nghiệp thọ sanh thân.
Tất cả Như Lai và Bồ tát từ đệ bát địa trở lên thọ sanh trong các loài đều do nguyện. Bồ tát từ đệ thất địa trở xuống còn bị nghiệp dẫn, nghĩa là còn những việc xảy đến bất như ý. Đối với Bồ tát đệ bát địa, không có việc gì bất như ý cả, các Ngài hoàn toàn tự tại, chủ động trong mọi tình huống. Thậm chí chúng ta thấy các Ngài bị móc mắt, chặt đầu, nhưng thật sự

* Trang 55 *
device

các Ngài muốn như vậy để tạo thắng duyên làm đạo. Điển hình như Đức Phật Thích Ca cho biết Ngài nguyện gánh chịu những hành hạ thân xác để độ vua Ca Lợi phát tâm. Vì vậy, Bồ tát đệ bát địa trở lên làm bất cứ việc gì, dù phải hy sinh thân mạng cũng nhằm mục tiêu giáo hóa người, đó là phương tiện của Bồ tát; không phải các Ngài bị động, bị chúng sinh hành hạ, vì thật sự mà nói chúng sinh chẳng có một chút khả năng nào làm hại Bồ tát được.
BÁO THÂN PHẬT, hay THÂN PHƯỚC ĐỨC VÀ TRÍ TUỆ VIÊN MÃN
Đức Phật mang thân người và nói pháp phương tiện để mọi người hình dung ra Đức Phật thật vànhận chân được pháp thật. Thật vậy, ứng dụng được tinh ba của pháp Phật và thấy được việc làm siêu tuyệt của Đức Phật, chúng ta nhận ra Đức Phật là người cao quý vô cùng. Và thấy được sự cao quý của Đức Phật là thấy Báo thân Phật và nghe được pháp của Báo thân, tức phước đức, trí tuệ của Đức Phật. Việc nào cũng được Đức Phật giải quyết tốt đẹp, tiêu biểu cho trí tuệ viên mãn và Đức Phật dung hóa được mọi người, thể hiện phước đức vẹn toàn.
Bồ tát mười phương thấy được Báo thân Phật vì các Ngài hành Bồ tát đạo, tu sáu pháp ba la mật, bốn pháp nhiếp của Đức Phật dạy. Tuy nhiên, họ thấy rõ bốn pháp nhiếp và sáu pháp ba la mật của họ so với Đức Phật còn kém xa. Đức Phật hành Bồ tát đạo hơn họ một trời một vực. Chính những thành quả siêu tuyệt của Đức Phật về Bồ tát hạnh đã thôi thúc chư Bồ tát mười phương tìm tới Ngài để cầu học. Chư vị Bồ tát đã

* Trang 56 *
device

đến với thân phước đức trí tuệ của Đức Phật, đến vì Đức Phật đồng hạnh, đồng nguyện và siêu tuyệt hơn họ, không phải đến với sanh thân Phật. Còn hàng nhị thừa đến với Đức Phật là đến với pháp phương tiện Tứ đế và đến với sanh thân Phật.
PHÁP THÂN PHẬT hay CHÂN THÂN PHẬT
Ngoài sanh thân và Báo thân, Đức Phật còn có Pháp thân và chỉ Đức Phật mới có Pháp thân. Khi Đức Phật chưa đắc đạo, chưa chuyển hóa hữu lậu ngũ uẩn thành vô lậu ngũ uẩn, năm anh em Kiều Trần Như cũng không hoan hỷ với Ngài; vì bấy giờ, tất cả đều chấp ngã chấp pháp. Nhưng Đức Phật đạt quả vị Vô thượng Bồ đề, thành tựu Pháp thân, trừ sạch chấp ngã chấp pháp thì vừa trông thấy Đức Phật trở về, năm anh em Kiều Trần Như đã quỳ xuống đảnh lễ Ngài. Sau đó Pháp thân của Đức Phật đã tác động cho Kiều Trần Như xa rời tâm chấp trước, nên ông cũng đắc quả A la hán. Và bốn vị Tỳ kheo còn lại cũng lần lượt đắc Thánh quả nhờ tiếp nhận được đạo lực thanh tịnh của Đức Phật và Kiều Trần Như. Từ đó, giáo đoàn đầu tiên gồm Đức Phật và năm vị Tỳ kheo là biểu tượng của vô lậu ngũ uẩn, tức Pháp thân đã tỏa sáng khiến người người thấy an lành và phát tâm tu theo. Như vậy, Pháp thân Phật rất quan trọng, là tác nhân chính yếu để cảm hóa chúng sinh.
NĂM PHẦN PHÁP THÂN
Muốn có Pháp thân trọn vẹn, cần phải chuyển hóa thân hữu lậu ngũ uẩn thành năm phần Pháp thân là GIỚI Pháp thân, ĐỊNH Pháp thân, HUỆ Pháp thân, GIẢI THOÁT Pháp thân và GIẢI THOÁT TRI KIẾN Pháp thân.

* Trang 57 *
device

Trước nhất, thực hiện đức hạnh theo Phật, chúng ta xa rời chấp trước, không tranh chấp hơn thua, để tạo được thân giới đức, tức giới Pháp thân. Đức Phật đã khẳng định rằng chỉ có đời tranh chấp với Như lai, Như lai không tranh chấp với đời. Và các vị Thánh Tăng cũng dùng đức để cảm hóa người đời, điển hình như Mã Thắng Tỳ kheo giáo hóa Xá Lợi Phất một cách dễ dàng, không bằng lý luận hơn thua mà dáng vẻ giải thoát và giới đức Pháp thân của Ngài đã khiến cho nhà hùng biện bậc nhất ấy phải phát tâm quy ngưỡng.
Ngoài ra, một Tỳ kheo dù nói năng hay yên lặng, vẫn luôn trụ định, nghĩa là thể hiện sức tập trung cao, không bị hoàn cảnh tác động làm vui buồn vinh nhục, nên tâm hồn lúc nào cũng bình ổn, tự tại, giải thoát. Đó là định Pháp thân.
Pháp thân thứ ba là huệ hay trực giác rất cần và là đỉnh cao của người tu. Khi tâm tập trung, không bị hoàn cảnh chi phối, mới nhận ra những việc tốt hay xấu đến với mình, việc làm được hay không được, chỗ nên đến hay nên tránh, nên tiếp xúc với ai về vấn đề gì, v.v... Chưa có huệ giải thì gặp chướng duyên, phiền não liền phát sinh. Trái lại, có huệ, thấy việc xảy ra đúng như dự đoán của chúng ta, nên thuận theo đó mà làm đạo, gọi là quán nhân duyên. Quán nhân duyên hay quán sát chúng sinh cần việc gì, chúng ta đáp ứng xong rồi ra đi, lưu lại trong lòng họ ấn tượng tốt đẹp. Làm được như vậy, việc tu hành của chúng ta nhẹ nhàng thăng hoa, đến đâu cũng được người quý mến. Chính Đức Phật mỗi buổi sáng trước khi đi khất thực giáo hóa, Ngài nhập định để quán nhân duyên xem thành phố nào cần đến và đến độ ai; vì thế Ngài luôn thành công trong việc độ sinh.

* Trang 58 *
device

Và hai Pháp thân sau cùng là giải thoát và giải thoát tri kiến mà Đức Phật thành tựu, vì Ngài đã thoát khỏi sự chi phối của hành uẩn và thức uẩn, cho đến những khởi tâm của Ngài đều lưu xuất từ tâm chơn như hoàn toàn thanh tịnh, không phải khởi từ a lại da thức chứa toàn là nghiệp và phiền não như mọi người. Mọi người suy nghĩ tính toan đủ thứ, nhưng không giải quyết được thì còn tồn đọng trong tâm trí, nên phải khổ sở với nó, nghĩa là luôn chịu sự tác hại mãnh liệt của hành uẩn và thức uẩn và vô số nghiệp xấu phát xuất từ a lại da thức.
Tóm lại, Pháp thân Phật được kết cấu bằng năm phần là giới, định, huệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. Và Đức Phật sử dụng năm phần Pháp thân này để giáo hóa chúng sinh. Pháp thân Phật chính là thân chân thật của Ngài tồn tại vĩnh hằng bất tử.
BÁO THÂN VÀ PHÁP THÂN PHẬT HIỆN HỮU TRONG SANH THÂN PHẬT
Pháp thân và Báo thân Phật không phải là cái gì mơ hồ, xa xăm. Pháp thân và Báo thân Phật đều hiện hữu ngay trong sanh thân của Phật. Ngài Huyền Giác diễn tả ý này là "Huyễn hóa sanh thân tức Pháp thân”. Thật vậy, thân vật chất của Đức Phật là sanh thân và Ngài tu hành, đạt quả vị Vô thượng Bồ đề, thành tựu phước đức trí tuệ đến mức toàn hảo, kết thành Báo thân. Và với lực tác động tốt đẹp của Báo thân Phật vào tâm trí, vào nếp sống của mọi người, mọi loài, Đức Phật đã thành tựu Pháp thân.
Pháp thân và Báo thân Phật hiện hữu trong chính sanh thân tứ đại của Ngài, nhưng Đức Phật đã Niết bàn, sanh thân không còn. Như vậy, Báo thân và Pháp thân Phật có còn tồn tại hay không và đang ngự trị ở đâu ?

* Trang 59 *
device

ĐỨC PHẬT NIẾT BÀN, BÁO THÂN VÀ PHÁP THÂN CỦA PHẬT HIỆN HỮU TRONG GIÁO PHÁP VÀ TRONG TĂNG ĐOÀN
Ngày nay, nhân loại ở khắp năm châu kính trọng Đức Phật là kính trọng phước đức trí tuệ của Ngài và tu theo Đức Phật để thăng hoa phước đức trí tuệ của chính họ. Điều đó có nghĩa là Báo thân Phật, tức trí tuệ và phước đức của Đức Phật vẫn hiện hữu, vẫn còn tác động vào tâm trí con người, vẫn hiện hữu trong sinh hoạt của con người. Đồng thời, giáo pháp của Đức Phật vẫn đang được người người ứng dụng trong cuộc sống. Như vậy, Pháp thân Phật còn hiện hữu dưới dạng thức gọi là giáo pháp Pháp thân.
Lúc Đức Phật tại thế, giáo pháp Phật thể hiện ở mọi suy nghĩ, hành động, lời nói, việc làm của Ngài. Đức Phật là đấng Toàn giác, thân khẩu ý của Ngài đều hàm chứa Pháp thân và Báo thân và tất cả những việc mà Đức Phật làm, những lời Phật dạy đều phát xuất từ tình thương và trí tuệ, kết tinh thành đạo Phật là đạo từ bi, trí tuệ.
Sau khi Đức Phật Niết bàn, hàng xuất gia và hàng cư sĩ lãnh hội giáo pháp Phật và tu hành trong chánh pháp, nên giáo pháp Pháp thân Phật được chuyển đổi thành cái mà kinh Pháp Hoa gọi là thế gian tướng thường trụ. Nghĩa là Pháp thân Phật không phải để trong tủ thờ, nhưng hiện hữu trong niềm tin sâu sắc của mọi người. Từ niềm tin hướng về Đức Phật, Đức Phật được đem đặt trong trái tim chúng ta, thể hiện thành hành động và việc làm lợi ích chúng hữu tình; đó là thế gian tướng thường trụ hay thường trụ Pháp thân Phật.

* Trang 60 *
device

Có thể khẳng định rằng Pháp thân Phật thường trụ trong nếp sống của các Tỳ kheo, hay Tăng đoàn chính là Pháp thân Phật. Thật vậy, không có Tăng đoàn thanh tịnh, hòa hợp truyền bá chánh pháp, giáo hóa người, thì Phật pháp không tồn tại. Dù có chùa, nhưng thiếu người tu đắc đạo, đạo Phật coi như vắng bóng. Pháp thân Phật hiện hữu trong tâm trí, trong lời nói và trong việc làm của các Tỳ kheo đắc đạo. Tỳ kheo không đắc đạo không thể hiện được Pháp thân Phật.
Tóm lại, Đức Phật từ vô lượng kiếp trước tu hành đắc đạo, thành tựu viên mãn phước đức trí tuệ, tạo nên Báo thân và Ngài dùng trí tuệ của đấng toàn giác chi phối, điều động các pháp, biến các pháp thành Pháp thân. Pháp thân Phật hiện hữu trong thế giới Thường Tịch Quang, tức bản thể thanh tịnh hoàn toàn.
Từ Đức Phật gốc là "Thể sáng suốt tuyệt đối” mới hiện ra "Diệu dụng”; đó là Đức Phật hiện thân trên cuộc đời với những đức tánh trọn lành do tu hành từ vô lượng kiếp trước, gọi là yếu tố thành Phật đã đầy đủ. Từ đó mới cấu thành một sanh thân Phật với tướng toàn hảo, bốn tâm vô lượng, trí siêu xuất thế gian, tình thương đối với chúng sanh bao la vô bờ bến, sức khỏe không ai sánh bằng, v.v...
Những điều kiện thành Phật như vậy được Ngài Trí Giả diễn tả là "Tùng bổn thùy tích”, nghĩa là Đức Phật thật từ "Bổn” là gốc ở Tịch Quang chơn cảnh, hiện ra "Tích” là Đức Phật sanh thân ở trên cuộc đời. Và "Khai tích hiển bổn” là Đức Phật mượn sanh thân tu hành thành Phật để chỉ cho mọi người nhận ra Đức Phật thật đã thành Phật từ lâu xa.

* Trang 61 *
device

Ngài kết luận "Phế tích hiển bổn” là Đức Phật sanh thân nhập diệt để Pháp thân Phật vĩnh hằng tồn tại. Vì nếu Đức Phật Thích Ca sống mãi, chúng ta chỉ biết có một Đức Phật lịch sử đó thôi. Nhưng Đức Phật Thích Ca nhập diệt thì hiện ra Pháp thân Phật, nghĩa là ở đâu có tâm thành hướng về Đức Phật thì ở đó liền có Đức Phật hiện hữu giáo hóa. Vì vậy giữ được Pháp thân Phật hằng hữu trong tâm trí chúng ta, thì Đức Phật không bao giờ nhập diệt.
Theo tinh thần vừa nói, Ngài Nhật Liên dạy rằng đối với người tu Bổn Môn Pháp Hoa, Đức Phật không nhập diệt là phước đức, trí tuệ của Đức Phật không nhập diệt, Pháp thân vĩnh hằng không nhập diệt. Nhờ đó, chúng ta nương theo Pháp thân Phật bất sinh bất diệt để tu hành, Ngài gia hộ cho chúng ta. Và được như vậy là người đó có nhân duyên đắc độ với Đức Phật, là người giữ gìn ngọn đèn chánh pháp mãi mãi hiện hữu sáng ngời để soi đường dẫn lối cho nhân loại ra khỏi đường hiểm sinh tử đến bến bờ giải thoát vĩnh hằng bất tử đồng với Đức Phật vậy.
Tóm lại, phẩm thứ hai của kinh Pháp Hoa là phẩm Phương tiện, tất nhiên chính yếu nói về phương tiện; nhưng có thể hiểu rộng ra, toàn bộ kinh Pháp Hoa từ phẩm Tựa thứ nhất đến phẩm An lạc hạnh thứ 14 đều là phương tiện, thuộc Tích môn, trong đó Đức Phật giới thiệu ứng thân Phật là thân phương tiện của Ngài và các pháp mà Đức Phật chỉ dạy từ trước đều là pháp phương tiện. Hiểu sâu

* Trang 62 *
device

xa hơn nữa, trong suốt 49 năm giáo hóa độ sinh, Đức Phật đã đưa ra vô số pháp phương tiện nhằm dìu dắt mọi người thâm nhập pháp chân thật trên lộ trình tiến đến Phật quả. Và Đức Phật đã sử dụng thân phương tiện là sanh thân Thích Ca Mâu Ni Phật để chỉ cho mọi người nhận ra Pháp thân Phật hằng hữu vô cùng trong khắp Pháp giới.
Theo dấu chân Phật, tất yếu chúng ta phải từng bước nuôi lớn Báo thân và Pháp thân của chính mình. Trên bước đường tu, cần sử dụng những phương tiện của Đức Phật tương ưng với mình để tiến tu, phát huy đầy đủ phước đức trí tuệ, thành tựu được cho mình Báo thân viên mãn, tức trọn vẹn hạnh Bồ tát. Cuối cùng, chuyển đổi được hữu lậu ngũ uẩn thành vô lậu ngũ uẩn, là có được Pháp thân bất sinh bất diệt, vĩnh hằng giống như Đức Phật, không khác.
Đó là mục đích mà Đức Phật thị hiện sanh thân trong thế giới loài người của chúng ta, kinh gọi là khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến và đó cũng là mục tiêu của tất cả người con Phật muốn đạt được trên lộ trình thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh.
Riêng tôi, nhờ nương pháp phương tiện của Đức Phật tu hành, hoàn cảnh lần đổi khác một cách tốt đẹp vô cùng và tôi được Phật hộ niệm, bổ xứ cho làm một số việc, thành tựu một ít Phật sự. Vì vậy, tôi rất tâm đắc lời tâm sự của Xá Lợi Phất bộc bạch với Đức Phật rằng dù đầu đội và hai vai cõng vác Phật trải qua vô số kiếp cũng không bao giờ đền đáp được công ơn vô bờ bến của Đức Thế Tôn.

* Trang 63 *
device

 
Cương Yếu Kinh Pháp Hoa