LOGO VNBET
rằng cùng tử là con của ông và ông sẽ giao gia tài cho người con này. Cùng tử rất kinh ngạc và sung sướng vô cùng. Bốn vị Thánh đệ tử bộc bạch với Đức Phật rằng tâm trạng của các Ngài cũng giống như người cùng tử được giao gia tài, lâu nay các Ngài chưa bao giờ nghĩ rằng sẽ đạt được quả vị Phật, mà nay được Đức Phật thọ ký thành Phật, quả là được niềm vui chưa từng có. Nói cách khác, đó là tâm trạng hỷ lạc của người tu yểm ly, xa lánh cuộc đời, chuyển sang phát tâm Bồ đề theo Đại thừa hướng đến quả vị Phật với điều kiện phát huy tri thức và đạo đức đến viên mãn theo lộ trình Bồ tát đạo.
Sau khi bốn vị đại đệ tử trình bày thí dụ cùng tử, Đức Phật xác nhận rằng suy nghĩ của các vị này rất đúng, rằng các vị Thanh văn đã thể hiện đời sống phạm hạnh, không còn lỗi lầm, xứng đáng thay Phật làm Phật sự.
  •  THÍ DỤ 3 : BA CỎ HAI CÂY
TRONG PHẨM DƯỢC THẢO DỤ THỨ NĂM
Tiếp theo thí dụ cùng tử của bốn vị đại đệ tử, Đức Phật liền đưa ra thí dụ ba cỏ hai cây trong phẩm Dược Thảo dụ. Có nhiều cách lý giải khác nhau về thí dụ này. Tôi chỉ đưa ra hai cách giải thích tiêu biểu được nhiều người chấp nhận.
Cách kiến giải thứ nhất cho rằng dụ ba cỏ hai cây để chỉ Trời, người, Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Đó là năm đối tượng được Đức Phật giáo hóa. Giải thích như vậy cũng hợp lý.
Nhưng cách kiến giải thứ hai, theo Thiên Thai Trí Giả ba cỏ chỉ cho tam thừa giáo mà Đức Phật đã nói

* Trang 87 *
device

trong phẩm Thí dụ là Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát nhân gian. Sở dĩ ví Thanh văn, Duyên Giác và Bồ tát với ba cỏ vì ba hạng người này tu hành còn ở trong sinh tử. Và hai cây chỉ cho các vị Bồ tát gồm có Bồ tát mười phương ví như cây nhỏ và Bồ tát Tùng địa dũng xuất ví cho cây lớn. Cỏ cũng có ba bậc, thượng, trung, hạ ví cho Bồ tát, Duyên giác và Thanh văn thể nghiệm tam thừa giáo của Đức Phật. Và một lần nữa Đức Phật đã khẳng định rằng tam thừa giáo chỉ là phương tiện của Ngài nhằm dẫn đến chân lý và chân lý chỉ có một. Nói cách khác, đã tu theo pháp Phật, dứt khoát phải thành Phật.
Thật vậy, trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật dạy rằng sự thật duy nhất có một Phật thừa, tức những pháp tu theo Phật đều dẫn đến cứu cánh là quả vị Phật, không thể khác; nhưng Đức Phật dùng phương tiện nói ba thừa để thích hợp với trình độ và nghiệp lực của ba hạng người khác nhau. Đối với người trần lao nghiệp chướng nhiều, sợ sinh già bệnh chết và muốn ra khỏi sinh tử, đến Niết bàn, Phật nói Đạo đế, dạy họ thực hiện 37 trợ đạo phẩm. Đó chính là pháp tu của Thanh văn giúp họ xa rời tâm đam mê, chấp trước việc thế gian để bước vào cửa giải thoát : Không, vô tác, vô nguyện. Từ góc độ "Không”, nhìn cuộc đời không có gì thật sự hiện hữu lâu bền, cho nên tâm không nương vào đâu mà sinh tham đắm được. Và cắt đứt được vọng tâm tham đắm, liền chứng Niết bàn, ra khỏi sinh tử; đó là hàng Thanh văn ví cho loại cỏ bậc hạ. Trong kinh diễn tả tâm tu chứng này là đến được bãi đất trống nhờ nương vào Không quán.

* Trang 88 *
device

Đối với hàng Duyên giác, Đức Phật dạy pháp tu giả quán, nghĩa là quán các pháp do nhân duyên sinh diệt, nhưng tâm hành giả an trụ ở bất diệt để quán sát sinh diệt, nhận chân rõ sinh diệt là giả, bất sinh diệt là thật. Quán chiếu mọi việc do nhân duyên sinh diệt như vậy, tâm lắng yên, thanh tịnh là đã ra khỏi Nhà lửa tam giới, đến bãi đất trống thì hàng Duyên giác cũng chứng được Niết bàn, ví cho cỏ bậc trung.
Thứ ba là Bồ tát ví cho cỏ bậc thượng cao hơn hàng Thanh văn, Duyên giác còn ở trong vòng nhị nguyên. Đối với Bồ tát nhân gian vào đời độ sinh, Đức Phật dạy lục độ ba la mật, vì đó là những người đã có điều kiện cứu đời, giúp người, nên mau đến quả vị Phật hơn. Bồ tát quán Trung đạo đệ nhất nghĩa hay Trung quán, thấy rõ sự thật nên nhìn đời thấy khác, thấy cuộc đời không xấu, không tốt; nhưng tốt xấu tùy ở tâm, tùy ở nghiệp. Bồ tát phát huy tình thương và trí tuệ bằng cách thực hiện pháp lục độ ba la mật để cứu độ chúng sinh, cũng đến được bãi đất trống, được an lạc giải thoát.
Ba cỏ thượng trung hạ chỉ cho hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát thực hiện tam thừa giáo đều nằm trong phương tiện khéo léo của Đức Phật. Vì thế, Bồ tát của tam thừa giáo gọi là quyền thừa Bồ tát ở trong tam giới phát tâm Bồ đề, hành Bồ tát đạo, trên cầu Vô thượng đạo, dưới hóa độ chúng sinh.
Và hai cây chỉ cho các vị Bồ tát ở ngoài sinh tử là Bồ tát mười phương ví như cây nhỏ và Bồ tát Tùng địa dũng xuất ví như cây lớn. Các vị Bồ tát này đến dự hội Pháp Hoa là Bồ tát siêu hình không phải là Bồ tát nhân gian, nên không thể thấy các Ngài bằng mắt, như Bồ tát

* Trang 89 *
device

Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm, Đại Thế Chí, v.v... Chư vị Bồ tát từ mười phương đến đông như vi trần, được biểu thị bằng con số nhị vạn, bát vạn, bát thập vạn ức na do tha. Tuy Bồ tát mười phương rất đông, nhưng không chướng ngại nhau, vì các Ngài không hiện hữu bằng thân tứ đại của con người, mà hiện hữu ở dạng tâm thức. Vì thế, Bồ tát mười phương được coi là cây nhỏ vượt cao hơn cỏ.
Và Bồ tát lớn là Bồ tát Tùng địa dũng xuất với trí tuệ và thần lực cao tột đến mức Di Lặc Bồ tát là người được Đức Phật thọ ký trong tương lai sẽ thành Phật và thay thế Đức Phật Thích Ca ở Ta bà để hóa độ chúng sinh, nhưng cũng không thấy biết Bồ tát Tùng địa dũng xuất ở đâu và các vị Bồ tát này đến hội Pháp Hoa có đến lục vạn hằng hà sa.
Thiết nghĩ trên bước đường tu, nếu xuất hiện với tư cách con người làm những việc mọi người thấy biết được thì việc đó còn giới hạn. Làm việc mà người không biết được mới là việc lớn. Có ba hạng Bồ tát, Bồ tát nhân gian còn trong sinh diệt; Bồ tát lớn xuất thế, vượt ngoài thế gian và Bồ tát Tùng địa dũng xuất không ai thấy biết được dù các Ngài đang hành đạo. Bước theo dấu chân Phật, làm thế nào tiếp nhận được lực Bồ tát gia bị, thì từ "không” sẽ trở thành "có” mà kinh thường diễn tả là chân không diệu hữu; vì nhận được phước báo của các Ngài truyền đến, chúng ta dễ dàng thành tựu công đức vượt ngoài khả năng của con người.
Sau khi nói thí dụ ba cỏ hai cây, Đức Phật cũng nói thêm rằng Ngài hiện hữu trên thế gian này như vầng mây lớn xuất hiện trong không trung và từ đám mây đó

* Trang 90 *
device

 
Cương Yếu Kinh Pháp Hoa