LOGO VNBET
  • THÍ DỤ 2 : CÙNG TỬ TRONG PHẨM TÍN GIẢI THỨ TƯ
Bốn vị đại đệ tử là Ca Diếp, Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề và Ca Chiên Diên nhận được yếu nghĩa Đức Phật dạy về dụ ba xe và Nhà lửa, các Ngài liền hội ý với nhau để nói lên tâm trạng của các Ngài qua thí dụ cùng tử như sau. Có một người từ thuở nhỏ đã bỏ cha trốn đi, đến nơi khác làm lụng cực khổ, lang thang nghèo đói, nên trở về nhà. Nhưng khi trông thấy cha mình quá giàu sang và có thế lực, anh cùng tử này hoảng sợ, bỏ chạy. Người cha là ông trưởng giả liền sai hai người đuổi bắt dẫn anh ta về. Anh bị bắt thì càng hoảng sợ hơn, đến ngất xỉu. Ông trưởng giả mới bảo lấy nước tạt vào mặt cho anh tỉnh lại rồi thả cho đi. Anh cùng tử mừng rỡ đi sang xóm nghèo làm thuê mướn. Ông trưởng giả bí mật sai hai người, một người chột mắt, một người què chân đến dụ anh về làm công cho ông, sẽ được trả lương gấp đôi. Anh cùng tử thấy làm được nhiều tiền nên bằng lòng trở về làm công việc hốt dọn phân nhơ và ngủ ở ngoài am tranh. Sau một thời gian làm việc, ông trưởng giả nói với anh cùng tử rằng anh là người làm công không hèn hạ như những người làm công khác, cho nên ông giao cho anh quản lý gia tài, được vào trong nhà ở đàng hoàng và được tiếp xúc với những người giàu có, quyền uy. Trải qua một thời gian anh quản lý gia tài của ông trưởng giả một cách siêng năng và giỏi dang, thì một hôm, ông trưởng giả cho họp thân tộc và tuyên bố rằng anh cùng tử làm công này chính là con của ông và ông giao tất cả gia tài cho anh hưởng.
Các Thánh đệ tử nói thí dụ cùng tử bỏ cha trốn đi phải lang thang khổ sở để kiếm sống. Tôi cảm nhận

* Trang 81 *
device

sâu sắc ý nghĩa của thí dụ này qua thực tế cuộc sống của một số bạn đồng tu. Họ được sống an ổn trong chùa với thầy hiền bạn tốt, nhưng bất giác vô minh nổi lên, tham vọng bùng nổ, liền trả áo cho Phật, hoàn tục. Tưởng rằng cuộc đời bên ngoài đẹp lắm, không dè chào đón họ là cuộc sống thấp kém nhất. Rõ ràng bỏ cha trốn đi để làm thuê ở mướn cho người thì càng lún sâu vào cuộc sống như vậy, thân họ càng suy kiệt cho đến bệnh nặng, không còn tiền cứu chữa, thì người dụ dỗ cũng bỏ rơi họ giữa chợ đời, tất nhiên họ phải đau khổ cùng cực.
Khi cùng tử lang thang trở về gặp ông trưởng giả giàu sang và quyền uy thì hoảng sợ phải bỏ chạy. Ý này nhằm nói đến hội Hoa Nghiêm mà Đức Phật nói pháp vô thượng cho các vị đại Bồ tát ở trong đại định, vượt ngoài sự nhận thức của con người tứ đại ngũ uẩn. Vì vậy, các vị đệ tử Thanh văn xa lánh cuộc đời, làm thế nào hiểu được pháp cứu đời dành cho các vị đại Bồ tát như Văn Thù Sư Lợi, hay Phổ Hiền uy đức vô song, thường giáo hóa chúng sinh trong khắp mười phương với vô số thiên long bát bộ thị tùng. Hàng Thanh văn hoàn toàn tuyệt phần trong pháp hội Hoa Nghiêm mà kinh diễn tả rất nặng là ví như người mù, người điếc không thấy không nghe được pháp của Bồ tát.
Ông trưởng giả sai hai người có uy đức đuổi bắt cùng tử và lấy nước tạt vào mặt cho tỉnh lại rồi thả cho đi đâu tùy ý. Ông trưởng giả chỉ cho Đức Phật, hai người có uy đức hầu cận Phật là Bồ tát Văn Thù và Phổ Hiền và cùng tử chỉ cho Thanh văn một thân một mình, phước

* Trang 82 *
device

đức và đạo lực còn quá kém, không thể nào làm việc lớn lao như Bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền. Vì thế, ông trưởng giả thả cho cùng tử đi và anh ta đã đi đến xóm nghèo làm thuê mướn. Ý này nhằm nhắc nhở người tu thay vì làm công việc cao quý của trưởng tử Như Lai, lại đi làm thầy bói, thầy bùa, sống cuộc đời quá thấp kém.
Ông trưởng giả bảo một người chột mắt và một người què chân sang xóm nghèo dụ dẫn cùng tử về. Người có mắt ví cho hàng Duyên giác có hiểu biết và người có chân ví cho hàng Thanh văn có đức hạnh. Ông trưởng giả dụ cho cùng tử trở về bằng cách hứa trả lương gấp đôi. Nghĩa là Đức Phật phải dùng pháp nhị thừa mới độ được hàng Thanh văn và Duyên giác. Và hàng nhị thừa Thanh văn Duyên giác phải làm công việc dọn dẹp phân nhơ, tức thanh tịnh hóa thân tâm theo 37 trợ đạo phẩm, chưa thể làm việc cao quý như Bồ tát là dấn thân vào đời cứu độ chúng sinh được. Tuy nhiên, nhờ chủng tánh Bồ đề, hay Phật huệ bên trong đã có sẵn và nương theo pháp tứ Thánh đế, nương theo thầy hiền bạn tốt, họ cũng tiến tu rất nhanh. Những sở tu sở chứng của hàng Thanh văn khi tu theo Phật thì lớn lao và tốt đẹp hơn nhiều so với cuộc sống khổ đau của họ trước kia còn theo ngoại đạo mà kinh diễn tả là cùng tử được trả lương gấp đôi.
Thanh văn và Duyên giác kết hợp tu hành với nhau, hay kết hợp hai phương tiện tri thức và đạo đức của nhị thừa có công năng tẩy rửa trần cấu, làm cho thân tâm được thanh tịnh, giải thoát, trí tuệ được khai mở, thì hàng Thanh văn và Duyên giác cũng trở thành mẫu người phạm hạnh tiêu biểu cho đệ tử Phật.

* Trang 83 *
device

Và qua thời kỳ thứ hai, Thanh văn Duyên giác đã phát huy được phước đức trí tuệ, có thể vào đời hành Bồ tát đạo, thay Đức Phật thuyết pháp giáo hóa độ sinh. Kinh ví như ông trưởng giả thấy các con mình đã tiến bộ mới giao công việc quản lý gia tài.
Riêng đối với chúng ta, từ thí dụ cùng tử, rút ra được bài học gì cho việc tiến tu của mình. Thiết nghĩ bốn vị đại đệ tử nói trên là bậc Thánh Tăng mà còn tự nhận là cùng tử; đương nhiên, chúng ta cũng bắt đầu tu với tư cách một cùng tử, ngày ngày phải quét dọn phân nhơ, tối ở am tranh là chính. Vì vậy, hãy tự xét thân và tâm mình còn gì nhơ bẩn để mỗi ngày lo dọn dẹp cho sạch. Tại sao biết thân chúng ta còn ô uế. Thân ô uế tiêu biểu cho nghiệp thân, cho nên người nhìn thấy không quý mến, mà lại sinh phiền não. Thật vậy, Trời người cung kính cúng dường Đức Phật hay các vị Thánh Tăng, mặc dù các Ngài không còn hiện hữu trên thế gian; vì thân tâm các vị Thánh đã giải thoát, thân tâm Phật thì hoàn toàn thanh tịnh, trọn lành, thường được diễn tả là đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, sáng suốt tuyệt vời và sức khỏe vô cùng. Chúng ta không được như vậy, tự biết không có phước để trang nghiêm thân tâm và còn tội lỗi, nên không hiện hảo tướng. Người thấy không phát tâm, vì thấy nghiệp thân của chúng ta. Thấy Như lai hay Thánh Tăng, họ phát tâm, vì thấy đức tướng của các Ngài.
Riêng tôi, từ thuở niên thiếu, luôn an phận với nếp sống nghèo khó, nhưng cái nghèo vật chất đã giúp tôi trưởng thành, vì có nhiều thì giờ để tiến tu, lo thanh tịnh hóa thân tâm, sau này mới có hành trang tốt đẹp

* Trang 84 *
device

để phục vụ đạo pháp. Thật vậy, ở am tranh nghĩa là chúng ta sống tam thường bất túc. Nói đơn giản, chúng ta làm được nhiều công đức, nhưng hạn chế tối đa việc tiêu dùng cho bản thân. Phục vụ Tam bảo nhiều thì công đức sinh ra, hưởng thụ của Tam bảo nhiều thì việc tu hành sẽ kém dần. Người chỉ lo phát triển đời sống vật chất, chắc chắn đời sống tinh thần càng đi xuống. Có nhiều của cải vật chất, tất nhiên phải để tâm lo lắng và khibị lệ thuộc như vậy, tâm chúng ta bị phân hóa, không tập trung được. Thí dụ xã giao quen biết nhiều người, phải nghĩ đến họ, nghĩ đến làm vừa lòng họ để họ làm lợi cho mình và được lợi rồi, lại phải để tâm đến họ hơn nữa. Cứ như vậy luẩn quẩn trong vòng danh lợi, tuy còn chiếc áo tu, nhưng việc làm không thanh tịnh, mà kinh Pháp Hoa ví là người làm công hèn hạ.
Nhờ an phận thủ thường với nếp sống đạm bạc, tâm chúng ta được rãnh rang để tiếp nhận pháp Phật. Quý vị hãy nghiệm xem cuộc sống thừa thải vật chất của người thế gian thì họ có được an lạc hơn cuộc sống tam thường bất túc của chúng ta hay không. Rõ ràng là không thể sánh bằng. Ở am tranh, sống đơn giản, thanh tịnh, nhưng Đức Phật thọ ký cho cùng tử thành Phật; còn những người khác, Đức Phật không thọ ký. Tụng kinh Pháp Hoa, cần hiểu nghĩa sâu này để áp dụng trên bước đường tu. Đức Phật dạy rằng sở dĩ Ngài giao gia tài cho cùng tử vì ông không giống những người làm công hèn hạ khác. Không giống họ, nhưng giống Phật, nên là con Phật. Giống ma thì làm sao được Đức Phật thọ ký. Suy nghĩ và làm giống Phật là việc quan trọng của người tu.

* Trang 85 *
device

Trong kinh nói rõ cùng tử không giống người làm công hèn hạ khác, vì ông được một phần pháp, tuy chưa là Phật, nhưng đã có thể thay Phật làm việc của Phật. Đức Phật mới giao cho ông quản lý công việc. Người tránh nặng tìm nhẹ, thích hưởng thụ, lấy công làm riêng, Đức Phật xếp vô người làm công hèn hạ, Ngài không nhận họ là đệ tử và không giao việc. Trong khi cùng tử gánh vác công việc nặng, quyền lợi để dành cho đại chúng; cho nên được Đức Phật công nhận và giao việc, tức thọ ký và bổ xứ thì việc Phật sự khó cũng thành tựu.
Tự thấy chúng ta thuộc hàng trần lao nghiệp chướng đi tu, cần nương pháp Phật để thanh tịnh hóa được thân tâm, thì cũng đồng với A la hán. Còn các Ngài đã thanh tịnh, cóphiền não đâu mà phải dọn dẹp; ngoại trừ Bàn Đặc thị hiện làm người lo quét bụi rác mỗi ngày, nhằm nhắc nhở những ai còn bị vướng mắc với nó. Nếu xét thấy mình ở hạng trung, chỉ cần gia công thanh tịnh hóa thân tâm một thời gian ngắn đã có thể tiến tu đạo hạnh dễ dàng. Còn hạng hạ căn, phải nỗ lực tu hành nhiều hơn, công quả nhiều hơn. Nếu tinh tấn thể nghiệm pháp Phật dạy cho đến khi được Đức Phật thọ ký và được Đức Phật bổ xứ làm thay cho Ngài, chúng ta làm Phật sự dễ dàng. Theo tôi, đừng khởi vọng tưởng điên đảo. Tự biết mình còn nhiều phiền não, nên Đức Phật chưa bổ xứ, mà chúng ta ham làm, dễ thất bại, dễ buồn phiền.
Trải qua thời gian dài quản lý gia tài của trưởng giả, tâm trí của cùng tử sáng suốt và khi ông trưởng giả sắp chết, ông liền hội họp thân tộc và tuyên bố

* Trang 86 *
device

 
Cương Yếu Kinh Pháp Hoa