LOGO VNBET

Ý nghĩa
THÍ DỤ

 
Ngài Trí Giả chia 28 phẩm kinh Pháp Hoa thành hai phần : Tích môn gồm 14 phẩm đầu và Bổn môn gồm 14 phẩm sau. Tích môn nói về cuộc sống thực tế, về pháp Phật dạy, về phương cách tu hành của chúng ta; cho nên Tích môn gần gũi với cuộc sống của chúng ta hơn. Bổn môn nói về thế giới tâm linh bất sinh bất diệt của Đức Phật.
Tích môn gồm có ba phần : Mở đầu, chánh tông và lưu thông. Phẩm Tựa thứ nhất là phần mở đầu kinh. Từ phẩm Phương tiện thứ 2 đến phẩm Thọ học vô học nhơn ký thứ 9 thuộc phần chánh tông, tức nội dung kinh. Và phần lưu thông, hay kết luận của Tích môn gồm phẩm Pháp sư thứ 10 đến phẩm An lạc hạnh thứ 14.
Phần chánh tông hay nội dung của Tích môn đưa ra vấn đề "khai tam hiển nhất” nghĩa là Đức Phật khai triển giáo pháp thành ba thừa là Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, để cuối cùng dẫn đến nhất Phật thừa bao hàm tất cả ba thừa. Vì pháp tu của ba thừa tuy khác nhau, nhưng tất cả Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát đều là đệ tử Phật và cùng có một mục tiêu duy nhất giống nhau là giải thoát và giác ngộ viên mãn; cho nên kết quả sau cùng đạt được phải giống nhau là tất cả đều sẽ thành Phật.

* Trang 64 *
device

Vì vậy, trong phần chánh tông của Tích môn, Đức Phật đã thọ ký cho hàng Thanh văn thành Phật, gọi là "Nhị thừa tác Phật”; trong khi các kinh khác chỉ thọ ký cho Bồ tát thành Phật. Tuy các vị Thanh văn được thọ ký, nhưng Đức Phật nhắc một điều kiện cần thiết rằng các vị đắc quả A la hán phải phát tâm Bồ đề, tu Bồ tát đạo, cho đến khi đầy đủ tâm đại bi, trọn vẹn hạnh Bồ tát, mới thành Vô thượng Chánh đẳng giác. Còn các vị A la hán trụ Niết bàn là thú tịch Thanh văn không thành Phật được.
Phần Tích môn Pháp Hoa cũng được Ngài Trí Giả chia ra ba vòng gọi là tam châu, gồm có thuyết pháp châu, thí dụ châu và nhân duyên châu. Pháp thuyết châu chủ yếu ở phẩm Phương tiện thứ 2 và nửa phần đầu của phẩm Thí dụ thứ 3. Thí dụ châu gồm nửa phần sau của phẩm Thí dụ thứ 3 cho đến phẩm Thọ ký thứ 6. Và nhân duyên châu gồm ba phẩm : Hóa thành dụ thứ 7, Ngũ bá đệ tử thọ ký thứ 8, Thọ khọc vô học nhơn ký thứ 9.
Phần pháp thuyết châu xác định rằng tất cả những gì Đức Phật chỉ dạy và thể hiện trong cuộc sống đều là phương tiện. Từ pháp tu của nhơn thừa, dù đơn giản nhất như chắp tay nói Mô Phật hay trẻ con nhóm cát làm tháp Phật, cho đến pháp giải thoát của hàng nhị thừa và pháp khó làm là lục độ vạn hạnh của Bồ tát, tất cả đều là phương tiện của Đức Phật đưa ra để dẫn dắt tất cả mọi người về nhất Phật thừa, tức thành tựu quả vị Phật. Đó là điểm đặc biệt của kinh Pháp Hoa khẳng định tất cả các pháp Phật đồng quy về Phật thừa; trong khi các kinh khác nói có nhiều "Thừa” tức nhiều pháp tu khác nhau dẫn

* Trang 65 *
device

đến những quả vị riêng biệt cố định, không thể tiến đến quả vị Phật được.
Theo Pháp Hoa, tất cả đệ tử Phật tuy mang hình thức khác nhau, mầu áo tu khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, sinh hoạt khác nhau, nhưng tất cả đều sẽ thành Phật. Tư tưởng này nhằm nói lên tinh thần dung hóa cao tột của Pháp Hoa, nhằm giúp cho mọi người xóa bỏ định kiến, chấp trước; vì cố chấp là căn bệnh cố hữu của con người khiến cho họ phạm sai lầm và trầm luân trong sinh tử, cũng như luôn tạo ra sự mâu thuẫn dẫn đến tình trạng phân biệt và chống đối lẫn nhau. Với tinh thần bao dung tất cả mọi người, tất cả pháp tu, nên kinh Pháp Hoa được gọi là Viên giáo, tức giáo pháp viên dung vô ngại.
I - ĐỨC PHẬT THỌ KÝ CHO THANH VĂN
Mở đầu phẩm Thí dụ thứ ba, Đức Phật thọ ký cho Xá Lợi Phất thành Phật hiệu là Hoa Quang Như lai. Bấy giờ, Xá Lợi Phất mới trình bày với Đức Phật rằng trước kia Ngài đã ấn chứng cho tất cả đệ tử là A la hán. Nhưng Xá Lợi Phất còn cảm thấy hoài nghi rằng nếu ông và các vị khác đều là A la hán giống như Đức Phật, thì tại sao Đức Phật yên lặng mà mọi người vẫn kính ngưỡng, tại sao Đức Phật không khổ công nhọc sức mà việc nào cũng thành tựu tốt đẹp. Trong khi họ cố gắng thuyết phục, nhưng người cũng không nghe theo, họ ra sức làm nhưng việc vẫn không thành tựu.
Nay, trong hội Pháp Hoa, Xá Lợi Phất mới nhận biết được sự thật rằng Đức Phật ấn chứng cho họ là A la hán đồng với Đức Phật, thì chỉ là danh tự La hán mà

* Trang 66 *
device

thôi và đồng với Đức Phật là đồng nghĩa giải thoát, không đồng phước đức trí tuệ. Thật vậy, Đức Phật đã trải qua vô số kiếp hành Bồ tát đạo cho đến khi thành tựu quả vị Phật, Ngài luôn mang nguồn vui và cứu khổ chúng sinh, cho nên họ đã thọ ơn Phật, nay gặp lại mới kính ngưỡng, phát tâm tu theo Đức Phật. Nói cách khác, Đức Phật khẳng định việc hành Bồ tát đạo, tức phải tu tạo phước đức và trí tuệ cho đến viên mãn là điều cần thiết nhất để thành tựu quả vị Phật. Còn các A la hán chỉ hướng đến giải thoát cho riêng bản thân, không quan tâm đến việc cứu khổ độ sinh. Với tâm ly trần, cách biệt chúng sinh như vậy, khó cảm hóa được người và không thể tạo công đức, nên không thể thành Phật.
Đức Phật ra đời thuyết pháp giáo hóa giúp cho nhiều người thấy được con đường sống an vui giải thoát, nên người người quý kính đạo Phật. Nhưng Đức Phật Niết bàn, đệ tử Phật hướng tâm về Niết bàn giải thoát, không quan tâm đến cuộc đời; tất nhiên đẩy mọi người rời xa đạo Phật, làm đạo Phật bị suy yếu. Tư tưởng Đại thừa mới ra đời để vực dậy sức sống của đạo Phật, tiêu biểu là kinh Duy Ma, Hoa Nghiêm, Bảo Tích, Pháp Hoa đã phản ảnh ngược lại tư tưởng tiêu cực yếm thế của thời kỳ Phật giáo bộ phái, với chủ trương từ giải thoát môn hướng về cuộc đời, làm những việc lợi ích cho mọi người. Mạnh nhất là kinh Duy Ma thể hiện tinh thần phục vụ chúng sinh là chính, nên không đặt nặng hình thức tu sĩ, mà đề cao vai trò cư sĩ dấn thân vào mọi hoạt động lợi lạc cho đời. Trí Giả gọi đó là thời kỳ ức dương giáo, tức chê trách hạnh tu viễn ly của Thanh văn và đề cao hạnh cứu đời của Bồ tát.

* Trang 67 *
device

Đến kinh Pháp Hoa dung thông tất cả các pháp, từ tứ Thánh đế cho đến thập nhị nhân duyên và sáu pháp ba la mật tiêu biểu cho tam thừa giáo đều là phương tiện của Đức Phật đưa ra. Tùy hoàn cảnh từng người thích hợp với pháp tu nào thì thực hiện pháp đó và sau cùng cũng phải cứu nhân độ thế. Người nghiệp chướng trần lao không có khả năng cứu người, họ phải đắc quả A la hán, thân tâm thanh tịnh mới cứu giúp người được. Kinh Pháp Hoa xác định rằng đắc A la hán thật thì phải vào đời giáo hóa người và chính Đức Phật cũng phải hành Bồ tát đạo, tức cứu khổ độ sinh mới thành Phật.
Xá Lợi Phất là người trí tuệ bậc nhất, thuộc hàng thượng căn, nhận ra yếu nghĩa Phương tiện mà Đức Phật chỉ dạy, liền nói lên suy nghĩ rằng "Con từ miệng Phật sinh ra, từ pháp hóa sinh và được pháp Phật, nay mới biết mình thật sự là con của Phật, có thể thành Phật”(Tùng Phật khẩu sanh, tùng pháp hóa sanh, đắc Phật pháp phần, cố danh Phật tử).
Nhận được ý Phật dạy, Xá Lợi Phất được Đức Phật thọ ký; nghĩa là không phải đắc quả A la hán là hoàn mãn việc tu hành, phải dùng trí tuệ và đạo hạnh để tiếp tục hành Bồ tát đạo. Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát không phải là ba con đường khác nhau dẫn đến ba điểm riêng biệt. Nhưng phải đắc A la hán vị, nghĩa là thân tâm thanh tịnh, diệt sạch kiết sử bên trong, hoàn toàn tốt lành, mới có khả năng hành Bồ tát đạo, vào đời cảm hóa người được.
Đức Phật dạy rằng Xá Lợi Phất đã đi qua đoạn đường thứ nhất, có tư cách thánh thiện của A la hán rồi, nên tiếp tục đoạn đường thứ hai, hành Bồ tát hạnh

* Trang 68 *
device

viên mãn, đầy đủ phước đức trí tuệ, mới được thọ ký thành Phật hiệu là Hoa Quang. "Hoa” là tinh ba, "Quang” là ánh sáng. Trí Giả gọi đây là thọ ký cho hàng thượng căn thuộc vòng một là thuyết pháp châu, vì nghe pháp mà tỏ ngộ yếu chỉ Phật dạy. Với ánh sáng trí tuệ, Xá Lợi Phất thấu tỏ được nghĩa lý sâu xa, làm cho tinh ba Phật pháp càng sáng lên. Đi vào con đường tuệ giác và có đầy đủ đạo lực, Xá Lợi Phất sẽ khơi sáng được ngọn đèn trí tuệ, mới thọ ký cho đệ tử của Ngài thành Phật hiệu là Hoa Túc An Hành. Thật vậy, người mở đạo gánh chịu biết bao khó khăn gian khổ, cho nên người thừa kế có được hoa sen đỡ chân, tức nương nhờ thành quả có sẵn của thầy Tổ mới tiến tu dễ dàng hơn. Điển hình như Phật giáo Việt Nam chúng ta, nhờ Thiền sư Vạn Hạnh và chư vị tiền nhân đã dày công tạo dựng những thành quả lớn lao mang lại lợi lạc cho đời, để lại cho chúng ta sự nghiệp vàng son, ngày nay chúng ta mới có con đường làm đạo phẳng phiu, thơm ngát hương sen.
Nghe Đức Phật chỉ dạy về pháp phương tiện, Xá Lợi Phất hiểu được ý sâu xa, nên Ngài phát tâm Bồ đề tiếp tục hành Bồ tát đạo; trong khi hàng trung căn vẫn không hiểu ý Phật. Họ không hiểu tại sao trước kia Đức Phật nói các đệ tử Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát đều là A la hán giải thoát; nhưng nay Ngài nói Pháp Hoa là nhất Phật thừa, người tu Thanh văn không phải là đệ tử Phật, chỉ có Bồ tát, hay tu theo nhất thừa là đệ tử Phật.
Vì những người không có khả năng tiếp thu nghĩa lý sâu xa của pháp phương tiện, không hiểu được yếu nghĩa "Khai tam thừa hiển nhất thừa” mà Đức Phật

* Trang 69 *
device

vừa chỉ dạy, Ngài phải nói thêm thí dụ cho dễ hiểu. Không riêng gì hội Pháp Hoa, trong tất cả các thời pháp, Đức Phật thường đưa ra thí dụ. Vì vậy, thí dụ cũng là một trong những phương tiện khéo léo mà Đức Phật sử dụng để tương ứng với hoàn cảnh, với trình độ của những người có nhân duyên theo Ngài, giúp cho họ hiểu được và vận dụng được ý Phật dạy trong cuộc sống.
II - Ý NGHĨA CỦA 9 THÍ DỤ TRONG KINH PHÁP HOA
Thí dụ là đưa ra việc tương tự để người ta nhận ra ý chính, vì nói pháp họ không hiểu. Điều này thường được kinh gọi là ngón tay chỉ mặt trăng, tức đi vào đạo bằng thí dụ mà nhận ra giáo nghĩa. Trong kinh Pháp Hoa, thí dụ cũng là một trong những vấn đề quan trọng được Đức Phật triển khai nhằm làm sáng tỏ những nghĩa lý sâu xa mà từ trước Ngài chưa nói đến; có tất cả chín thí dụ : 1- Dụ ba xe và Nhà lửa (Tam xa hỏa trạch), 2- Dụ cùng tử, 3- Dụ Dược thảo, 4- Dụ Hóa thành, 5- Dụ viên châu trong áo (Hệ châu), 6- Dụ viên châu trên đỉnh đầu (Kế châu), 7- Dụ thầy thuốc (Lương y), 8- Dụ người mù từ thuở nhỏ, 9- Dụ người thợ làm đồ gốm.
Mỗi thí dụ có điểm đặc sắc riêng để nói lên một pháp cần thiết cho chúng ta trên bước đường tu. Trong mười đại đệ tử của Đức Phật, chỉ có Xá Lợi Phất vào đạo bằng con đường hiểu biết. Vì vậy, khi Đức Phật nói Phương tiện, Xá Lợi Phất nhận ra ngay yếu nghĩa này. Để khai mở tâm trí cho những người chưa hiểu được ý Phương tiện, Đức Phật liền nói thí dụ và thí dụ mở đầu kinh Pháp Hoa là ba xe và Nhà lửa.

* Trang 70 *
device

 
Cương Yếu Kinh Pháp Hoa