LOGO VNBET
II. PHẨM PHÂN BIỆT CĂN
 
Phẩm này gồm 47 bài tụng, chia làm bốn đoạn chính:
1.  22 căn.
2.  Các pháp câu sinh. 
3.  Tánh cách câu sinh.
4.  6 nhân, 4 duyên và 5 quả.
ĐOẠN 1: 22 CĂN:
[22 căn là gì? Vì sao có phẩm căn này tiếp trước phẩm giới. Như trước đã có nói, phẩm Giới là nói cái thể của vạn pháp. Còn phẩm căn là nói cái dụng của vạn pháp. Như ta hiểu trong phẩm trước nói về cái thể của vạn pháp là nói cái gì? Tức là nói ngũ uẩn, 12 xứ, 18 giới, 3 khoa mà thôi chứ không nói gì hết. Trước hết mới cắt nghĩa ngũ uẩn 12 xứ, 18 giới là hữu lậu hay vô lậu, nên mới nêu hữu lậu vô lậu, hữu vi vô vi. Trước nói ngũ uẩn, 12 xứ, 18 giới, nhưng vì phần giới phân tách kỹ hơn cho nên lấy giới đặt tên. Vậy ngũ uẩn, 12 xứ, 18 giới là gì? Nó nằm ở đâu? Nằm trên trời xanh hay nằm dưới biển cả, hay nằm ngoài đường? Nó không nằm đâu hết đó chính là cái thực thể của con người, của loài hữu tình. Thực thể của anh là gì? Là 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới. Chứ không phải 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới của ai hết, mà chính là của anh, của con người anh và của loài hữu tình. Nhưng nếu thực thể hữu uẩn nói dồn lại một cục như vậy thì không có tích sự gì  hết, không có tác dụng gì hết. Mắt cũng không, tai, mũi, lưỡi thân cũng không, nó làm một đống ngũ uẩn như vậy

* Trang 271 *
device

thì có ra gì không? Không ra gì hết. Cho nên cái thể của nó phải có cái dụng. Cái dụng đó tức là căn. Cái ngũ uẩn là tập hợp lại nhưng phải có ngũ căn. Nếu tập hợp lại làm một cục thôi, mắt tai mũi lưỡi gì cũng không có cả, có cái dụng nào đâu? Cho nên phải nói đến căn. Mà chữ căn này không phải ở đâu tìm vào hết, mà chính đức Phật đã dùng chữ căn ở rải rác trong các kinh. Bây giờ các ngài hệ thống nó lại, lập thành cái bản danh sách gồm 22 căn, 22 căn đó là gì? Trước hết nói về 5 căn: nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý. Tromg kinh vẫn nói đó là ngũ giác tri căn. Thứ hai là ngũ thọ căn: khổ, lạc, ưu, hỷ, xả gọi là ngũ thọ căn. Đó là 10 căn. Rồi nam căn, nữ căn. Cái này hiện hữu rồi nói vào chứ trong kinh không thấy có chỗ nào Phật nói năm căn, nữ căn hết, thành 12 căn. Rồi ý căn, mạng căn cộng là 14 căn. Thêm tín căn, tất căn, niệm, định, huệ căn, có không? Có, thành 5 thanh tịnh canh. Trong kinh cũng có nói vị trí tương đương tri căn, dĩ tri căn, cụ tri căn (Tiểu bộ kinh tập 1 trang 458 nói, vị trí đương tri căn, tri căn, cụ tri căn. Căn tôi sẽ biết điều chưa biết, được biết điều chưa biết, căn  về sự biết, căn của người đã biết, căn với những sức mạnh hoặc phương pháp. Ba căn này liên hệ đến tương lai, hiện tại và quá khứ. Căn của vị được biết bốn sự thật đã thành tựu những gì cần phải làm). Như vậy các căn này đều là những căn mà Phật đã nói rải rác trong các kinh. Bây giờ các ngài tổ hệ thống hóa lại cộng tất cả là 22 căn, trừ năm căn, nữ căn Phật chưa nói tới. Nhưng đó là sự hiển nhiên của sự hữu tình, thành phải đem vào nói cho đủ. Bởi khi ngũ uẩn mà đã thành tựu (ngũ uẩn là thực thể, 12 xứ và 18 giới là cái thể, cái thể đó nó kết hợp lại mới có ra các căn này, nó mới có tác dụng, chứ nó không có các căn này, thì ngũ uẩn đó không có tác dụng gì hết). Cho nên nói phẩm căn này là nói cái dụng, còn phẩm Giới là nói về cái thể là vậy. 

* Trang 272 *
device

Nói về ngũ căn. Vì lý do gì mà phải có ngũ căn, phải dùng nó để làm cái gì mà phải có ngũ căn này. Nhãn nhỉ tỷ thiệt thân ý dùng vào việc gì mà phải có nó. Trong nay cái nghia của trung luận nói: Nó có 4 cái sở dụng nên mới dùng nó. Một là trang nghiêm đoan chính: có mắt, tai, mũi, lưỡi, thấy nó đẹp, không có mắt tai mũi lưỡi thì thấy nó xấu, dầu là con vật cũng vậy. Vì vậy nên cần có ngũ căn. Hai là dụng sở của nó là đạo dưỡng thân, tức là nuôi nấng cái thân này. Còn ngũ căn này nếu như không có thì chắc ngồi một chỗ đói nhăn răng chứ không làm được gì hết. Có mắt mới thấy đường để đi làm ăn, có miệng mới nuốt cơm vào bụng được, có lưỡi mới biết nếm vị, có miệng mới nói được, có tai mới nghe người ta kêu chỗ nọ chỗ kia để đi làm kiếm tiền, còn không thì chắc chết đói. Thứ ba là thức sở y: Thức nương nơi đó nếu không có căn thì thức cũng chịu thôi. Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân thức vốn có đó nhưng không có căn thì không thấy và không nghe chi được hết. Cho nên thức sở y, nó là cái sở nương cho thức. Và cái lý do thứ tư là bất cộng sự. Bất cộng sự nghĩa là cái căn nó thì làm việc đó, chứ không làm thế cho nhau được. Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, chứ mắt không nghe tiếng dùm cho tai được và tai không thấy sắc dùm cho mắt được, chức năng của sự việc nó riêng nhau như vậy đó. Do vậy mới phân ra ngũ căn. Nếu không có sự việc riêng ra thì ta dùng một cái cũng đủ cần gì phải chia ra năm. Bởi vì sự việc khác nhau, anh nào có việc đó và việc nào có anh đó. Do lẽ đó nên cần có 5 căn. Còn nam nữ căn cần cái gì? Một, hữu tình sai biệt nam nữ căn, có nam nữ căn mới có chủng loại nam chủng loại nữ. nếu không có năm nữ căn tức không có hữu tình, không có cái sai biệt đó. Hai là phân biệt sai biệt. Tức nhiên nói về cái tính tình, cái dáng mạo. Khi đã chia ra nam nữ rồi thì tánh tình của nam khác, tánh tình của nữ khác,               

* Trang 273 *
device

dáng mạo của nam khác, của nữ khác, trừ một vài trường hợp đặc biệt: Ví dụ như anh đó nói giọng như đàn bà, cái tính người đó khác, bà đó ăn như cọp, ông kia ăn như mèo, đó là trường hợp ít thôi, cá biệt. Còn đại đa số nam nữ có dáng mạo khác nhau. Nếu không có năm căn nữ căn thì y như nhau hết hay sao, huề cả làng hay sao?]
Tóm lại các pháp hữu vi có thể, có dụng. Phẩm Giới nói về thể, Phẩm này nói về dụng. Cái tác dụng mạnh mẽ, rõ rệt nhất của các pháp nhiễm tịnh là 22 căn, nên căn được nêu gọi là phẩm Sai biệt, Luận Tập Tâm  gọi là phẩm Hành).
22 căn là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ( cơ năng phát thức), nam căn, nữ căn (sự sai biệt hữu tình, tướng mạo), mạng căn (khả năng tồn tục của một chúng sinh), ưu, hỷ, khổ, lạc, xả (thuộc pháp ô nhiễm), ý căn (khả năng tiếp nối sinh tử tự tại tùy hành), tín, tấn, niệm, định, tuệ (năm căn thanh tịnh), vị tri đương tri, dĩ tri, cụ tri (ba căn vô lậu), Tám căn sau thuộc pháp thanh tịnh.
Con số 22 căn chính do Phật nói rải rác trong các kinh A-hàm và các đệ tử gom  chung lại. Toàn bộ Phật pháp chỉ thuyết giảng hai mặt mê và ngộ. Mê là sinh tử lưu chuyển. Ngộ là hoàn diệt Niết-bàn. Luận Chính Lý nói: "Sinh tử tiếp nối là nghĩa lưu chuyển, sinh tử chấm dứt là nghĩa hoàn diệt". Về mặt hiện thực lưu chuyển phải có 14 căn đầu trong 22 căn đó. Về mặt hiện thực hoàn diệt cần có 8 căn sau trong 22 căn đó. Ở đây đặc biệt tìm hiểu 5 căn là mạng căn, ý căn, vị tri đương tri căn, dĩ tri căn và cụ tri căn trong 22 căn đó.

* Trang 274 *
device

[Bây giờ nói về mạng căn: Năng tục sinh tức có cái này nó hay làm cho đời sống trước được tiếp tục sinh ra. Cho nên trong kinh phân chia ra: thân họa mạng chung, hai cái khác nhau. Cái thân và cái mạng. Như vậy thấy rõ cái thân khác cái mạng khác. Chữ mạng này có cái nghĩa tương tợ là như trường hợp khác, chỗ khác, thuộc về. Vì sao mà mạng sống của con người được tồn tại trong một thời gian, tức nhiên là nhờ có mạng căn đương tồn tại trong một thời gian (mạng vị bình an). Thứ hai nữa là thân hoại mạng chung. Thân riêng mạng riêng. Có khi thân hoại mà mạng chưa chung cũng có. Cho nên khi người ta nói giết cái mạng là xong rồi chứ chưa nói giết cái thân. Chữ mạng đó nó có tính cách là nó thuộc về chữ thọ, noãn, thức. Chính cái mạng này là chỉ cái sức thọ, nói chung là thọ mạng. Thọ là sống lâu. Con người còn tồn tại được, sống còn được nhờ cái thọ mạng là sức sống. Cái sức sống này là như thế nào là y như do cái nghiệp lực mà con người có được sức sống trong khoảng thời gian chừng nào đó. Do cái sức của nghiệp lực đó mạnh hay yếu. Ví dụ như ta đá một trái banh, do cái sức ta đá mạnh hay yếu mà trái banh đó chạy đến đâu thì nó ngừng lại. Sức mạnh của trái banh ngang tới dâu thì đó là thọ. Như vậy một loài hữu tình gồm có 3 sự: thọ, noãn, thức. Thọ là sức sống, noãn là chỉ về khí nóng. Vẫn biết tứ đại đều cần có đủ mới thành thân. Nhưng khí nóng cuối cùng muốn xả bỏ thân mạng thì khí nóng đó xả bỏ cuối cùng. Khi khí nóng còn thì con người đó còn, khi khí nóng mất thì con người đó mất. Dầu thủy đại hỏa đại, dầu phong đại kia mà nó vắng cũng chưa sao, cho nên cái noãn đây là vậy. Thành cái noãn này chỉ cho sắc pháp (sinh lý). Thức là kiết sinh thức. Gồm có 3 cái đó, tức là tâm lý, sinh lý mà bên này gọi là thọ mạng. Chữ mạng căn nó cũng tương tự với chữ thọ ở trong 3 chữ: thọ, hoãn, thức mà trong Nikaya đã nói rất rõ.]

* Trang 275 *
device

Mạng căn: mạng căn là thể sanh mạng, thọ mạng của loài hữu tình. Chính nó có công năng kết hợp với khí nóng và thức (thọ, noãn, thức) tạo thành một hữu tình, sống và bảo trì sự sống vừa thân và tâm đó trong một thời gian ngắn dài của một đời. Nếu khi ba thứ thọ, noãn, thức rời nhau thì sự sống cũng chấm dứt. Nói cách khác, đây là nghiệp lực (sức mạnh của nghiệp) đưa đẩy giống như trái bóng lăn xa hay gần là do sức người đá. Khi sức đá hết thì trái bóng phải ngưng lại.
[Tiếp tới là ý căn.]
Ý căn: Ý căn cũng tức là tâm căn, tâm vương, làm chỗ dựa cho sáu thức niệm trước sinh khởi, sáu thức niệm sau bởi năng lực vô gián diệt của nó. Ý căn có hai khả năng đặc biệt: một là làm nối tiếp một sinh mạng trong tương lai, hai là tự tại vận hành. Như kinh Tạp A-hàm 36 nói: "Tâm năng đạo thế gian, tâm năng biến nhiếp thọ". Tất cả điều tốt xấu lành dữ của thế gian đều do tâm dắt dẫn, tâm làm chủ thâu nhiếp mọi sự.
[Vì lý do gì cần phải có ý căn? Năng tục hậu hữu tại tùy hành. Ý căn nó cần dùng vào hai cái việc đó. Nếu không có ý căn thì hai việc đó không có được. Năng tục hữu hậu nghĩa là hay làm cho tiếp tục có cái đời sau. Như vậy nếu ta hiểu xa hơn một chút chữ này có thể hiểu như là kết sanh thức. Hiện tại là ý căn nhưng mà nói trong sự chuyển tiếp từ kiếp này qua kiếp khác đó là kiết sanh thức, và tự tại tùy hành. Tâm năng đạo thế gian tâm năng biến nhiếp thọ. Đó là cái ý thức năng đạo thế gian, tâm năng biến nhiếp thọ. Nghĩa là tất cả xấu lành dữ của thế gian đều do tâm dắt dẫn và tâm làm chủ, nhiếp thọ hết

* Trang 276 *
device

mọi sự. Cho nên nếu không có tâm nhiếp thủ hết tất cả mọi sự thì mọi sự không lành. Vì vậy nên có ý căn.
Bây giờ nói ngũ thọ căn là gì? Khổ, lạc, ưu, hỷ, xả. Tức nói một cách khác là khổ thọ, lạc thọ, ưu thọ, hỷ thọ, xả thọ  gọi là ngũ thọ căn. Ngũ thọ căn này có tác dụng vào trong đời sống hàng ngày của chúng sinh còn đương có ở trong cái vòng triền phược, trong cái vòng luân chuyển sinh tử, trong cái vòng lưu chuyển hữu tình sinh tử, còn đanh ở trong vòng phiền não hữu lậu như chúng ta đây thì có đủ mấy căn đó, tức đủ 14 căn. Nếu không đủ 14 căn thì chúng ta cũng không lưu chuyển, chỉ có ngũ uẩn nằm một cục mà thôi. Có mấy căn này nên nó có ngó ngoáy, có tác dụng nọ kia đủ thứ. Cho nên chúng hữu tình có các căn này làm sở dụng, là tác dụng của các thể là 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, tức 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới là thểm còn đây là nói về dụng. Trong cái vòng hữu tình lưu chuyển thì có 4 cái đó. Nghĩa căn là sao? Là có tác dụng làm cho cái sự việc đó nó phát triển ra, nó lớn manh lên, nó đạt kết quả, cho nên gọi là căn. Nếu ngang chừng đó thôi thì mình cứ làm chúng sanh mãi, nhưng mà không, nếu ai có duyên lành, có biết tu biết học, biết cải tà quy chánh thì còn mấy cái căn này nữa. Mấy căn này gọi là hoàn diệt, nó đi trên phương diện hoàn diệt. Phương diện hoàn diệt là gì? Đó là ngộ thanh tịnh căn là tín, tấn, niệm, định, huệ căn này Phật có nói trong kinh rồi, giờ Phật mới hệ thống nó ra chứ không phải các tổ đặt ra. Trên con đường hoàn diệt tìm giải thoát thì phải có tín, tấn, định, niệm, huệ. Nếu không có tín thì không làm gì được hết. Nhưng tin rồi mà ngồi lỳ ra đó không tấn thì không làm gì nên chuyện. Nhưng tinh tấn một cách lung tung, không có niệm định thì không sao cả. Cho nên có niệm rồi mà phải có định nữa. Có định rồi phải có một sự tập chú. Tập chú rồi mới có huệ, mới sáng suốt, mới nhận định được, mới ngộ được

* Trang 277 *
device

chân lý, may ra thoát ly khổ hải. Cho nên bốn căn đó gọi là thanh tịnh căn. Thanh tịnh căn đó đi ra tới đâu nữa? Đi tới vị trí đương tri căn, là tại kiến đạo vị. Chữ vị trí đương trí đối với lý tứ kiến là cái mà từ trước đến nay ta chưa biết, cho nên gọi là vị tri. Vị tri đương tri là chưa biết mà gần biết, chứ không phải là hoàn toàn chưa biết hay không biết gì hết, cho nên gọi là đương tri. Thì đây ở vào nơi địa vị kiến đạo mà tu quán Tứ đế phát khởi ra 16 tâm: Khổ pháp trí, khổ pháp trí nhẫn; tập pháp trí, tập pháp trí nhẫ; Đạo pháp trí, đạo pháp trí nhẫn, Diệt pháp trí, diệt pháp trí nhẫn là 8. Rồi Tứ đế của hai cõi trên là khổ loại trí nhẫn là 9, Khổ loại trí là 10, Tập loại trí nhẫn là 11, Tập loại trí là 12, Đạo loại trí nhẫn là 13, Đạo loại trí là 14, Diệt đạo trí nhẫn là 15, Diệt đạo trí là 16. khi hoàn toàn đạt được 16 tâm thành tựu như vậy thì sẽ ngộ được cái lý Tứ đế, được nhập vào kiến đạo, đoạn trừ kiến hoặc, không còn kiến hoặc nữa. Ở nơi địa vị này gọi là vị tri đương tri căn. Vì ở nơi vị này có những căn: Ý, hỷ, xả, lạc, tín, tận, niệm, định, huệ nó làm cơ bản cho cái kiến đạo, đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai là do từ nơi địa vị vị tri đương tri này làm căn bản cho hành giả tiến lên tu đạo, mới tiến lên cái  dĩ tri căn được. Dĩ tri căn này nó tương đương với bên tu đạo vị. Tu đạo vị tức là lên trên đó tức nhiên đối với lý Tứ đế anh biết rõ rồi, lên trên này cần tu không cần biết, khi ở kiến đạo anh cần phải biết mới thấy được Tứ đế, đoạn được kiến hoặc, nhưng lên tu đạo rồi thì kiên hoặc hết rồi, anh thấy được tứ đế rồi,lên chỗ này anh cần tu nữa mà thôi. Lên đây là dĩ tri rồi, đã biết Tứ đế rồi. Dĩ tri đương căn nó làm cơ bản để tiến lên cụ tri căn. (Lên trên này biết đủ rồi). Dĩ tri còn tu, cụ tri căn (kiến hoặc, tu hoặc cũng đoạn hết, coi như cụ tri căn). Có cụ tri đó mới vào trong vô học đạo vị được, không có       

* Trang 278 *
device

thì không ở vào vô học đạo vị. Như vậy, trên phương diện hoàn diệt thanh tịnh đi đến nhẫn cần có 5 thanh tịnh căn là tín, tấn, niệm, định, huệ. Cần có vị tri đương tri căn để mà đi bào kiến đạo. Cần có dĩ tri căn để nhập vào tu đạo. Cần có cụ tri căn để vào vô học đạo thành A-la-hán quả giải thoát. Giời thì không còn luân hồi sanh tử nữa. Do đó mới có đủ 22 căn. Như vậy 22 căn này nó có tác dụng cho đời dống của loài hữu tình, đang bị triền phược phiền não là 14 căn kia, và nếu anh đi lên con đường giải thoát thì cần có 8 căn này nữa. Nếu đi lên con đường giải thoát mà bỏ 8 căn này thì không biết níu vào đâu mà kiến đạo, tu đạo, vô học đạo.]
Ba căn vô lậu: Là vị tri đương tri ,dĩ tri, cụ tri, dựa theo ba đạo là kiến đạo, tu đạo, vô học đạo để kiến lập và lấy 9 căn là ý, hỷ, lạc, xả, tín, tấn, niệm, định, tuệ, làm thể. Người hành giả khi tiến tu trên đường giải thoát, quán sát lý Tứ đế theo tiến trình phát khởi16 tâm là 8 nhẫn 8 trí để dứt trừ 88 sử kiến hoặc mà nhập kiến đạo. Nhưng khi sinh khởi tâm thứ 15, vẫn chưa biết rõ lý Tứ đế, đợi đến khi tâm thứ 16 khởi lên mới biết trọn lý Tứ đế và dứt trọn kiến hoặc. Ở tại địa vị này phát sinh 9 căn như trên gọi là vị tri đương tri căn. Vì kế theo dĩ tri căn ở tu đạo phải dựa vào đây mới phát khởi ra được. Tiếp giai đoạn kiến đạo là giai đoạn tu đạo, tại đây cũng phải tiếp tục quán lý Tứ đế để dứt hết 81 phẩm tư hoặc. Khi tu quán để dứt tư hoặc này phát sinh 9 căn như trên gọi là dĩ tri căn, vì nhờ đây làm căn cứ mới tiến đến cụ tri căn. Ở vô học đạo với 9 căn như trên làm tự thể. Tiểu Bộ Kinh tập I trang 458 nói: "Vị tri đương tri căn, tri căn, cụ tri căn", (căn: tôi sẽ biết điều chưa được biết; căn về sự biết; căn của người đã biết. Căn 

* Trang 279 *
device

với nghĩa sức mạnh hoặc phương pháp. Ba căn này liên hệ đến tương lai, hiện tại, quá khứ. Căn của vị đã biết được đối với bốn sự thật, đã thành tựu những gì cần phải làm) [là ngũ biến hành và ngũ biệt cảnh mà trong này dồn chung lại là một đại địa pháp. Thấy rõ sự diễn tiến từ khi ngài Thế Thân soạn Câu-Xá thì 10 thứ đó ngài dồn về thành đại địa pháp. Nhưng khi ngài viết Duy thức thì chia làm hai là 5 biến hành và 5 biến cảnh. Trong cái tính cách, tác dụng của 5 thứ đó nó có sự khác nhau, cho nên khi viết Duy thức ngài lại đổi ra, 5 biến hành 5 biến cảnh chứ không gọi là đại địa pháp nữa.
Đại thiên địa pháp: là tín, bất phóng dật, khinh, an, xả, tàm, quí, vô tham, vô sân, bất hại, cần. Đại phiền não địa pháp có 6: Si, phóng dật, giả đãi, bất tín, hôn trầm, trạo cữ. Đại bất thiên đại pháp có hai là vô tàm vô quí.
Tiểu phiền não địa pháp có 10: phẩm, phú, xan, tật, não, hại, hận, siển, cuốn, kiêu. Bất định địa pháp có 8: Tầm, tứ, thụy, miên, ô tát, tham, sân, mạn, nghi đó là nói về tâm sở. Còn về bất tương ưng có 14, tâm sở có 46, bất tương ưng 14 là: đắc, phi đắc, đồng phận, vô tưởng thiền, vô tưởng định, diệt tận định, mạn căn, sanh trụ diệt cú văn thân.
Vô phi pháp có 3: Tất cả đều qui vào 75 pháp đó, thì trong cái sắc pháp đó học và biết rồi, tá pháp đã học và biết rồi. Giờ đây nói đại thiên địa pháp (sau cắt nghĩa còn đây chưa nói). Trong đại thiên địa pháp có một cái thứ thọ tưởng tư. Xúc dục (chữ dục này bên chữ Hán dùng chữ dục như vậy, chung chung; cũng vì lẽ nói chung chung co nên nhiều khi nói diệt dục này là diệt tuốt luốt hết. Dùng một chữ diệt như vậy là diệt tuốt        

* Trang 280 *
device

hết, không những diệt dục tham sân si mà chính cái muốn ăn cũng diệt, ngủ cũng diệt, nóng muốn tắm cũng diệt. Coi như vậy người tu đạo phật trở thành cây, đá! Chứ không phải tiêu cực mà thôi. Khi đó trở thành cây đá. Muốn ăn cũng không được, muôn ngủ cũng diệt, muốn tắm cũng diệt, muốn chi cũng bị diệt hết. Xưa nay có sự hiểu lầm đó. Bỏi vì chữ Hán ta dịch chữ dục là nói nghĩa quá tắt, chứ hiểu chữ Dục đó theo chữ Hán thì người ta dịch nghĩa là: Ư sở hưng uyển cầu hợp ly đẳng hữu hy vọng cổ? Là đối với cái cảnh hưng thích, nhàm chán (hàn một nghĩa, yểm một nghĩa) cầu cái sự hợp và ly (cảnh hưng thích thì cầu nó hợp lại, mà cái nhàm chán thì cầu nó xa ra). Mùi hương thơm thì cầu nó gần lại, mùi thối thì tránh cho xa ra (ly) ư sở hưng yểm cầu hợp ly đẳng hữu hy vọng cổ. Cho nên chữ dục trong này nói rộng nghĩa ra tức có nghĩa hy vọng (muốn). Khi con người còn có cái thức muốn, có hy vọng tức còn sống. Khi con người còn có cái thức muốn, có hy vọng tức còn sống.  Khi không còn muốn, không còn hy vọng nữa, tất nhiên không muốn sống nữa. Mặc nào cũng không muốn hết. Cho đến ăn cũng không muốn, ngủ cũng không muốn, thức cũng không muốn, chơi cũng không muốn. Có ai hỏi anh muốn gì không? Tôi không muốn gì hết. Cho nên có một chuyện không hài được kể như thế này. Anh đó anh đi tới bác sĩ. Bác sĩ hỏi: anh có muốn cái đó, anh có muốn cái kia không? anh nói: Gì tôi cũng không muốn hết. Ông bác sĩ nói ông không muốn gì cả thôi thì về chết quách đi chứ khám làm gì cho mệt. Chữ dục đây có nghĩa chung chung như vậy. Cho nên trong kinh Pali họ mới phân tích cho kỹ để hiểu rõ hơn chứ còn nghĩa chữ dục này là nghĩa chung. Con mắt muốn thấy, tai muốn nghe, tay muốn cầm, chân muốn đi, đó là chuyện tự nhiên hồn nhiên thế thôi. Trong chữ Hán nhiều khi để cho rõ nghĩa chữ dục nó nói về tính cách gì? Thì người ta thêm một chữ nữa hoặc là tham dục hoặc là ái dục hoặc là nguyên dục                           

* Trang 281 *
device

để chỉ rằng cái dục đó là cái dục đúng hay dục sai, dục thiện hay dục ác. Chứ còn nói dục chung chung thì đó là một cái dục tự nhiên hồn nhiên, mắt muốn thấy tai muốn nghe… chuyện đó không sao hết. Thành thử bên chữ Hán nó cũng tương đương với chữ Pali là chữ Skhdaha. Nó từ cái ngữ căn Skhan là ước muốn, từ ngữ căn nói tới nghĩa gì? Ao ước, ước muốn, hy vọng.
Trong chữ Hán nói dục nói trùm lên hết, nói diệt dục là diệt hết nên không ai muốn tu. Chỗ này phải phân biệt cho rõ. Khi nói diệt dục là diệt cái gì? Chỉ diệt ái dục, hay tham dục hay nhục dục mà thôi. Đó là nói dục phiền não, ái phiền não. Còn trường hợp nói diệt vọng tưởng thì lại khác. Trường hợp nói tu thiền mà diệt vọng tưởng lại khác. Bên tu thiền chủ trương: một niệm không khởi thì muôn pháp đều yên lặng, đó là nói về vọng tưởng. Khi nói về vọng tưởng thì qua cái nghĩa là diệt vô minh, không phải là diệt ái. Thành thử mình thấy có hai thứ: một thứ ái và một thứ vô minh. Diệt dục là diệt món tham ái đó. Còn vô minh là đi sâu vô một tầng nữa. Vì sao mà nói không diệt vô minh là bởi vô minh là thuộc về căn bản, còn tham ái là thuộc về chi mạc (nhuận sanh). Đó là nói về chữ dục.
Trong này có mấy chữ cần phân biệt. tỷ dụ như chữ: Bất phóng dật, không buông lung. Chữ bất phóng dật này nói theo một nghĩa khác tức có nghĩa là hộ tâm, hộ căn đó là bất pháp dật. Hộ tâm hay hộ căn gọi là bất phóng dật. Cho nên ta có chia cái phần gọi là vừa giữ giới mà vừa hộ căn. Giữ giới mà hộ căn nữa. Còn giữ giới mà không hộ căn thì chưa đủ. Thành thử chữ hộ căn hay hộ tâm đây có nghĩa là không phóng dật. Sao gọi là phóng dật? Tức cái tâm của ta thả lỏng, lêu lổng trong việc tu thiện đoạn ác, không chăm chỉ mà cứ lêu lổng thả trôi đi: gọi là phóng dật. Giờ đây bất phóng dật thì đối với việc tu thiện đoạn

* Trang 282 *
device

ác chăm chỉ, chứ không thả trôi, đó gọi là bất phóng dật, thuộc về hộ tâm. Còn chữ xả ở đây thuộc về thiện tánh.
Tàm quí: Tàm là mình tự hổ lấy mình, tự xét lấy mình với mình. Mình hổ, trước như thế mà hôm nay sao như thế. Quí tức là tôn trọng công luận (đối với người) làm chuyện đó bị người ta chê quá, xấu quá, khó chịu quá, đó là tôn trọng công luận. Hai chữ này, một chữ thuộc đối nội, một chữ thuộc đối ngoại, thành ra hai nghĩa tàm và quí. Còn chữ tật có nghĩa là ganh tỵ, ganh ghét. Trung luận cắt nghĩa là: Bất nại tha vinh (không chịu nổi sự hay ho của người khác. Sự vinh hiển của người khác. Sự vinh dự của người khác. Sự thắng lợi của người khác. Đó là tâm tật đó. Nói thiên hạ thua mình thì được, chứ hơn mình thì chịu không nổi, ở không yên.
Trong này về cái bất định địa pháp có 8 thứ: tầm, tứ, thùy, miên, ố tát, tham, sân, mạn và nghi. Vì sao gọi là bất định mà trong bên Duy thức ngài cho tham, sân, si, mạn chứ không thuộc bất định nữa. Nó coi như chính thức là phiền não căn (gốc) chứ không phải là bất định nữa. Nhưng trong này ngài cho 8 thức đó là bất định bởi vì 8 thứ này nó không nhiếp thuộc vào trên đại địa pháp, đại thiện địa pháp, não đại pháp cho nên cho nó là bất định (định là không nhất định ra sao hết).
Bất tương ưng không phải đi với chữ hành tướng mà chữ hành đi với các pháp có sinh diệt biến động gọi là hành. Sao không gọi nó là tâm, sắc mà gọi hành là bởi nó nằm giữa cả tâm cả sắc. Nó cũng không phải là tương ưng tâm sở được mà nó cũng không phải là sắc cũng không phải là tâm. Nhưng do có sắc có tâm mà thành ra nó cho nên gọi là bất tương ưng hành. Một cái pháp biến động mà cũng không tương ưng với sắc, không tương ưng

* Trang 283 *
device

với tâm gì hết nên gọi là bất tương ưng hành. Chứ còn tâm sở tương ưng với tâm rõ ràng nên gọi là tương ưng pháp. Thì những pháp này là đắc (được) và không được. Tỷ dụ như khi nói được tất nhiên phải có sắc có tâm. Được cái gì? Được đồng bạc, có đồng bạc, có cái tâm nhận lấy đồng bạc đó thành ra có cái được. Chớ nếu có cái tâm không mà nói được thì được cái gì? Nếu có đồng bạc,, đồng bạc nó nằm trơ trơ ra đó, mắc chi nói được và không nói được. Vì vậy cho nên cái đắc là nó không tương ưng với tâm, không tương ưng với sắc, nhưng do có sắc có tâm mới thành ra cái sắc đó. Ngược lại cái phi đắc cũng vậy. Rồi còn cái đồng phận nữa. Đồng phận tức là cái tính cách đồng nhau. Cái tính cách đồng nhau giữa Tỳ-kheo với chúng Tỳ-kheo, chúng sa di với chúng sa di, trời với trời, người với người. Đó gọi là đồng phận. Cho nên có chỗ người ta thêm vào gọi là thiền đồng phận, nhơn đồng phận. Nhơn đồng phận là sao? Người đồng phận với người, trời đồng phận với trời, nói anh với tôi cũng y như nhau. Không được. Đừng nói chúng tôi có 2 mắt 2 mũi àm nói ông Tỳ-kheo với ông Sa di cũng y như nhau. Không được, sa di đồng phận với sa di, Tỳ-kheo đồng phận với Tỳ-kheo. Chữ tính cách đồng giữa cái này và cái khác gọi là đồng phận. Hai nữa nó cũng đồng có cái nghĩa cùng phận sự gọi là đồng phận.
Hôm trước có cái nghĩa nhãn kiến sắc đồng phận. Trên các nhà thức kiến họ bác. Họ nói nếu như anh nói cái kiến thì khi con mắt anh ngó sờ sờ ra đó mà cái thức không khởi lên, nó duyên đi chỗ khác thì anh cũng không thấy. Làm sao anh nói căn kiến được! Ông căn kiến ông trả lời không. Tôi nói căn kiến nghĩa là nhãn kiến sắc đồng phận. Trong khi thấy sắc, có cái thức cùng chung phận sự với nó thì nó thấy. Nếu các thức không cùng chung với nó thì nó không thấy. Cho nên tôi nói con mắt

* Trang 284 *
device

thấy là thấy trong lúc có thức cùng chung phận sự với nhãn, nhìn sắc thì mới thấy. Đồng phận là đồng nghiệp, đồng phận sự. Nói vậy để cho biết rằng cái này nói sắc cũng không được, nói tâm cũng không được, nhưng cái đó nó có, chứ phủ nhận cũng không được, nhưng cái đó nó có, chứ phủ nhận cũng không được, vì thế để nó là một pháp.
Rồi vô tưởng định: tức là nhập với cái định vô tưởng, bặt tuyệt hết cái tư tưởng gọi là vô tưởng định. Nhập vô tưởng định đó là nhân, khi nó thành tựu thì đạt đến vô tường thiên.
Mạn căn (như bữa qua). Sanh, trụ, dị, diệt. theo như Câu-Xá luận, tất cả pháp thể đều có cho nên sanh tướng đều có, trụ tướng có, dị tướng có, diệt tướng có... vì vậy cho nên cái pháp sở dĩ sanh ra được là nhờ có tướng sanh nó kết hợp với cho nên anh mới sanh ra được. Còn khi tướng sanh nó không kết hợp thì không sanh ra được. Khi có tướng trụ kết hợp thì cái pháp đó mới trụ, chứ không có tướng trụ kết hợp thì pháp không trụ được. Khi có tướng dị kết hợp thì pháp mới dị. Khu có tướng diệt kết hợp thì nói mới diệt. Thành ra sanh trụ dị diệt mới gọi là y tướng hữu vi. Hễ 4 tướng nó bạ vô đâu thì pháp đó thành hữu vi đó. Nó bạ vào nên thành sanh, trụ, dị, diệt gọi là 4 tướng hữu vi thật có, đó là nghĩa của Câu-Xá. Còn qua Kim Cang thì phủi hết thôi không nói nữa. Kim Cang là nhất thiết giai không.
Danh thân,cú thân, căn thân, là nói về một cái ngôn ngữ nó có diễn tiến qua 3 giai tầng. Đơn và thức khác nhau. Danh là chỉ nói một cái danh từ đơn độc. Ví dụ cây tùng, cây mai đó là danh. Danh đó nó kết ra một mệnh đề nhỏ, ngắn thành câu. Cây tùng xanh suốt đời thành một câu (cú thân). Dồn nhiều câu như vậy thành câu văn. Khi nói cây tùng mập lúc nào, tùng lên cao mấy thước, ai trồng, ngắm cây tùng rồi sinh ra ý nghĩ ra sao mà

* Trang 285 *
device

thành văn (văn thân). Danh thân, cú thân, văn thân. Đơn và phức trong phương diện phát biểu về sự vật, cho nên nó có ba tầng lớp.
Trong này có chữ tiểu phiền não địa pháp. Sao gọi là tiểu? Tiểu này khác hơn bên Duy thức cắt nghĩa. Bên Duy thức gọi là tiểu tùng, trung tùng, đại tùng. Tiểu phiền não vì cái phiền não. 1. Chỉ có tu mới đoạn được, còn kiến đoạn không đoạn được. 2. Phiền não này chỉ khởi nơi ý thức chứ không khởi nơi tiền ngũ thức. 3. phiền não này có tương ưng với vô minh. 4. Mỗi cái mỗi cái hiện hanh riêng chứ nó  không cần chung nhau lên mà hiện hành. Cái nào nó đủ khả năng hiện hành riêng rẽ cái đó chứ không cần phải kết hợp mà hiện hành. Do y lẽ đó cho nên gọi là tiểu phiền não địa pháp. Đó mới nói các pháp câu sanh mà chỉ mới nói các pháp chứ chưa nói chữ câu sanh.]
 
ĐOẠN 2: Các pháp câu sanh

Câu sinh tức duyên sinh, nhằm phá tà kiến vô nhân sinh, tạo hóa sinh. Các pháp hữu vi (hiện tượng) không thể đơn độc riêng sinh, mà phải có những pháp khác đồng thời nương nhau mà phát sinh, nên gọi là câu sinh. Các pháp, trong vũ trụ nhiều vô lượng không thể kể xiết, nhưng có thể quy hết trong năm loại là sắc, tâm, tâm sở, tâm bất tương ưng hành và vô vi. Trong năm loại này, trừ vô vi là pháp thường hằng không biến hóa sinh diệt, không thuộc pháp câu sinh; bốn loại còn lại thuộc pháp hữu vi nên đều là câu sinh. Vậy, các pháp câu sinh là những pháp gì ?
Xem đồ biểu sau:

* Trang 286 *
device








Về sắc và tâm pháp đã giải thích ở phẩm Giới. Đây chỉ nói đến tâm sở, tâm bất tương ưng hành và tính cách câu sinh của nó.
1. Tâm sở pháp: Tâm thức vô hình, khi đối tiếp cảnh vật khách quan, không những nó thu nhận tướng chung của các pháp như tác dụng của tâm vương, mà còn thu nhận tướng riêng. Chính tác dụng chủ quan thu nhận tướng riêng này, nó tùy thuộc tâm vương như bầy tôi tùy thuộc vua, là sở hữu của vua, nên gọi nó là tâm sở, hay tâm sở 

* Trang 287 *
device

hữu pháp. Loại này gồm 46 thứ chia thành 6 nhóm:
Biểu đồ phụ:
THEO DUY THỨC CÓ 5 VỊ, 100 PHÁP















[Hay nói cách khác sao gọi là tâm sở pháp. 1. Vì nó nương theo tâm vương mà khởi lên. Nếu anh tâm vương không khởi lên thì nó cũng không khởi. 2. Tương ưng với tâm vương. 3. Hệ thuộc theo tâm vương. Như anh, như tôi khi nào cũng lệ thuộc vào ông
 

* Trang 288 *
device

chủ hết. Cứ đi lè kè theo ông chủ, chứ không đi qua ông khác được.]
[Trước kia nói đại địa pháp là sao? Là chỉ cho tâm vương. Cho nên chữ này có trường hợp khác gọi là tâm địa.
Tâm địa anh đó thế, anh kia thế này, người đó tâm địa như vậy nhưng tâm địa không tốt. Anh kia mặt mày tuy xấu nhưng tâm địa anh tốt lắm. Vì sao gọi là tâm địa? Bởi vì tâm nó như mảnh đất, từ đó muôn vật sinh ra, mọi giống mới sinh ra. Chính từ nơi tâm mà sinh ra mọi thứ. Mọi điều lành mọi điều dữ, tốt xấu khác nhau cho nên gọi là tâm địa. Nói rộng ra nữa như bồ-tát giới gọi là tâm địa giới. Vì sao Bồ-tát giới gọi là tâm địa giới? Là vì bồ tát giới không phải giữ giới căn cứ nơi 7 chi của thân và khẩu mà căn cứ làm tâm. Lấy cái tâm Bồ-đề làm giới, giới đó chú trọng ở nơi tâm. Cho nên về Bồ-tát giới mà trước hết nếu như thối thất Bồ-đề tâm là mất giới, dầu anh chưa có phạm cái giới đó, nhưng anh thối thất bồ-đề tâm là mất giới. Cho nên gọi là tâm địa giới. Để hiểu rõ chữ địa trong này, tâm vương là mảnh đất mà tâm sở hiện hành và lưu hành trên đó. Tâm sở tức nhiên có thiện có ác, nói cách khác tâm vương là mảnh đất của các giống thiện niệm, ác niệm sinh ra.]     
a. Đại địa pháp.......................................           10 thứ
b. Đại thiện địa pháp.............................. 10 thứ
c. Đại phiền não địa pháp......................  6 thứ
d. Đại bất thiện địa pháp........................  2 thứ
đ. Tiểu phiền não địa pháp.....................  10 thứ
e. Bất định địa pháp................................          8 thứ
(Chung cả 46 thứ này xem rõ đồ biểu trên)

* Trang 289 *
device

a. Đại địa pháp: Địa chỉ tâm vương. Tâm vương là mảnh đất mà tâm sở hiện hành và lưu hành trên đó. Đại, chỉ cho 10 tâm sở thọ, tưởng, tư v.v... Vì 10 tâm sở này có công dụng rất lớn thông cả ba tâm thiện, ác, vô ký và bất cứ lúc nào tâm vương sinh khởi thì cũng đều có nó tương ưng khởi theo.
[Nói một cách khác vì sao gọi là đại? Vì những cái tâm này nó khác tất cả (xứ) biến nhất thiết xứ. Biến nhất thiết xứ tất nhiên là: 1. Nó khắp tất cả xứ. Xứ đây là tam tánh, thiện ác, vô ký, gì đều có hết. 2. Biến nhất thế địa. Tam giới cữu địa hay nói cách khác là tầm tư địa, vô tầm duy từ địa. 3. vô tâm vô từ địa. ( Tầm tư tầm từ, tấm tứ tùy theo. Khi kêu tầm tứ khi kêu tầm từ... trong Thanh tịnh đạo luật có nghĩa rõ lắm. Tôi nhơ có cái ví dụ trong thanh tịnh đạo luật cắt nghĩa tầm tứ như vậy. Vô tầm duy từ trước hết là tầm từ đủ cả tầm cả từ rồi lên bậc sơ địa, tức sơ thiền là vô tầm duy từ, lên nhị thiền là vô tâm vô từ, lên trên đó là vô tầm vô từ. Tầm từ trong Thắng pháp tập yếu ví dụ như thế này. Ví dụ như con ong nó nghe cái mùi hoa ở chỗ nào đó, nó ở đây nó nghe mùi hoa ở bên đó, nó nhắm cái mùi hoa đó nó bay tới là tầm. Khi bay tới cái hoa đó rồi, nó cứ liệng quanh tìm để hút mật, đó gọi là từ, 2 giai đoạn. Đối với tư tưởng gì của mình trong hàng ngày cũng vậy. Khi mình mất một cái vật gì, mà biết rằng mình nhớ chừng chừng nơi vật đó đi ngang vô cửa ngõ ra cửa ngõ rồi mất, thì phải đi ra cửa ngõ mà tìm, nếu chưa thấy thì phải đi quanh đi quất mà tìm. Từ đây ra ngõ là tầm, từ nơi này nơi kia là từ.
               Biến nhất thiết thời
Biến nhất thiết tâm

* Trang 290 *
device

Vì vậy cho nên gọi nó là đại. 10 tâm sở này nó có 4 cái biến nên gọi nó là đại.]
           
Nói tóm, tâm vương là mảnh đất cho 10 tâm sở thọ, tưởng, v.v...có công dụng rất lớn nương tựa, hiện hành nên gọi là đại địa pháp.                               
b.Đại thiện địa pháp: Có hai cách giải thích:
- 10 tâm sở: tín, bất phóng dật, v.v... chỉ thuộc thiện tính nên gọi là thiện.
- Biến khắp các thiện tâm. Hễ đã là thiện thì đều có nó, nên gọi là đại. Địa nghĩa như trên.
c. Đại phiền não địa pháp: Vì tính của 6 tâm sở này  thuộc về ác và hữu phú vô ký (nhiễm ô) hay làm não loạn lòng người, và khắp các tâm nhiễm ô đều có nó, nên gọi là đại phiền não.
d. Đại bất thiện địa pháp: Vì tính chất hai tâm sở này thuộc về ác, và khắp các ác tâm đều có nó, nên gọi là đại bất thiện.
đ. Tiểu phiền não địa pháp: Mười tâm sở này, tính chất giống như đại phiền não, đến địa vị tu đạo mới đoạn trừ. Nhưng nó chỉ riêng biệt khởi lên theo đệ lục ý thức nên gọi là tiểu phiền não.
e. Bất định địa pháp: Tính chất của tính tâm sở này không thuộc thiện như đại thiện địa pháp, không nhiễm ô như địa và tiểu phiền não địa pháp, cũng không giống đại bất thiện địa pháp. Nhưng nó lại tùy lúc trở thành thiện, hoặc ác, hoặc vô ký, nên gọi là bất định. Và nó không biến

* Trang 291 *
device

khắp các tâm như mấy thứ trên, nên trên đầu không có thêm chữ đại hay tiểu.
2. Tâm bất tương ưng hành pháp: Vì loại pháp này không tương ứng với tâm pháp nên gọi là bất tương ưng để giản biệt với tâm sở. Hành là hành uẩn, tức muốn nói nó thuộc hành uẩn, chứ không thuộc sắc uẩn hay vô vi.
Sao gọi là tâm tương ưng và tâm bất tương ưng ? Tâm tương ưng là chỉ cho các tâm sở tương ứng hòa hợp với tâm vương bởi năm sự đồng đẳng:
a. Đồng sở y: Tâm vương tâm sở đồng nương một căn mà hiện khởi.
[Thì tỷ dụ nhãn căn duyên nơi cái sắc đó, ưa với không ưa, thì tâm sở cũng dựa theo nhãn căn đó mà khởi lên, chứ khi bây giờ anh không thể dựa theo cái nhĩ căn mà anh khởi lên được, thì gọi là đồng sở y. Đồng nương một căn đó mà khởi.] Như khi nhãn thức tâm vương nương nhãn căn mà hiện khởi, thì tâm sở tương ưng với nhãn thức cũng nương nhãn căn mà hiện khởi, chứ không thể nương căn khác.
b. Đồng sở duyên: Tâm vương tiếp xúc cảnh nào thì tâm sở tương ưng cũng tiếp xúc cảnh đó.
c. Đồng hành tướng: Sự nhận thức của tâm vương như thế nào thì nhận thức của tâm sở tương ưng cũng như thế ấy. Hành tướng tức tướng mạo hiểu biết, sự nhận thức là tướng hành động của tâm.
d. Đồng thời gian: Tâm vương, tâm sở tương ưng phải đồng một lúc hiện khởi.

* Trang 292 *
device

đ. Đồng thể sự: Mỗi tâm vương, tâm sở tương ưng đều có tự thể riêng bằng nhau hòa hợp lại mới thành nghĩa tương ưng.
[Chữ sự này trong luậ thường hay dùng, có nghĩa là sự thể tức nhiên là cái thể của nó. Nó có cái tự thể của nó. Anh với tôi hòa hợp nhau, tôi có tự thể của tôi, anh cũng có tự thể của anh. Cả hai đều có tự thể thì mới hòa hợp.] Loại tâm bất tương ưng hành có 14 thứ như kể trên.
 
Đoạn 3: TÍNH CÁCH CÂU SINH
[Chữ câu sanh cũng tợ tợ như chỗ duyên sanh. Câu sanh duyên sanh hay y thâ khởi tánh, nó cũng đồng nghĩa nhau hết.
Câu sanh như thế nào? Hay nói duyên sanh thì duyên sanh như thế nào? Chữ đó là chữ chung. Còn phân tách ra thì có nhiều cách phân tách. Mà trong Hữu bộ này quan điểm chung của tất cả các bộ phái ai cũng nhìn nhân là duyên sanh, là các pháp đều câu sanh, không có một cái thực thể nào tồn tại biệt lập với cái khác. Nhưng mà cách cắt nghĩa mỗi bộ phái mỗi khác. Hữu bộ có cách cắt nghĩa khéo léo đặc biệt phát minh ra được một lối cắt nghĩa về tính cách câu sanh đó, tìm và nói rõ cái nhơn duyên của sự câu sanh của các pháp đó, rõ hơn các bộ khác, đặc biệt hơn các bộ khác. Cho nên Hữu bộ cũng còn còn có danh từ nữa gọi là Thuyết nhơn bộ, một bộ nói về cái nhân. Nhân là nhân duyên. Trong khi nói câu sanh thế này là tự nhiên nó phủ nhận cái lý thuyết các pháp vô nhân sinh, tự nhiên sinh, bất bình đẳng nhân sinh hay là nhất nhân sinh. Khi nói câu sanh, khi nói duyên sanh thì nói phủ nhận cái thuyết cho vô nhân sinh, tự nhiên sinh hay bất bình đẳng nhân sinh                                   

* Trang 293 *
device

hay là nhất nhân sinh. Cho nên đối với Phật giáo mà nói nhất nguyên luận là không có. Bởi vì duyên sinh thì nhất nguyên sao được. Hai nữa, vậy nói Phật giáo là đa nguyên có được không? Sao không được. Thành ra nói duyên sanh là đi tới nghĩa bát bất trung đạo: Bất sanh, bất diệt, bất đoạn, bất thường, nhất nhất, bất dị, bất lai, bất xuất. Nhưng đi tới bát bất trung đạo rồi mà đi qua nghĩa thứ 2 thì cao hơn.
Bây giờ ta nói về duyên sanh.
Như thế nói nhất nguyên sanh không được. Nhưng nếu không được nguyên sanh có được không? Cũng không được, vì sao nói không được? Mình nên hiểu rằng đa nguyên ( nguyên đó có nghĩa đầu tiên, nơi cái mối đầu tiên đó mà nó sinh ra cái mối khác. Nhất nguyên sinh là từ nơi cái mối đâu tiên, từ 1 ông thượng đế đầu tiên rồi ông sinh ra muôn muôn vạn cái gọi nhất nguyên. Giờ đa nguyên là từ nhiều cái đầu tiên nó sinh ra các cái khác, như vậy nhất nguyên cũng có cái ban đầu, đa nguyên cũng có cái ban đầu cho nên nói nhất cũng không được mà nói đa nguyên cũng không được. Phải hiểu chỗ đó. Chưa chừng nhiều chỗ ta nói đạo Phật có 75 pháp hợp lại mà thành như vậy là đa nguyên. Không được. Cũng có nhiều nhà triết học tây phương họ viết đạo Phật là đa nguyên luận chứ không phải nhất nguyên luận hay nhị nguyên luận, vì nói cả sắc cả tâm, hoặc đa nguyên vì đạo Phật nói thập nhị nhân duyên mà có, hay do ngũ uẩn mà có. Nhưng mà không được. Khi dùng chữ nguyên thì phải hiểu cái đó là cái đầu tiên rồi nó sinh ra cái khác. Theo thuyết nhân duyên là vô thủy vô chung. Không có cái nào đầu mà cũng không có cái nào đuôi hết, trùng trùng duyên khởi. Đã trùng trùng cho nên nó nhơn trở làm quả, quả trở làm nhơn. Không phải là nhơn hẳn mà nói nó là nguyên, còn cái khác là quả mà nói nó bị sinh

* Trang 294 *
device

ra. Hiểu rõ đa nguyên cũng không được nhất nguyên cũng không được, chứ không phải hiểu lòa lòa mà gọi là hiểu. Tây phương họ hay viết về đạo Phật và cho là đa nguyên. Chúng ta là Phật tử thì để ý chỗ đó, bởi vì mới nói nghe có lý lắm vì có 12 nhân duyên, 5 uẩn, tứ đại hay nói như trong Duy thức có 100 pháp hay Câu-Xá nói 75 pháp. Không được, vì lẽ nguyên là đầu rồi mà. Thành thử Hữu bộ này nó có 1 cái sắc là phát huy cái nhân của sự vật, nói rõ cái nhân cấu thành sự vật, câu sanh sự vật, cho nên nó còn có 1 tên khác là thuyết nhơn bộ. Theo Câu-Xá, Hữu bộ nó có 6 nhân, 4 duyên và 5 quả.
Sáu nhơn đó là gì? Phần sau sẽ nói rõ hơn.]
Bất luận sắc pháp hay tâm pháp, tuy Hữu bộ chủ trương chúng đều thật hữu, tương quan phát sinh, song tâm và vật ngang nhau chứ không phải cái này sinh cái kia. Khi sinh khởi đều có đủ bốn tướng sinh, trụ, dị, diệt, cùng sinh khởi, vì thế mới gọi là pháp hữu vi. Nếu không có bốn tướng này kèm theo, thì hẳn thành pháp vô vi. Ngoài bốn tướng hữu vi này ra, mỗi sắc pháp sinh khởi còn có bao nhiêu thứ đồng sinh với nó ? Mỗi tâm pháp sinh khởi còn có bao nhiêu thứ đồng sinh với nó ?
1. Tính cách câu sinh của sắc pháp: Sắc pháp là chỉ tất cả sự vật có sắc chất từ trong căn thân đến ngoài khí giới sơn hà đại địa đều do bốn đại năng tạo là đất, nước, lửa, gió và bốn đại sở tạo (cũng gọi là bốn vi trần) là sắc, hương, vị, xúc, hòa hợp tạo thành. Và chính ngay tự mỗi đại hay mỗi cực vi cũng đều có hòa lẫn các đại hay các cực vi khác. Ví dụ: Địa đại lấy cực vi cứng (cố thể) làm thể chính, nhưng trong nó vẫn có tính ướt (dịch thể) của 

* Trang 295 *
device

thủy đại, nếu không thì vàng bạc thể cứng, làm sao nấu chảy, và nếu không có tính ướt thì đất sẽ rã rời không thành đất được. Trong đất vẫn có tính nóng của lửa nên đập đá có lửa văng ra, và nhờ tính nóng mà đất không bị thối mục. Trong đất có tính động, (động lực, khí lực) của gió, nên cây cứng cũng lung lay và mới lớn lên được. Trong đất vẫn có đủ sắc, hương, vị, xúc hòa hợp nên mới thành được. Thủy, hỏa, phong, sắc, hương, vị, xúc cũng đều có đủ tính chất của các đại khác và các vi hòa hợp lẫn lộn tươmg tự như vậy mới thành. Suy ra để biết.
2. Tánh cách câu sinh của tâm, tâm sở: Như đã liệt kê trên, tâm sở gồm 46 thứ, trong đó, có thứ thuộc thiện tính, có thứ thuộc ác tính có thứ thuộc vô ký tính và có thứ thông cả ba tính. Vậy, khi tâm vương khởi thiện tất phải cùng với tâm sở thiện tương ưng, khi tâm vương khởi ác tất phải cùng với tâm sở ác tương ưng, khi tâm vương khởi vô ký tất phải cùng tâm sở vô ký cùng khởi. Vậy khi tâm vương thiện hay ác khởi, có mấy thứ tâm sở cùng khởi với nó?

BIỂU ĐỒ
Biểu đồ tính chất tâm sở cùng khởi với tâm vương


* Trang 296 *
device

Đoạn 4: Sáu Nhân - Bốn Duyên - Năm Quả :
Muôn pháp đều do nhân duyên mà sinh mà diệt. Duyên hợp thì sinh, duyên tán thì diệt, vốn không có tự tính chân thật. Tuy nhiên, có nhân thì có quả và ngược lại, nhân quả rõ ràng. Đó là cơ sở của nền giáo lý Phật. Vũ trụ bao la, các pháp vô cùng, luật nhân quả nhân duyên cũng thâm sâu, phức tạp, khó suy cùng manh mối. Song, theo Câu-xá tông có sáu nhân, bốn duyên, năm quả, còn tông Pháp tướng Duy thức thì đề ra bốn duyên, mười nhân, năm quả. Ở đây giải về sáu nhân, bốn duyên, năm quả, của tông Câu-xá.           
A. Sáu nhân
Sáu nhân là: Năng tác nhân, câu hữu nhân, đồng loại nhân, tương ưng nhân, biến hành nhân, dị thục nhân (có thể gọi là sáu dữ kiện hay căn nhân).
1. Năng tác nhân: Nhân là năng tác, quả là sở tác. Năng tác tức nhân, nên gọi là năng tác nhân. Bất kỳ dữ kiện nào dù không liên hệ trực tiếp, nhưng nếu có sự trợ giúp cho kết quả được sanh thành đều gọi là năng tác nhân.
[Nói như vậy nó rộng vô cùng, cho nên  năng tác nhân của nó bao trùm hết.] Nhân này có hai thứ:
a. Hữu lực năng tác nhân: Hữu lực là có sức giúp một cách tích cực. Như nhãn căn đối với nhãn thức, đất

* Trang 297 *
device

giúp cây cỏ mọc. Chỉ pháp hữu vi mới có tính cách hữu lực năng tác nhân này; pháp vô vi thì không.
[Pháp vô vi thì không có cái giúp trực tiếp đó, bởi vì pháp vô vi mà. Vô vi tức vô tác, vô tạo làm sao như pháp hữu vi có năng lực giúp trực tiếp được. Cho nên pháp vô vi không nằm trong hữu lực năng tác.]
b. Vô lực năng tác nhân: Vô lực là chỉ giúp một cách tiêu cực. Nói cách khác, là không giúp gì cả, chỉ không làm trở ngại cho sự sinh thành của kết quả. Như hư không không làm trở ngại mọi vật phát sinh, tảng đá trên núi không làm trở ngại cây lúa mọc dưới đồng, v.v...
[Giờ đây mình ngồi yên ổn mà học như thế này là nờ ai? Nhờ đàn na tín thí giúp đỡ, nhờ có Thầy Tổ giúp sách vở dạy dỗ cho mà học, nhờ có quạt mát yên tâm mà học. Đó là thứ trực tiếp. Ngoài ra còn có mấy người đi ngoài đường cũng giúp vào đây mới thành được, ví dụ mấy ông say rượu họ vào đây quạy phá thì mình cũng phải chiu, không làm sao ngồi yên mà học được đâu. Họ say nhưng họ làm thinh mình đi, họ không để ý tới mình, thì chính cái đó cũng tác thành cho sự hình thành của mình. Như tảng đá trên núi, vì ở trên núi nên lúa dưới này mới mọc được. Nếu nó cứ lăn xuống hoài thì lúa có mọc được không? Nó không làm chướng ngại cho cái khác sinh ra, thì nó cũng là một yếu tố cho cái khác được thành hình. Cho nên Câu-Xá được mệnh danh là Thuyết nhơn bộ cũng là vậy.]
Pháp vô vi vô tướng, không làm chướng ngại gì, nên cũng thuộc vô lực năng tác nhân này. Như vậy, năng tác nhân có phạm vi rất rộng rãi, bao gồm cả hữu vi và vô vi, nhưng trừ tự thân của mỗi pháp chính nó, vì tự thân không 

* Trang 298 *
device

thể làm nhân cho tự thân.
Hỏi: Nếu vậy, năm nhân kia cũng làm năng tác nhân  được chứ ?
Đáp: Được, nhưng vì năm nhân kia còn có công dụng khác và đã có tên gọi khác, nên không gọi chúng là năng tác nhân.
[Năm nhân kia nếu không có tiêu cực thì cũng giúp tích cực, không giúp tích cực thì cũng giúp tiêu cực, vậy cũng gọi là năng tác nhân được, sao lại không gọi? Ở đây ta trả lời 5 cái kia nó có công dụng của nó rồi. Cho nên dành cái tên năng tác cho cái này thôi. Còn gọi như vậy thành ra ôm đồm quá.]
2. Câu hữu nhân: Thông thường về mặt thời gian, luôn luôn nhân trước quả sau, nhân quả khác thời; nhưng về mặt không gian, nhân quả lại đồng thời, cùng có một lúc, một chỗ nên gọi là câu hữu nhân. Có hai thứ:
a. Hỗ vi quả câu hữu nhân: (nguyên nhân hỗ tương), không có vật nào đứng riêng rẽ mà thành, phải từ hai vật trở lên nương nhau đắp đổi làm nhân làm quả thì mới thành được. Như sự hỗ tương giữa bốn đại.
[Đất, nước, gió, lửa hổ tương lẫn nhau, đất ra đất, nước ra nước, gió ra gió, lửa ra lửa, chứ còn riêng một mình trơ trọi thì không thành. Như hôm trước tôi đã nói: Địa thần phát khởi tà kiến rằng trong đất không có gió lửa gì cả, bị Phật quở thì không thành được. Hay có thần ở đó nên ta không dám đốn. Định vác búa ra đốn cây đa nhưng có ông thần ở đó nên                                                

* Trang 299 *
device

sợ đành phải thối lui thôi. Nhưng thần cũng cậy cây đa. Có cây đa đó thần mới đến trú, còn không thì trú ở đâu.] Như tục ngữ nói: "Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa".
b. Đồng nhất quả câu hữu nhân: (Nguyên nhân hiệp đồng), một người không thể tổ chức thành một xã hội, nhiều người có cùng mục đích mới tổ chức thành xã hội. Hạt giống, đất, nước, phân,... tuy khác nhau, nhưng cùng chung tạo ra kết quả là cây lúa, bốn đại hợp nhau mới tồn tại và tạo ra sự vật. Như tục ngữ nói: "Ba cây chụm lại thành hòn núi cao". [Cái này là của ông luận sư này chứ không phải là của ngài Thế Thân.]
3. Đồng loại nhân: Tính đồng loại liên tục trong sự vật là nguyên nhân cho sự sinh thành của vật. Như niệm lành trước làm nhân cho niệm lành sau, niệm ác trước làm nhân cho niệm ác sau, nhiệt độ trong nước mới tăng dần thì nước mới sôi, nếu cứ đứt đoạn tăng giảm không chừng thì không thể nào sôi được. Như tục ngữ nói: "Có công mài sắc, có ngày thành kim". Đồng loại nhân là nguyên nhân của sự đồng loại tương tục tự nội. [Niệm trước lành niệm sau lành, niệm trước ác niệm sau ác. Niệm ác này có ra cũng do có  niệm ác trước. Niệm lành này có ra cũng do niệm lành trước. Đồng loại có ra. Nó cũng y như nước đun sôi, liên tục sôi chứ còn cho nó sôi một chút rồi đổ nước lạnh, rồi cho nó sôi, vừa sôi lại cho nước lạnh vào thì nước đó không bao giờ sôi đủ độ hết.]
4. Tương ưng nhân: Tương ưng có nghĩa như câu hữu, vì nó là một phần của câu hữu nhân, chỉ khác là câu hữu nhân có phạm vi quán thông cả vũ trụ vạn hữu sắc tâm, còn tương ưng nhân thì chỉ giới hạn ở tâm vương và tâm

* Trang 300 *
device

sở. Hiện tượng tâm vương, tâm sở không thể tách rời mà phải tương ưng thuận hợp tư trợ cho nhau để phát sinh. Vậy chính sự tương đó cũng là nguyên nhân. Giữa tâm vương và tâm sở có đủ năm sự đồng nhau mới thành tương ưng, như đã nói trên.
5. Biến hành nhân: Biến hành đồng nghĩa với đồng loại. Nó là một phần của đồng loại. Nhưng đồng loại nhân có phạm vi quán thông cả vũ trụ, còn biến hành nhân này chỉ giới hạn ở mười một phiền não biến hành của tâm sở, chỉ ra tính quan hệ tiền nhân hậu quả của nó mà thôi. Mười một phiền não biến hành đó là bảy món: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, nghi, vô minh trong mười hoặc (phiền não) do mê lý Khổ đế sinh ra, [mấy loại phiền não này là do mê lý Khổ đế sinh ra thì cho vào đây, chứ không phải do mê lý Tập đế sinh thì không nói vào đây. Mê lý Diệt đế sinh thì không nói vào đây. Phải rõ thứ đó,] cộng với bốn món: tà kiến, kiến thủ, nghi, vô minh trong bảy hoặc (phiền não) do mê lý Tập đế sinh ra.
[Mê lý Khổ đế sinh ra thì đủ 10 hoặc, đây tách ra 7 cái rồi. Mê lý tập đế sinh ra có 7 hoặc, đây tách ra 4 cái. Chung mấy cái đó lại gọi là biến hành nhơn.]
 Nó có tác dụng làm nhân phát sinh tất cả phiền não, nên gọi là biến hành nhân.
6. Dị thục nhân: Nhân và quả khác loại, khác tính với nhau, hoặc biến đổi đưa đến quả thành thục, là nguyên nhân đưa đến quả báo dị thục, gọi là dị thục nhân. Do nhân thiện ác mà cảm quả dị thục vô ký. Như do nhân thiện mà cảm

* Trang 301 *
device

quả báo vui, do nhân ác nghiệp mà cảm quả báo khổ. Nhưng vui là vui, khổ là khổ, không thể bảo tự thân sự vui khổ là thiện hay ác, mặc dù quả báo vui khổ là do nghiệp nhân thiện ác gây ra. Đây là tâm của lý nhân quả.
[Không có cắt nghĩa như thế này thì khó hiểu lắm. Nhân thiện ác mà quả vô ký. Vậy thì có trái với luật nhân quả không? Nói về dị thục nhân quả dị thục quả, nhân thiện ác mà quả vô ký. Cái nghĩa đó trong Duy thức cũng có nói trong đó, nếu không hiểu cho rõ cho là quả vô ký, thì trái với luật nhân quả, thành nhân thiện mà ra kết quả bá vui, nhân ác kết ra quả báo khổ? Nhân chính tự thân cái vui cái khổ đó không gọi là thiện hay ác được. Anh đó anh khổ anh đói như vậy, cái đói đó là ác có phải không? Có gọi cái đó là ác không? Có ái gọi cái đó là ác không? Có ai gọi vui là thiện không? Vẫn biết cái đói cái nghèo đó là do ác nhân đưa đến, nhưng chính cái thân cái nghèo cái đói không phải thiện ác gì cả, nó vô ký.]
Tóm lại, nguyên nhân của vạn pháp tuy rộng lớn vô cùng, nhưng tóm lại không ngoài hai loại nhân quả đồng thời và nhân quả dị thời. Nguyên nhân đồng thời là xét về mặt không gian, các sự vật cùng nương nhau, giúp nhau phát khởi, như A-B nương nhau sinh tồn. Nguyên nhân dị thời là nhìn về mặt thời gian trước sau tiếp tục giúp nhau khởi, như hạt lúa trước sinh cây sanh lúa sau.
Trong sáu nhân này, hai nhân câu hữu tương ưng thuộc về  nguyên nhân đồng thời, dù câu hữu nhân thông cả vũ trụ vạn hữu và tương ưng nhân chỉ giới hạn ở tâm và tâm sở. Ba nhân đồng loại, biền hành, dị thục đều thuộc về nguyên nhân dị thời, dù đồng loại nhân thông cả 

* Trang 302 *
device

vũ trụ vạn hữu, biến hành nhân chỉ giới hạn ở lãnh vực của tâm, dị thục nhân thì nhắm vào tính nhân quả bất đồng mà nói. Chỉ riêng năng tác nhân là nguyên nhân bao trùm tất cả, không luận đồng thời, dị thời, nội tâm, ngoại vật, hữu vi vô vi  đều có thể trở thành năng tác nhân cho nhau được cả.
B. Bốn duyên
[Phần nhiều  gặp rất nhiều trong kinh sách nhất là ở trong pháp tướng tông chỗ nào cũng nói 4 duyên hết.]
Duyên nghĩa là quan hệ. Sự vật hình thành và tồn tại giữa những mối quan hệ chằng chịt phức tạp. Có bốn duyên:
1. Nhân duyên: Thông thường giải thích nhân là yếu tố chính, duyên là yếu tố phụ đối với hậu quả. Nhưng ở đây nhân duyên là cái duyên của nhân. [Chính cái nhân đó là duyên. Cho nên 12 nhân duyên mà cựu dịch là thập nhị nhân duyên, tân dịch là thập nhị duyên khởi. Họ dùng chữ nhân chứ không dùng chữ duyên nữa.]
Lấy nhân làm duyên gọi là nhân duyên. Đó là yếu tố quan hệ mật thiết trực tiếp với hậu quả. Nên trong sáu nhân nói trên trừ năng tác nhân, còn lại đều thuộc vào nhân duyên này.
2. Đẳng vô gián duyên: Là sự diễn ra trong trật tự liên tục tự nội, từ hiện tượng trước đến hiện tượng sau. Nếu hiện tượng trước đứng im không mở lối, thì hiện tượng sau không tiến bước được. Như chân trước không để xuống thì chân sau không dở lên được, và như vậy không thành đi, đến, nên cũng                    

* Trang 303 *
device

còn gọi là khai đạo (mở lối) duyên. Duyên này chủ yếu chỉ thuộc nội tâm. Nó là cái duyên tiếp nối bình đẳng trước sau không gián đoạn của tâm.
3. Sở duyên duyên: Là duyên của sở duyên, của đối tượng. Đây là cái duyên của sự đối đãi chủ khách, trong ngoài. Có khách mới thành chủ, có đối tượng tâm mới sinh. Duyên này chủ yếu cũng thuộc nội tâm.
4. Tăng thượng duyên: Là cái duyên giúp thêm từ bên ngoài có hai thứ:
a. Thuận tăng thượng duyên: Duyên giúp thêm sự thuận lợi để phát triển, như mưa gió thuận thời đối với hoa màu.
b. Nghịch tăng thượng duyên: Duyên giúp thêm một cách trái ngược làm cho lụn bại, như hạn hán đối với hoa màu.
Tăng thượng duyên này tương đương với năng tác nhân, phạm vi rất rộng.
Xem biểu đồ đối chiếu sáu nhân bốn duyên sau:

Hỏi: Giữa sáu nhân và bốn duyên có gì sai khác ?
Đáp: Nên biết nhân duyên là lý chủ yếu của đạo Phật, nhằm cắt nghĩa sự sinh khởi biến hoại của hiện tượng vạn                                                

* Trang 304 *
device

pháp một cách đúng đắn, chứ không như lối cắt nghĩa theo tà nhân và vô nhân. Song, phạm vi duyên sinh rất rộng, nên nó được diễn đạt rất nhiều cách, bốn duyên chủ yếu nói về sự hiện khởi của nhận thức, còn sáu nhân chủ yếu chỉ sự hoạt động của sinh mạng, ngoài sự chỉ chung cả muôn pháp. Đó là điểm sai khác của chúng.
[Đây là cái nhân thức, ví dụ nói sở duyên duyên là nói về đối tượng. Khi nói đối tượng là đối với cái gì? Đối với nhận thức của tâm gọi là đôi tượng. 4 duyên nói về đối tượng. Đẳng vô gián duyên là sự liên tục trong tự nội của tâm thức. (Cho nên nói về nhận thức) còn về 6 nhân nói về sự hoạt động của sinh mạng là bởi theo đây cho rằng mọi sự hiện hữu của chúng sinh là đều do ở nơi cái nghiệp phiền não mà sinh ra. Những cái phiền não đó làm cái nhân nên nó thuộc về sinh mạng.]
C. Năm quả
Nhân và duyên tạo ra quả. Quả có hai loại lớn là:
- Quả hữu vi, có sinh diệt biến dị, do nhân duyên sinh.
- Quả vô vi, thường trú không sanh diệt, do Thánh giả chứng đắc.
[Nhân cọng với duyên thành quả. Thường ta nói rằng nhân quả, nhiên ta phải hiểu ngầm rằng trong đó, cọng chung cả duyên nữa. Chứ nhân không trực tiếp đến quả thì không được đâu. Nếu như nhân mà trực tiếp đến quả thì nó nằm ì ạch ra đó, hễ anh đã tạo cái nhân rồi thì nhất định phải có cái quả đó chứ không thay đổi được. Giờ đây nó có cái duyên cọng vô giữa cho nên nó thay đổi ra được. Giả sử giờ nói anh đó là một chàng trai ngu si hết sức, không làm sao mà học nổi đâu. Như vậy là cái ngu si, anh đó

* Trang 305 *
device

có cái óc đần độn vậy quả của anh đó là gì, hỏi đâu mù tịt đó! Nhưng nói như vậy là nói cách vắn tắt, chứ còn anh u mê đó, óc đần độn đó nếu anh gặp thầy hay bạn giỏi, anh cố gắng anh học thì tự nhiên sự u mê đó nó cũng thay đổi đó chứ. Khi ta hỏi 10 điều anh không biết 10 thì cũng biết được 5 được 3 chứ dâu phải đần độn hết. cho nên nhơ cọng với duyên thành quả. Do đó thấy rõ cái lý nhân quả của đạo Phật là biến chuyển từng sát na, di dịch từng sát na chứ không phải nó nằm yên như thế.]
1. Quả hữu vi: Có bốn thứ:
a. Dị thục quả: tức thân quả báo của loài hữu tình hoặc khổ hoặc vui trong lục đạo. Quả dị thục do nhân dị thục trong sáu nhân và tăng thượng duyên trong bốn duyên tạo thành. Bản chất của nhân dị thục là thiện ác, bản chất của quả dị thục là khổ vui vô ký. Vì bản chất của nhân và quả khác nhau như thế nên gọi là quả dị thục. Nhân quả dị thục chính là trạng thái chúng sinh sinh tử luân hồi vậy.
b. Đẳng lưu quả: Tính chất của quả giống với nhân. Tâm trước lành sinh ra tâm sau lành, tâm trước ác sinh ra tâm sau ác. Đẳng lưu quả do đồng loại nhân, biến thành nhân và tăng thượng duyên tạo ra.
[Tôi ví dụ: Cái tâm ta buổi sáng học đàn, buổi chiều học quốc đất, buổi tối học viết chữ. Vậy là cái gì cũng có trong này hết. vậy là cái nhân học đánh đàn, nhân viết chữ, nhân quốc đất, nhân đánh lộn cũng nơi ta hết. Nhưng mà nhân thì có thiện có ác khác nhau, ví dụ nó ở nơi cái tay này, thì nó không thiện không ác gì hết, vô ký. Vậy là nhân dị thục, quả dị thục, nhưng mặt khác đồng thời thành ra quả đẳng lưu. Hễ anh có đánh                       

* Trang 306 *
device

đàn, khi cầm đàn thì anh đàn được. Có viết chữ thì giờ đây anh cầm viết thì anh viết được. Có cuốc đất thì bây giờ anh cầm quốc là anh cuốc đất được. Có đanh lộn thì gặp đánh lộn thì anh cũng đánh nhanh hơn ai hết. Vậy là đẳng lưu. Đẳng lưu là trước cái nhơn sao thì nó lưu ra cái quả giống như vậy, lưu chảy ra bằng nhau, cái nhơn chảy tới cái quả bằng nhau. Nhơn thiện quả thiện, nhơn ác quả ác.]
c. Sĩ dụng quả: Sĩ là sĩ phu, dụng là tác dụng của năng lực. Kết quả do năng lực tác dụng của sĩ phu gọi là sĩ dụng quả. Có hai thứ:
1. Nhân sĩ dụng: Chỉ năng lực con người hoặc loài có tri giác tạo ra với trí tuệ và tay chân qua các công nghiệp trong lao động. Chính kết quả công nghiệp này là sĩ dụng quả.
[Nhưng mà nhân sĩ dụng quả. Nghĩa là cái quả do cái năng lực của cái kẻ có tri thức, có tri giác có con người mà có tạo ra.]
2. Pháp sĩ dụng: Chỉ các pháp như sắc, tâm tuy không hoàn toàn là một con người hay loài có tri thức, nhưng có năng lực tác động tạo ra quả giống như con người. Ví như do sức người đập đá vỡ là nhân sĩ dụng, còn như do sức nóng mặt trời làm đá vỡ là pháp sĩ dụng.
d. Tăng thượng quả: Là kết quả của năng tác nhân và bốn duyên hợp thành. Như có học thì biết, nhưng còn tùy thuộc ông thầy dạy dỡ hay hay, đèn sách tốt hay xấu mà kết quả hiểu biết được nhiều hay ít, đúng hay sai. Đây là tăng thượng quả. 

* Trang 307 *
device

2. Quả vô vi: Là quả thứ năm trong năm quả tức ly hệ quả. Ly hệ là thoát ly sự ràng buộc của phiền não vô minh. Ly hệ quả tức là Niết-bàn, là trạch diệt vô vi, là kết quả mà chỉ các thánh giả chứng đắc khi đoạn tận sự ràng buộc của tham ái phiền não nhờ năng lực của trí tuệ tu đạo. Quả này thuộc vô vi, không do sáu nhân và bốn duyên tạo thành.
Các pháp hưu vi duyên sinh
Trong 75 pháp kể trên, trừ ba pháp vô vi thường trú bất biến, không phải là nguyên nhân năng sinh, cũng không phải là kết quả sở sinh, không phải thuộc phạm vi nhân quả, còn 72 pháp kia thuộc hữu vi đều theo luật duyên sinh. Như 11 sắc pháp do nhân duyên và tăng thượng duyên sinh, 47 tâm pháp do bốn duyên sinh , 14 pháp bất tương ưng hành thì do nhân duyên và tăng thượng duyên sinh.
11 sắc pháp do nhân duyên và tăng thượng duyên sinh như thế nào ? Nhân duyên đây cũng là ba nhân câu hữu, đồng loại và năng tác trong sáu nhân, và tăng thượng duyên đây cũng chính là năng tác nhân trong sáu nhân. Chẳng hạn, bốn đại chủng, đất, nước, lửa, gió đồng thời đắp đổi làm nhân qủa cho nhau mà sinh tồn, đó là hỗ vi quả câu hữu nhân, bốn đại phút trước và phút sau đồng loại nhau, đó là đồng loại nhân, không làm chướng ngại nhau, đó là vô lực năng tác nhân. Sự duyên sinh của tâm, tâm sở, bất tương hành chiếu theo đây để biết.

* Trang 308 *
device

 
Đại cương Luận Câu Xá