LOGO VNBET
  •  THÍ DỤ 1 : BA XE VÀ NHÀ LỬA TRONG PHẨM THÍ DỤ THỨ BA
Đức Phật phải dùng thí dụ ba xe để chỉ cho đại chúng hiểu tam thừa giáo là Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa. Ba xe chở người đi, giáo pháp cũng đưa người từ phàm phu lên hàng Hiền thánh, ra khỏi Nhà lửa tam giới.
Tam giới là ba cõi mà chúng sinh trầm luân sinh tử, gồm có Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Dục giới chỉ cho thế giới còn lòng ham muốn. Ham muốn ít thì khổ ít; tham vọng nhiều chừng nào khổ nhiều chừng đó; không ham muốn thì không khổ. Nhưng ở Sắc giới, ta không có lòng ham muốn mà vẫn khổ. Nói cách khác, sống trong thế giới Dục, ta không ham muốn vẫn bị sự ham muốn của người khác tác hại. Thí dụ phải sống chung với những người tham lam, hung ác, mê muội, họ tranh giành quyền lợi với nhau, rồi đốt nhà, chắc chắn ta cũng phải bị khổ lây.
Đây là tư tưởng đặc sắc theo tinh thần Đại thừa. Từ trước chúng ta vẫn nghĩ rằng mình xuất gia không ham muốn, không tranh chấp, nên không khổ; người ham muốn thì phải khổ. Nhưng ý niệm đó cũng không đúng hoàn toàn; vì chỉ cần sự hiện hữu của ta bất lợi cho người là họ tiêu diệt ta. Điều này nhằm gợi cho chúng ta ý thức rằng cách sống tiêu cực của người tu sẽ làm cho Phật giáo bị suy yếu cho đến mất dạng. Phật giáo Đại thừa muốn nhấn mạnh ý thức độ tận chúng sinh là rất cần thiết, không thể giải thoát một mình. Trong kinh điển Đại thừa, Đức Phật thường khẳng định rằng việc giải thoát cho riêng mình là điều không thực tế, không thể có được, ví như lông rùa sừng thỏ (con rùa không

* Trang 71 *
device

có lông, con thỏ không có sừng). Ta sống ở đây an lành còn người không an lành là việc của họ; không thể nghĩ như vậy được. Ngày nay, thực tế cuộc sống cho thấy rõ lý này. Nếu nhiều người không có ý thức bảo vệ môi trường sống trong lành, cứ phá rừng bừa bãi, cứ xả thải chất độc vào sông biển ao hồ, vào lòng đất, vào không khí, sẽ gây ra ngập lụt, hạn hán, ô nhiễm môi sinh cùng nhiều dịch bệnh có hại cho mạng sống và sức khỏe của con người và muôn loài. Như vậy, dù chúng ta vô can trong những việc sai phạm đó, cũng phải gánh tai họa như thường. Phải bảo vệ môi trường sống trong đó có ta, ta mới tồn tại được. Đó là tinh thần nổi bật của Đại thừa, đừng nghĩ ta không ham muốn, sống cách ly là được bình yên; vì Đức Phật nói rằng lòng ham muốn của con người mạnh đến độ đốt cháy cả Trời Hữu đảnh, làm sao ta được yên với họ. Phải xây dựng mọi người và xây dựng xã hội cho tốt đẹp; đó là cách sống an lành nhất và cũng là pháp tu giúp chúng ta phát huy phước đức trí tuệ để tiến đến Phật quả, kinh Pháp Hoa muốn khẳng định điều này.
Sở dĩ những giai đoạn trước, Đức Phật bảo các đệ tử Thanh văn an trụ Niết bàn giải thoát, vì lúc đó, thân tâm của các vị này còn nhiều khó khăn và phiền não, không tự lo được cho họ an vui, làm thế nào lo cho người khác. Nay tâm trí những vị Thanh văn này đã thanh tịnh, sáng suốt và có phước đức, Đức Phật mới triển khai yếu nghĩa làm cho người an vui chính là làm cho mình an vui.
Và cõi bất an thứ ba trong Nhà lửa là Vô sắc giới cũng là thế giới của tâm. Tâm ta không ham, nhưng

* Trang 72 *
device

người cũng tranh chấp với ta, thì ta trụ tâm, sống với tâm, không ai làm phiền được mình. Tôi cũng có thời gian luyện tâm như vậy; trên thực tế muốn đi đến nơi nào mà không được, cách dễ nhất là ta đi bằng tâm, chẳng cần ai cho phép, không cần giấy thông hành, không cần ăn uống, không có điều kiện nào ràng buộc được mình. Nhưng Đức Phật dạy rằng sống với tâm như vậy cũng không an ổn lâu dài được.
Thật vậy, trải qua thời gian tu hành, tôi suy nghiệm lại, nhận thấy xã hội hoặc đoàn thể cũng thường tác động đến tâm lý mình. Nếu xã hội tốt, lòng chúng ta tự cảm thấy nhẹ, hoặc nếu ở chùa còn nhiều người xấu, ta cũng dễ nặng lòng. Đó là áp lực tâm lý không thấy bằng mắt (Vô sắc giới) nhưng rất quan trọng hơn cả thế giới vật chất chúng ta sống. Người có đời sống nội tâm dễ nhận ra điều này. Đơn giản một việc nhỏ như sống chung trong một chùa, nếu tất cả cùng tu một pháp, ta cảm thấy nhẹ nhàng; nhưng nếu tu nhiều pháp khác nhau, có suy nghĩ khác nhau, chúng ta đã thấy khác.
Thế giới cộng tồn là tất cả mọi người cùng sống chung trong xã hội, cùng có mối tương quan tương duyên mật thiết, không thể an toàn riêng một mình. Thế giới cách ly là thế giới của người xuất gia, nhưng chắc gì chúng ta yên ổn được, nếu xã hội không yên, đại chúng không yên. Và sống trong thế giới vật lý và siêu vật lý (Sắc giới và Vô sắc giới), dù chúng ta từ bỏ vật chất, nhưng vẫn bị áp lực tâm lý. Có thể nói từ những việc không hòa hợp trong chùa cho đến vô số tranh chấp ngoài xã hội và rộng ra đến những sinh hoạt sai biệt của muôn loài trong Pháp giới, chúng ta khó thoát

* Trang 73 *
device

khỏi áp lực tâm lý của ba thế giới Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Đó chính là cái lý mà Đức Phật dạy rằng "Tam giới vô an du như hỏa trạch”; ở trong ba cõi Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới ví như ở trong Nhà lửa, không có chút nào an toàn. Bao giờ chúng ta độ tận chúng sinh mới thật sự thoát khỏi sự bất an. Nói cách khác, chúng ta tu hành được thanh tịnh, giải thoát, an lành và sử dụng thân tâm an lành đó để đóng góp cho an sinh xã hội cao hơn, thì chúng ta được an ổn hơn nữa. Thực tế đã chứng minh điều này, hiện nay Phật giáo chúng ta đóng góp tích cực cho nhiều hoạt động xã hội tương đối tốt, nhờ đó xã hội đánh giá Phật giáo tốt và tất nhiên sinh hoạt của chúng ta cũng được dễ dàng theo. Càng làm tốt cho cuộc đời, đời sống chúng ta càng an ổn, tinh thần chúng ta càng nâng cao và hoạt động của đạo pháp càng được phát triển hơn.
Giáo pháp nhằm giúp chúng ta thoát ly Nhà lửa tam giới được ví như ba xe, ngầm nói rằng chúng ta tùy theo hoàn cảnh của từng người mà đóng góp lợi ích khác nhau cho đạo pháp và xã hội, không phải ai cũng giống nhau. Vì vậy, Đức Phật phải dùng phương tiện nói pháp tam thừa cho phù hợp với căn tánh, hay yêu cầu của ba hạng người, thượng, trung và hạ. Người căn tánh thấp áp dụng theo người trình độ cao không được và ngược lại, người giỏi không thể sống theo cách của người trí kém.
Đối với những người bị chèn ép, đau khổ, nhàm chán cuộc sống mà bảo họ phát tâm Bồ đề để lo cho đời, chắc chắn họ không nghe. Vì thế, Đức Phật ứng với hoàn cảnh và tâm trạng của người chán đời mà Ngài dạy pháp

* Trang 74 *
device

tu từ bỏ tất cả, bỏ nhà cửa, bỏ gia đình, bỏ công việc để được giải thoát; kinh thường gọi là đoạn dục khử ái là việc cấp bách, giống như người bị mũi tên độc bắn trúng, phải gấp rút nhổ bỏ mũi tên và chữa lành vết thương.
Tuy nhiên, nếu không hiểu rõ cái lý của việc đoạn dục khử ái mà loại bỏ luôn cả tình cảm trong sáng và suy nghĩ đúng đắn để trở thành gỗ đá là sai hoàn toàn. Nếu thực chất của đạo Phật như vậy, chắc chắn Phật giáo không thể nào tồn tại hơn hai ngàn năm trăm năm trên khắp năm châu. Tinh thần Đại thừa triển khai yếu nghĩa của "Dục”. Ái dục chỉ cho tâm ham muốn ủy mị, tội lỗi, gây ra đau khổ, thì phải đoạn diệt tận gốc. Còn tình thương trong sáng muốn cứu đời giúp người và ham muốn có trí sáng suốt mà từ bỏ làm sao thành Thánh nhân được. Theo Đại thừa, "Tu hành vô dục, đạo quả nan thành” là nghĩa này. Những ham muốn tốt đẹp rất cần thiết cho việc tiến tu, như muốn phát huy hiểu biết theo Phật, muốn thực tập pháp giải thoát, muốn đạt được quả vị của Hiền thánh, cho đến muốn thành tựu Phật quả.
Xá Lợi Phất nghe Đức Phật dạy giáo pháp tam thừa là phương tiện, Ngài đã hiểu được yếu nghĩa và phát tâm Bồ đề, tu Bồ tát hạnh. Nhưng hàng trung căn không hiểu tại sao Đức Phật lại khẳng định rằng chỉ có nhất Phật thừa, trong khi tam thừa mà họ đã thể nghiệm trong suốt 40 năm theo Phật, nay lại bị Ngài phủ nhận. Để hàng trung căn không bị chấp vào tam thừa giáo, Đức Phật phải dùng thí dụ ba xe và Nhà lửa. Cuộc sống trong cõi Sắc giới, Dục giới và Vô sắc giới không an ổn giống như ở trong Nhà lửa. Lửa này là lửa nghiệp và phiền

* Trang 75 *
device

não. Tất cả mọi người sống trên cuộc đời phải chịu đau khổ chỉ vì nghiệp và phiền não chi phối họ. Nghiệp chỉ cho định kiến của chúng ta. Định kiến là ta nghĩ và muốn điều gì, nhưng thực tế không như ta muốn. Khi Đức Phật tại thế, một số người tham chấp đi tu, tất nhiên không đạt được những gì họ tham cầu, nên phải khổ. Lửa nghiệp và lửa phiền não đốt chúng ta; nếu hết nghiệp và phiền não sẽ hết khổ. Vì vậy, Đức Phật nói rằng chúng sinh thấy Ta bà này cháy rụi, nhưng Tịnh độ của Đức Phật Thích Ca ở tại nơi đây vẫn hằng tốt đẹp và an ổn. Thực tế cho thấy những người mang nghiệp nói rằng xã hội này bất an, nhưng chúng ta tu hành có thấy gì bất an đâu. Nếu nghiệp khởi lên, liền đòi hỏi, tranh đấu, dẫn đến bị bắt, bị tù tội, phải khổ thôi. Trái lại, biết sống với phước đức và hoàn cảnh thực tế của chúng ta, tất nhiên được an ổn.
Ở trong Nhà lửa tam giới này, có đủ thứ rắn rít, hùm beo, chó sói, v.v... tiêu biểu cho những kẻ hung ác trong xã hội. Nếu để lòng tham thúc đẩy bị mờ mắt, mà kết thân với họ là khổ liền. Đức Phật dạy chúng ta phải có trí tuệ, nghĩa là tỉnh táo và sáng suốt, nhìn ánh mắt, giọng nói, tướng đi của họ mà biết được họ đang đội lốt gì, tâm họ xấu ác thế nào, thì không bao giờ họ lừa gạt ta được. Ông trưởng giả tiêu biểu cho Đức Phật nhìn thấy Nhà lửa như thế, mà những người con của Ngài là Bồ tát, Duyên giác và Thanh văn đang đi lạc vào trong đó. Đức Phật đã ra khỏi Nhà lửa một cách đơn giản, nhưng vì muốn cứu những người con đó nên Ngài phải dấn thân vào Nhà lửa, nghĩa là Đức Phật hiện hữu trên cuộc đời này suốt 49 năm và dùng vô số phương tiện

* Trang 76 *
device

để cứu độ họ. Tuy nhiên, chỉ có ba hạng người là Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát nương được phương tiện là giáo pháp tam thừa của Đức Phật đưa cho và thoát được Nhà lửa mà thôi.
Nhà lửa dụ cho hoàn cảnh xã hội đầy phức tạp, nhiều phiền muộn khổ đau mà mọi người đang ở trong đó và Đức Phật đưa ra ba phương cách giải quyết vấn đề được ví dụ bằng ba xe. Mỗi người tùy hoàn cảnh của mình mà ứng dụng cách thích hợp mới giải thoát. Cách thứ nhất là tránh né, tức Thanh văn thừa. Việc tu hành của chúng ta là tránh đụng chạm với tất cả mọi người, đó là cách giải quyết của người còn yếu kém; vì không có khả năng mà chống lại thì tự chuốc họa vào thân. Vì vậy, hàng Thanh văn chỉ lo xây dựng đạo đức cho bản thân mình; làm việc khác là tự sát. Theo Phật, nhận chân được xã hội như thế, hoàn cảnh như thế, ta phải làm gì để sống yên ổn. Nhờ vậy, hàng Thanh văn đệ tử thật thì không bị lửa phiền não, lửa nghiệp đốt chết; vì họ đã trì giới thanh tịnh, triệt tiêu được tham sân si, nên huệ sinh ra, mới không mắc phải cạm bẫy của thế gian. Còn kẹt tham sân si, nhất định bị đọa. Thành tựu 37 phẩm trợ đạo, thân tâm thanh tịnh, hàng Thanh văn ra khỏi Nhà lửa tam giới, đến giải thoát Niết bàn.
Tuy nhiên, cách này không thể thích hợp cho tất cả mọi người. Đức Phật dạy thêm cách giải quyết thứ hai là Duyên giác thừa. Cuộc đời vốn phức tạp, muôn mặt, đòi hỏi chúng ta phải có trình độ nhận thức sâu sắc, vì thấy sai lầm là phải trả giá đắt. Đối với hàng Duyên giác thông minh, Đức Phật dạy quán sát lý duyên sinh, thấy cuộc đời này là ảo mộng phù du, không tham đắm, nên

* Trang 77 *
device

không bị mê hoặc, nên cũng ra khỏi Nhà lửa. Thực tế là những nhà tu trí thức, hay những nhà nghiên cứu lớn nhận thấy Phật giáo là môn triết lý sống rất hay, nên thường tìm hiểu, phân tích giáo lý để rút ra điều thích hợp, ứng dụng trong cuộc sống cũng được an lạc.
Và cách thứ ba là Bồ tát thừa, nghĩa là những người có trí tuệ, có năng lực và đạo đức thì có thể dấn thân làm việc lớn, cứu giúp được nhiều người. Đức Phật dạy họ áp dụng sáu pháp ba la mật để trở thành người lãnh đạo, nhận biết người đáng độ, việc đáng làm, mới thành tựu công đức và được an vui giải thoát; không phải người nào cũng độ được, không phải việc nào cũng làm được. Đức Phật cũng chỉ độ được người có duyên với Ngài. Người tâm trí mê muội cứ nghĩ độ tận được chúng sinh, nhưng chưa độ được mà đã bị họ đốt chết.
Vì vậy, tam thừa giáo đều là pháp phương tiện của Đức Phật đưa Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát vào đạo và dẫn họ ra khỏi sinh tử. Đối với Thanh văn, thành tựu pháp Tứ đế sẽ ra đến bãi đất trống là Bát nhã. Hàng Duyên giác thể nghiệm trọn vẹn pháp thập nhị nhân duyên, không còn phiền não, cũng ra được bãi đất trống. Hàng Bồ tát làm việc cứu người cũng đến được bãi đất trống Bát nhã. Riêng tôi cũng áp dụng yếu nghĩa của tam thừa giáo cho việc tu học của chính mình và cho những người hữu duyên đến với tôi. Thuở nhỏ, thực hiện Thanh văn và Duyên giác thừa, tôi dốc hết tâm trí vào việc học hiểu giáo nghĩa của Đức Phật dạy và ứng dụng các pháp tu của nhị thừa. Sau đó hoàn tất việc học tập cũng như thể nghiệm được giáo pháp căn bản trên bước đường tu, tôi mới dấn thân hành Bồ tát đạo

* Trang 78 *
device

qua việc hoằng pháp lợi sinh. Đồng thời, đối với người ham học tôi giúp học bổng, với người muốn thực hành giáo pháp thì tôi chỉ dạy và với người thích làm từ thiện thì tôi hỗ trợ. Nhờ vậy, thành tựu được một số việc; nếu chỉ có một pháp, chúng ta sẽ khó phát triển sinh hoạt và cũng không có quyến thuộc, hay tệ hơn nữa, nếu chấp chặt pháp nào, cho đó là nhất, rồi chống đối pháp tu khác là điều sai lầm lớn.
Phẩm Thí dụ mở ra cho chúng ta hiểu rằng tam thừa giáo là phương tiện đưa đến giải thoát và nếu triển khai tam thừa giáo sẽ có tám muôn bốn ngàn pháp môn tu. Ba pháp tu theo Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát để dẫn đến bãi đất trống, nghĩa là tâm chúng ta được thanh thản an vui. Ở trong Nhà lửa, tất cả mọi người đều bị đốt cháy, nhưng người tu theo Phật, dù tu pháp Thanh văn, hay Duyên giác, Bồ tát đều được giải thoát mà kinh ví như nước biển chỉ có một vị mặn. Chúng ta tu pháp Thanh văn, người tu Bồ tát pháp, chúng ta cũng chấp nhận. Tu pháp nào cũng được, trốn đời cũng được, trầm mình suy tư giáo nghĩa và tránh né thế sự cũng được, hay cứu đời cũng được; miễn là tâm an vui, giải thoát, tức ra khỏi Nhà lửa tam giới. Và cần hiểu rằng ra khỏi Nhà lửa tam giới không phải là chạy đi nơi nào khác để được giải thoát, nhưng giải thoát ngay tại Ta bà này, nghĩa là không bị lửa tham sân si đốt cháy. Còn nghĩ từ bỏ thế giới này chạy đến chỗ khác được giải thoát cũng giống như đi tìm lông rùa sừng thỏ. Ở hoàn cảnh nào cũng giải thoát; sống đơn giản như Sa môn, nhưng an vui là vẫn ở Niết bàn, còn giàu có đầy đủ quyền lực nhưng khổ sở là

* Trang 79 *
device

vẫn bị lửa tham sân si đốt chết. Nghèo thì giải thoát theo cách nghèo, giàu thì giải thoát theo cách giàu.
Và khi đã ra khỏi Nhà lửa, đến bãi đất trống, Đức Phật cho đại bạch ngưu xa là điều không mong cầu mà được. Tôi tâm đắc ý này, vì khởi đầu tu theo Thanh văn thừa, nghĩ xuất gia vào chùa tìm giải thoát cho riêng mình thôi, nhưng sau đó phát huy được trí tuệ và thành tựu một số việc làm lợi lạc cho người. Điều này không bao giờ tôi dám nghĩ tưởng đến.
Khi Đức Phật nói thí dụ ba xe và Nhà lửa cho hàng trung căn, bốn vị trưởng lão là Ca Diếp, Mục Kiền Liền, Tu Bồ Đề và Ca Chiên Diên liền tỏ ngộ yếu chỉ mà Đức Phật muốn dạy rằng tuy đệ tử Phật tu các pháp khác nhau, nhưng đều đạt kết quả giống nhau là được giải thoát thì Đức Phật mới ban cho đại bạch ngưu xa, tức điều kiện tốt nhất để hành Bồ tát đạo. Ý này được một vị Tổ diễn tả như sau :
Vãng hoàn tam giới trường ngự bạch ngưu chi xa
Xuất nhập cửu cư chung cứ thanh liên chi tòa
Thanh lương hỏa trạch, thê tức hóa thành...
Nghĩa là ngồi trên đại bạch ngưu xa, hay vận dụng được cốt lõi của Pháp Hoa, hành giả ra vào tam giới hoàn toàn tự tại. Hoặc ngồi trên đài sen để lên xuống chín tầng Trời, hay nói cách khác, sống trong Thiền định thì lên xuống chín tầng Trời tự tại, không chút trở ngại và được mát mẻ trong Nhà lửa, được nghỉ ngơi trong Hóa thành. Người tu Pháp Hoa nhận được ý này và thực hiện trong cuộc sống mới nhận thấy rõ tam thừa giáo là phương tiện của Đức Phật đưa cho và theo đó tu hành, chứng được nhất Phật thừa.

* Trang 80 *
device

 
Cương Yếu Kinh Pháp Hoa