LOGO VNBET
III. PHẨM PHÂN BIỆT THẾ GIAN
 
[Đây là phẩm Phân biệt thế gian. Trước là nói chung chung và phẩm Phân biệt Giới Phân Biệt Căn. Nói chung là sao? Tỷ dụ như vừa rồi ta nói gọi 6 nhân 4 duyên 5 quả là nói chung chung cho cả thánh, cả phàm, cả mê, cả ngộ chứ chưa nói riêng ai hết. Từ đây trở đi ta tách ra, ai mê ta nói mê, ai ngộ thì ta nói ngộ. Mê thì nói ra sao mà ngộ thì nói như thế nào, tức là phân biệt thế gian là nói về kết quả của mê. Rồi tiếp đến phân biệt nghiệp là nói nhơn trực tiếp của mê, rồi qua phẩm Hiền thánh là nói kết quả của ngộ, rồi phẩm Tuệ là chơn trực tiếp của ngộ và kết quả của định là kết quả gián tiếp của ngộ.]
Phẩm này nói về kết quả của mê lầm (vô minh hữu lậu). Do nghiệp lực riêng và chung (biệt nghiệp, cộng nghiệp) của chúng sinh cảm ứng mà tạo ra.
a. Hữu tình thế gian, tức chính báo, chỉ cho thân phần của chúng sinh, nói theo nghĩa hẹp là nhân sinh.
b. Khí thế gian, tức y báo, là nơi nương tựa, sanh hoạt của hữu tình, đó chính là vũ trụ thế giới.
Để giải thích rõ hai loại thế gian trên, trong phẩm này sẽ lần lượt đề cập về các mục ba cõi, sáu nẽo luân hồi, bốn loại sinh, bốn hữu luân chuyển, thể chất và hạn lượng thế giới, bốn kiếp thành, trụ, hoại, không.

* Trang 309 *
device

Đoạn 1. ĐẠI CƯƠNG BA CÕI

[Nói sơ sơ đại cương ba cõi: Dục giới, sắc giới và vô sắc giới.]
  Vũ trụ thế giới tùy theo nghiệp lực, trình độ sai khác của chúng sinh mà chia ba tầng gọi là ba cõi. Trong đó mỗi cõi lại tùy theo lòng tham dục nặng nhẹ mà chia ra cõi Dục và sáu bậc trời thuộc cõi Dục; tùy theo sức thiền định cạn sâu mà chia ra nhiều bậc thiền thuộc cõi sắc và vô sắc, như đồ biểu sau đây: (xem trang kế)
[Bây giờ tôi nhận mạnh nơi chỗ Tứ thiên vương, Đao lợi thiên. Chữ này vì sao tôi nhấn mạnh ì bởi nhiều chỗ ta cắt nghĩa lầm. Tứ thiên vương, Đao lợi thiên có chỗ khác họ cắt nghĩa dồn chung lại gọi là Tam thập tam thiên. Có người cắt nghĩa Đao lợi thiên là Tam thập tam thiên, Tam thập tam thiên là Đao lợi thiên. Nói như vậy là có chỗ không sáng suốt lắm. Vì cớ sao mà 6 cỡi trời này còn gọi là dục giới, đã trời mà là dục. Vì 6 cõi trời này tuy nói trời nhưng anh cũng còn mang cái dục tính như cõi người nên gọi là dục cho nên 6 cõi này còn gọi là địa cư thiên là vì nó trên chóp núi Tu di, chứ không phải là không Cư thiên, không phải nơi tứ sắc, mà đây là địa cư thiên là còn nương trên chóp nùi Tu di mà ở trên đó. Vả lại ông này còn có cái dục, in như cõi dục. Vì sao gọi dục giới? Vì cõi này có cái vật dục và có cái  nhục dục. Chúng sinh ở đó có 2 cái nhục dục đó, cho nên dùng chữ dục mà đặt tên cho anh ta. Mà 6 cõi trời này tuy là trời vì có thiện nghiệp nhiều, tuy có dục nhưng dục nhẹ thôi. Nhẹ như thế nào? Thay vì như cõi người có vẻ thô tục, anh đây hơi nhẹ hơn một chút, tỷ dụ như cõi Tứ thiên vương tức nhiên 4 ông trời ở 4 góc trên núi Tu di và Đao lợi thiên là ông trời ở trên chóp đỉnh. Bốn núi 4 góc có 8 ông trời. 

* Trang 310 *
device



* Trang 311 *
device

8x4=32 cọng thêm với Nhân đà la (indara, thích đề hoàn nhơn, Đế thiên đế thích cũng có nghĩa là Thiên chủ nữa), thì ra 4 phía mỗi phía có 8 trời cọng thêm với ông này gọi là 33. Ông này ở cõi trời Đao lợi, cho nên gọi là Đao lợi thiên. Vì sao tôi phải nhấn mạnh, vì có nhiều chỗ lầm. Thứ hai nữa là chính ở Việt Nam ta đã có tục thờ Đế thích này rất lâu. Nhưng trong Đại việt sử ký toàn thư chép rằng: năm 1057 vua nhà Lý làm hai chùa Thiên Phúc, Thiên Thọ thờ Phạm vương và Đế thích. Nhiều khi thờ Đế thích riêng, nhiều khi thờ hai bên hầu tượng sơ sinh. Nghĩa là nói từ khi Phật chưa thành đạo có hai ông này luôn luôn ủng hộ hầu hạ ngài. Cho nên trong kinh nói ông trời Đế thích này còn đương ở núi cõi dục và cũng tôn cho ông có một vai trò quan trọng tương đương với ông Phạm vương ở trên cõi sắc. Nên đặt chung là phạm vương Đế thích mà trong kinh mình hay gặp. Sở dĩ tôi nhấn mạnh là vì vậy. Có nhiều người lầm cái chỗ này, cắt nghĩa tam thập tam thiên không đúng, cắt nghĩa chữ Đao lợi thiên không đúng, chữ Nhân đà la này không đúng. Trong kinh có chữ Nhân đà là võng tức nhiên cũng do từ đây mà ra, cái lưới của trời, cắt nghĩa trùng trùng.
Phật có dạy, bài kinh Nhất Dạ Hiền trong Nikàya rằng: Không có truy tìm quá khứ, không ước vọng tương lai chỉ có pháp hiện tại, anh trú tại nơi đây an lành phải không? Phải, Phật có dạy vậy. Vì vậy cho nên cái ngồi học giờ nào thì chú tâm học chứ đừng tưởng cái đề thi nghe chưa. Đó là thả mồi bắt bóng.
Tôi nói thêm một chút về 3 cõi. Từ địa ngục mà trở lên Phi tưởng phi phi tưởng. Hôm trước có nói về cõi Lục dục thiên. Trong Lục dục thiên tôi nhấn mạnh tới Đao lợi thiên. Trong Đao lợi thiên có ông trời Đế thích ở. Theo trong này thì mặt trời chạy theo núi Tu di. Như vậy trong núi Tu di thật ra cũng không biết  

* Trang 312 *
device

chỉ vào chỗ nào? Trung Hoa dịch là Diệu cao sơn tức là núi Tu di. Diệu cao, chữ cao là cao quá mức tưởng tượng. Diệu là nhiệm mầu, cáo quá cái mức tưởng tượng. Vì vậy giờ chỉ định thì chỉ định không được. Trong sách kinh mô tả thì Tu di sơn cao lắm, tứ bề là biển. Xung quanh là 4 châu thiên hạ, 4 bên là 4 châu. Chúng ta ở đây là Nam thiện thần châu, Đông thắng thần châu, Tây ngưu hóa châu và Bắc cu lô châu. Bốn châu thiên hạ ở trong 4 biển này mà núi Tu di thì ở giữa biển, 4 châu thiên hạ cũng ở giữa biển. Rồi ngoài vòng biển này có vòng núi trùng trùng, phía núi ngoài là thiết vi sơn. Trong Phật giáo thường có các bài kệ chuông như sau: nguyện thử chung linh siêu pháp giới Thiết vi u ám tất giai văn, văn trần thanh tịnh chứng viên thông, nhất thiết chũng sinh thành Chánh giác.
Tức là ngoài núi Thiết vi u ám cũng nghe được tiếng chuông đó. Như vậy là Tu di sơn ở trong Đại hải, xung quanh núi Tu di là mặt trời chạy xung quanh và dưới đó có 4 châu thiên hạ. Nam thiện bộ châu là cả tinh thần và vật chất đồng đều. Tây ngưu hóa châu thì trọng vật chất hơn trọng tinh thần. Đông thắng thần châu thì trọng tinh thần hơn vật chất. Băc cu lô châu đó là một thế giới Cực lạc ở nhân gian. Sống một cách bình đẳng cứ ăn mặc không cần làm. Trong kinh diễn tả chúng sinh ở nơi đó sống một cách rất bình đẳng. Tỷ dụ khi xuống tắm, nếu ai lên trước gặp áo thì cứ mẵ không kể đó là áo của ai hết. Mặc đều vừa vặn hết. Nam nữ gặp nhau thì không cần lễ cưới lễ hỏi. Nghĩa là cứ ngó nhau vừa ý thì cứ đi đến cái cây đó, gốc cây đó tự nhiên nó phủ xuống thành cái nhà, thành cái phòng (Bắc cu lô châu) mà khi đẻ con ra cũng không cần nuôi, cứ để giữa đường thiên hạ đi ngang đưa ngón tay cho nó nút một chặp ít bữa nó lớn vù lên thành người lớn. Đại khái ở Bắc cu lô châu cuộc sống là vậy đó. Trong kinh diễn tả như vậy, và mình cũng không biết xứ Bắc cu lô châu nó nằm ở đâu. Nói                 

* Trang 313 *
device

chung 4 châu thiên hạ có 4 cái đặc tánh:Nam thiện bộ châu là tinh thần vật chất đồng đều. Đông thắng thần châu là trú trọng tinh thần, Thắng thần (tinh thần thắng hơn). Tây ngưu hóa châu chú trọng vật chất (dùng trâu làm vật buôn bán) còn Băc cu lô châu có một đời sống vật chất rất cao. Nói nghe thì đáng thích lắm nhưng trong kinh Phật nói đó cũng là một cái nạn. Do đó trong Phật giáo có bài tán ngài Hộ pháp như sau: Tam châu cảm ứng hộ pháp phi đà chứ không có 4 châu cảm ứng. Bắc cu lô châu không có Phật pháp. Bởi họ sống với đời sống vật chất cao quá nên nghe Phật pháp không vô. Thành ra nó sướng một mặt nào đó về vật chất thôi và đó cũng là một cái nạn vì Phật pháp không có.
Đời sống của chư thiên sống lâu là do cái phước nghiệp của họ mà thọ mạng hơn nhân gian rất nhiều. Các cõi trời khác mình chưa nói tới chỉ nói sơ sơ cõi trời Tứ thiên vương thôi. Cõi trời Tứ thiên vương thì một năm cõi trời Tứ thiên vương bằng nhơn gian của mình là 18 ngàn năm. Cứ lên một cõi trời là gấp đôi tuổi thọ lên. Mà thọ mạng trên Đao lợi một năm bằng nhơn gian 36 ngàn năm. Lấy đó mà suy ra, đời sống không phải hoàn toàn nó như thế. Thứ nhất là do cái nghiệp lực, thứ hai là do môi trường sống của cái nghiệp lực đó. Môi trường sống làm cho sinh mạng của con người nó cũng khác đi và nghiệp lực của chúng sanh đó cũng làm cho thọ mạng của con người đó nó khác đi. Cho nên nếu mình ở một môi trường sống xấu chừng nào thì lại mau chết chừng ấy. Mà môi trường sống tốt chừng nào thì càng lâu chết chừng ấy, lẽ tất nhiên khi nói môi trường sống, không phải chỉ có cái vật chất ở ngoài, mà chính cái sân si cũng làm nhiễm ô môi trường sống nữa. Cứ chưởi lộn luôn thì người khác nghe cái tiềng chưởi lộn cũng sẽ bị chết yểu. Cái sân si ngoài cũng làm ô nhiễm môi trường chứ không phải ba cái rác

* Trang 314 *
device

rưởi ngoài xã hội làm ô nhiễm môi trường đâu. Cho nên cái nghiệp nó nhẹ chừng nào thì đời sống nó dài chừng nấy. Cái nghiệp nặng chừng nào thì đời sống lại ngắn chừng đó. Cứ đi lần lên cõi trời Tứ thiên cuối cõi sắc. Trong đó gồm Vô vân thiên, Phước sinh, Quảng quả, Vô phiền, Vô nhiệt, Thiện kiến, Thiện hiện, Sắc cứu cánh thiên và Ma hê Thủ đà thiên.
Bây giờ đây nói Vân thiên, Phước sinh, Quảng quả thiên. Đây là 3 cõi trời của ngoại đạo. Họ tu theo cái pháp vô tưởng của ngoại đạo mà đạt lên 3 cõi trời đó. Còn 5 cõi trời kia là Vô phiền, Vô nhiệt, Thiện kiến, Sắc cứu kính đây là cõi trời của vị chứng quả Bát hoàn ở đó. Cho nên 5 cõi trời này cũng là ngũ Tịnh cư thiên (5 chỗ ở thanh tịnh, hay cũng gọi là ngũ bất hoàn thiên) là cõi trời của vị chứng quả Bất hoàn ở. Như ta đã biết, Dự lưu là thất lai (7 lần trở xuống nhân gian) Nhất lai còn một lần trở xuống nhân gian, Bất hoàn không trở xuống nhân gian nữa thì ở đâu? Ở đó chờ chứng được A-la-hán, không trở xuống, không trở lui nữa, gọi là Bất hoàn hay Ngũ Bất hoàn thiên, hay Tịnh cư thiên là cõi trời thuộc về xuất thế gian ở. Còn bên kia Vô vân Phước sinh, Quảng quả là cõi trời của ngoại đạo ở.
Trên là nói chung 3 cõi.
Bây giờ nói Hữu tình thế gian.]

Đoạn 2: Hữu tình thế gian
[Trong hữu tình thế gian có hai mục chính là mục hữu tình thế gian và mục khí thế gian. Hữu tình thế gian là nói về chánh báo, khí thế gian là nói y báo.

* Trang 315 *
device

Hữu tình thế gian là nói về 4 hữu luân chuyển: Tử hữu.]
 
* Tiết I: Bốn hữu luân chuyển
Thế gian, thế là đời, trải quá khứ, hiện tại, vị lai, lưu chuyển biến hoại. Gian là trong, những gì lọt vào trong vòng luân chuyển, biến hoại thì gọi là thế gian. Loài hữu tình là căn thân chính báo của chúng sinh và vũ trụ thế giới là y báo, chỗ nương dựa của chúng sinh, tức là khí, khí cụ, đều ở trong vòng lưu chuyển biến hoại, nên gọi là hữu tình và khí thế gian.
Đây trước nói về hữu tình thế gian, như đã biết hữu tình trong ba cõi, bốn loài, sáu đường khác nhau nhưng đều ở trong vòng luân hồi, sinh tử, sinh rồi chết, chết rồi sinh qua bốn giai đoạn hữu, là tử hữu, trung hữu, sinh hữu, bản hữu, rồi lại tử hữu, trung hữu v.v...
Xét đến bốn giai đoạn hữu nơi nhân loại như sau sẽ rõ:
Tử hữu: Là giai đoạn con người do phiền não nghiệp đời trước chiêu cảm lấy quả báo thân đời nay, sống cho đến sát na cuối cùng, xả bỏ báo thân.
[Chính cái sát na cuối cùng xả bỏ báo thân cái hiện hữu trong luc đó, cái ngũ ấm hiện hữu trong cái sát na cuối cùng xả bỏ báo thân đó là tử hữu. Hiện hữu trong khi chết. Tiếp tử hữu đến trung hữu. Có một thời gian chính giữa, giữa sát na chết này và sát na săp sanh về sau. Cái khoảng thời gian chính giữa đó, cái hiện hữu ngũ uẩn khoảng thời gian đó gọi là Trung hữu. Sau trung hữu đó chúng sanh gặp cơ duyên đầy đủ, có duyên mà hiện sinh, thọ

* Trang 316 *
device

thai, thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh đủ cỡ. Tuy nhiên là sanh trong 4 loài đó. Bấy giờ từ cái thân trung hữu mà đến cái sát na đầu tiên trong khi thọ sanh là sanh hữu.
Rồi từ sat na khi đầu tiên thọ sanh gọi là sanh hữu đó trong khoảng thời gian 1 giờ 1 phút, 1 năm trăm năm cho đến cái sát na khi tắt thở (tử hữu) giữa khoảng đó gọi là bản hữu. Như vậy cái vòng luân hồi của con người nó đi qua 4 cái hữu đó. Tử hữu, trung hữu, sanh hữu rồi đến bản hữu. Bản hữu nếu anh tu được chứng quả Dự lưu hay chứng quả bất lai thì anh vẫn còn ở lại nơi cái sanh hữu vài lần nữa. Nhưng chỉ còn sanh 7 lần mà thôi. Còn nếu anh chứng được nhất lai chỉ còn 1 lần nữa. Nếu chứng Bất hoàn thì không trở lại nhân gian này nữa. Nếu không thì anh cứ trong vòng tử hữu, trung hữu, sanh hữu, bản hữu, anh cứ làm luôn như vậy, không có đường nào ma ra hết, gọi là luân hồi vô tận. Bốn giai đoạn hữu của 1 chúng sinh tương tục tiếp nối vô cùng vô tận trừ khi dứt hết nghiệp mới chấm dứt được nó. Còn nếu không dứt hết nghiệp thì cứ trong 4 giai đoạn hữu đó mà liên tục mãi mãi.
Giờ đây toi xin nói Trung hữu. Chữ trung hữu này là 1 chữ mà các ngài dựa vào kinh A hàm hay là kinh Nikàya theo lời đức Phật dậy mà lập ra. Nhưng có hai loại dựa. Có một lối dựa cho rằng: Đức phật chỉ nói rằng có tam thọ nghiệp chứ không nói tới thuận trung hữu thọ nghiệp. Trong kinh họ có nói Thuận thọ hiện nghiệp, Thuận sanh thọ nghiệp, Thuận hậu thọ nghiệp. Đức Phật chỉ nói 3 cái thọ đó mà thôi. Đức Phật nói thuận hiện thọ nghiệp là cái nghiệp thuận theo thọ báo trong đời này mà có. Rồi có cái nghiệp đời này chưa thọ báo          

* Trang 317 *
device

nhưng lại đến đời kế tiếp lại thuận sanh thọ nghiệp. Đó là cái nghiệp thuận với đời kế tiếp mới thọ nghiệp gọi là thuận sanh thọ nghiệp. Rồi cái nghiệp đòi kế tiếp chưa thọ, nhưng đến đời thứ ba trở đi mơi thọ tức gọi là thuận hậu thọ nghiệp. Phật chỉ nói có 3 cái thuận hiện thọ nghiệp, thuận sanh và thuận hậu thọ nghiệp chứ không nói thuận trung hữu thọ nghiệp. Cho nên không có cái trung hữu và dẫn kinh làm chứng. Hai nữa là đức Phật chỉ nói hàng Dự lưu phải 7 lần sanh tử nghĩa là còn 7 lần sanh xuống cõi dục này để đoạn cho hết tư hoặc. Muốn đoạn tư hoặc thì phải có 7 lần sanh xuống cõi nhơn gian này, cho nên gọi là nhất phiên sanh tử. (7 lần sanh trở lại nữa) mới chứng được A-la-hán quả. Phật chỉ nói quả Dự lưu có 7 phen sanh tử chứ ngài không có nói 7 phen trung hữu. Nếu quả có trung hữu thì Ngài đã nói có 7 phen sanh và 7 phen trung hữu, sao ngài không nói? Cho nên không có trung hữu. Nhưng còn Hữu bộ ông cũng dẫn kinh ông nói cách khác. Ông nói ồ: Các hiền hữu mà nói như vậy thì kinh Phật  nói khác đi. Có mấy câu này nữa: các người khi nhập thai là cần có đủ 3 việc hiện tiền: 3 việc đó là gì? 1. Bà mẹ trong thời gian thích hợp thụ thai. 2. Ông cha bà mẹ có sự yêu thương lẫn nhau. 3. có cái cần đạt Phược hiện tiền ( tức bà mẹ trong thời kỳ có thể thụ thai). Kinh đức Phật nói rõ ràng như vậy. một sự thụ thai phải là có bà mẹ lúc thích hợp thụ thai, còn lúc không thích hợp thụ thai thì không có được. 2. là sự hòa hợp giao hợp giữa cha mẹ (nam nữ) và thứ 3 nữa là có cái cần đạt được phược hiện tiền trong khi thụ thai đó. Nếu không có trung hữu thì cái cần đạt phược là cái gì? Chính cần đạt phược là trung hữu đó. (Kinh Nikaya gọi là Kiết sanh thức,  

* Trang 318 *
device

hương ấm). Họ dẫn câu kinh này để lập luận. Như thế, chính cần đạt phược này là Trung hữu. Họ dẫn thêm 1 kinh thứ hai nữa gọi là kinh thất thiện sĩ phú. Phật có nói gọi là ngũ bất hoàn. Có 5 hạng bất hoàn quả là gì? Trung bát bất hoàn, sanh bát bất hoàn, vô hành ban bất hoàn, thượng lưu ban, hữu hành ban.
Sao gọi là Trung ban? Từ cõi dục này tu hành vừa nhắm mắt tắt thở chưa kịp sanh lên cõi trên, giữa chừng chứng được Niết-bàn gọi là trung ban. Chứng Niết-bàn ngay giữa khoảng đó, giữa khi vừa ly khỏi cõi dục, chưa chứng được Niết-bàn cõi trên, ngay giữa khi đó chứng được Niết-bàn gọi là trung ban. Họ dẫn kinh như vậy. trung ban này để nói lên rằng cái trung hữu, chứ không có trung hữu thì ai chứng Niết-bàn khi mới vừa chết mà chưa sanh đó. Cái gì chứng ở chặng giữa đó gọi là trung ban bất hoàn. Trong kinh Thất thiện sĩ thú, họ mới đem cái trung ban bất hoàn này chia làm 3: 1. Chưa siêu thoát khỏi dục giới đã được bát Niết-bàn; 2. Vừa bước chân lên cõi trên trung gian mà được Niết-bàn; 3. Sau khi rời khỏi cõi dục đến cõi vô sắc chưa kịp thọ sanh thì đã chứng được Niết-bàn. Trung gian họ chia 3 như vậy. Theo trong kinh Thất thiện sĩ thú này thì trung ban chia làm 3 cọng với 4 cái kia là hữu hành ban, vô hành ban, thượng lưu ban, sanh ban, thành ra 7 gọi là thất thiện sĩ thú kinh. Ông Hữu bộ này dẫn các kinh trong đó làm chứng rõ ràng là có trung hữu chứ không phải nói như các anh, mà nói vậy đâu. Đây là ông cãi giúp cho mình, chứ không thôi mình cũng cãi. Cũng kinh cả, sao kinh kia nói chứng tỏ ra rằng thuận hiện thọ nghiệp, thuận sanh thọ nghiệp, thuận hậu thọ nghiệp, tìm vào trong đó có cái gì thuận trung thọ nghiệp đâu mà nói trung hữu, thì cũng là kinh nói. Nhưng trong mặt này thì thấy rằng có trung ban Niết-bàn, sao lại không có được hay còn nói có càn đạt phược. Nếu không có trung hữu thì càn                                                 

* Trang 319 *
device

đạt phược nó là cái gì? Thì cũng là kinh nói. Do đó các bộ phái có nghĩa rất hay. Nếu học Nikaya  hay học A hàm không có mấy bộ này thì mình cũng học qua loa cho biết vậy thôi, nó chưa thấm béo gì hết. Nó không đi sâu, không chi tiết rõ ràng gì hết.]
Trung hữu: Là giai đoạn sau khi xả bỏ báo thân cho đến khi đủ duyên đầu thai, sự hiện hữu của hữu tình giữa khoảng thời gian đó, gọi là trung hữu. Song đối với vấn đề trung hữu này, Đại chúng bộ và Hóa địa bộ không thừa nhận có. Vì họ dựa theo kinh chỉ nói đến "thuận tam thọ nghiệp", chứ không nói đến trung hữu nghiệp và kinh cũng chỉ nói đến hữu tình hàng Dự lưu chỉ phải trải bảy phen sinh (bảy hữu) là chứng A-la-hán chứ không nói đến trung hữu. Trái lại Tát-bà-đa-bộ thì dẫn kinh và lý để chứng minh có thân trung hữu. Kinh nói: Có năm quả vị Bất hoàn (trong đó có Trung ban Bất hoàn) và kinh cũng nói: "Khi nhập thai có ba sự hiện hữu là tinh cha, huyết mẹ và Càn-thạc-phước, Tát-bà-đa còn chủ trương thân trung ấm của loài người cỡ như con nít năm sáu tuổi, đủ cả sáu căn nhưng vì đó là thứ tịnh sắc cực vi tế, mắt thịt không thấy được, chỉ có thiên nhãn cực tịnh và những hữu tình cùng ở giai đoạn trung hữu mới trông thấy được. Và thời gian tồn tại của thân trung hữu cũng có bốn nhà chủ trương khác nhau: Tỳ-bà-sư cho rằng nó chỉ có trong khoảnh khắc, chết liền đầu thai. Luận sư Thế Hữu cho rằng nó tồn tại lâu nhất bảy ngày. Luận sư Thiết-mạt-đạt-đa cho rằng nó có thể tồn tại trong bảy bảy bốn mươi chín ngày. Còn Luận sư Pháp Cứu thì cho rằng không nhất định vì tùy theo nhân duyên thụ sinh bất thường. Do nghiệp lực           

* Trang 320 *
device

rất mạnh thúc đẩy trung hữu đáng thọ sanh vào loài người thì hội đủ duyên liền sinh vào loài người, trung hữu đáng thụ sinh vào loài súc  thì hội đủ duyên liền sinh vào loài súc.
Sinh hữu là giai đoạn từ trung hữu chết, do vọng tưởng khởi lên tâm ái dục hoặc sân nhuế đối với cha mẹ, liền đầu thai, hay gọi là kiết sinh. Chính ngay ở giây phút kiết sinh này gọi là sinh hữu.
Bản hữu: Chỉ thời gian từ sinh hữu cho đến tử hữu, chấm dứt một đời. Về thân bản hữu này có chia hai giai đoạn là giai đoạn ở trong thai và giai đoạn ra ngoài thai. Giai đoạn trong thai gồm năm trạng thái:
1. Kiết-lạc-lam (kalala) như chút váng sữa trong bảy ngày đầu thụ thai.
[Kể ra, xưa các ngài ngồi mà suy đoán chuyện này thì kể ra cũng giỏi thật. Trúng trật thì chưa biết, nhưng mà rất giỏi. Hồi đó chưa có kính hiển vi, chưa mổ bụng ra xem mà dám nói chuyện này thì quả rất giỏi.]
2. Át-bộ-đàm (Abbuda) như cục máu trong bảy ngày thứ hai.
3. Bế-thi (Pesi) thịt mềm trong bảy ngày thứ ba.
4. Kiện-nam (Ghana) thịt cứng trong bảy ngày thứ tư.
5. Bát-la-xa-khư (Paxakha) chi tiết bắt đầu tượng thành hình vóc, trong bảy ngày thứ sáu trở đi cho đến khi hạ sinh.
Giai đoạn ra ngoài thai cũng có năm hình thức:

* Trang 321 *
device

1. Anh hài: từ khi sinh đến 6 tuổi.
2. Đồng tử: từ 7 đến 15 tuổi.
3 .Thiếu niên: từ 16 đến 30 tuổi.
4. Thành niên: từ 31 đến 40 tuổi.
5. Lão niên: từ 41 đến chết.
Hỏi: Cứ liên tục với bốn giai đoạn hữu trải qua ba đời như vậy nên chúng sinh luân hồi. Vậy tất phải có một chủ thể thống nhất thường hằng mới có thể chuyển từ hữu này đến hữu khác và có thể tu hành tích lũy công đức đến thành Phật. Nếu không có một chủ thể thống nhất thường hằng đó thì làm sao chuyển từ hữu này đến hữu khác và làm sao thành Phật được? Như vậy tu tập cũng vô ích sao?
Đáp: Giải đáp câu hỏi này, Đại chúng bộ gọi chủ thể luân hồi đó là căn bản thức, mạt phái Hóa địa bộ gọi Cùng sinh tử uẩn, Kinh lượng bộ gọi là Nhất vị uẩn, Tế ý thức, Căn biên uẩn, Thượng tọa bộ gọi là Hữu phần thức. Độc tử bộ gọi là Phi tức uẩn phi ly uẩn ngã, Duy thức tông thì gọi là A-lại-da-thức. Còn ngoại đạo thì cho có một thật ngã biệt lập với thân tâm. Nhưng chủ trương của Hữu bộ mà luận Câu-xá trình bày thì khác. Theo Hữu bộ, chính thân tâm năm uẩn này do mê hoặc mà tạo nghiệp, do tạo nghiệp mà thọ quả, rồi do từ quả khởi lên mê hoặc, do mê hoặc mà tạo nghiệp, rồi do tạo nghiệp mà thọ quả... liên tục như vậy thành luân hồi. Giống như người cầm ngọn đèn đi từ chỗ này đến chỗ khác, ngọn đèn tuy cứ từng sát na diệt, nhưng vẫn có thể tiếp tục đến chỗ khác. Và không phải 

* Trang 322 *
device

thân tâm năm uẩn đời này chuyển thẳng đến đời khác mà là thân tâm năm uẩn từng sát na biến diệt,  liên tục từ trạng thái này đến trạng thái khác qua đời này và đời sau. Giống như do hạt nẩy mầm, do mầm nẩy cành lá. Hạt, mầm, cành, lá v.v... không phải một nhưng không phải khác. Như tụng văn nói: "Không có ngã, chỉ có các uẩn, do phiền não nghiệp tác động từ thân trung hữu tiếp nối vào thai giống như ngọn đèn".
[Các loại hữu như vậy gọi chung tất cả là chúng sinh. Đã là chúng sinh thì không ai thoát ra khởi 4 cái hữu đó. Trừ khi anh không còn chúng sinh nữa thì tôi không nói tới. Anh còn là chúng sinh thì tôi biết anh còn 4 cái hữu đó, thì không là sao mà chạy cho khỏi hết. như vậy nói chung là chúng sinh. Nhưng chúng sinh hay hữu tình là nói chung, nhưng trong đó không phảo ai cũng như ai hết. Có thiện, có ác, có tà, có chánh. Cho nên theo Câu-Xá này chia căn cơ các loại chúng sinh ra làm 3 nhóm gọi là tam định tụ. 1. Chánh tánh định tụ, 2. Tà tánh định tụ, 3. Bất định tụ. Loại nào ngồi chung một  nhóm với loại đó gọi là tụ. Loại có bằng tiến sĩ ngồi chung với tiến sĩ, loại có bằng trung học ngồi chung một chỗ với nhau gọi là tụ. Sao tà chánh tánh? Tức là hạng có căn cơ, có chứng đạt, đoạn trừ được tham sân si. Trên bước đường đoạn trừ thâm sân si đó anh đã có một cái tính cách nhất định ở trong cái chánh tánh đó. Khi anh đã có được như thế rồi thì nhất định anh sẽ đạt được Niết-bàn giải thoát. Chánh này cũng gọi là chánh tánh tức là tính cách của Thánh nhân. Tính cách thánh nhân là vì đoạn trừ được tham sân si, chớ ông thánh mà ông sân như sét đánh làm sao kêu thánh được, nên chánh có nghĩa thánh. Hễ chưa cúng kịp cho ông thì ông bắt vạn cổ liền thì sao kêu thánh được. Cho nên kêu thánh là tham sân si không có, thành chánh có nghĩa là Thánh, có tính                                      

* Trang 323 *
device

cách thánh là đoạn trừ tham sân si. Anh đã cố định, anh đứng 1 mình trong cái tánh đó, thì anh sẽ được Niết-bàn, cho nên kêu chánh tánh địn tụ. Tà tánh định tụ là gì? Anh này có 3 cái: 1. Ác ác thánh, 2. Nghiệp tà tánh, 3. Kiến tà tánh. Ác ác tánh tức ác thú. Nghiệp tà tánh tức là ngũ vô gián nghiệp. Kiến tà tánh là ngũ tà kiến. Vậy anh nào ở trong bụng chứa ba cai này tức anh thuộc vào cái nhóm này. Ngồi vào nhóm này cũng có 3 tánh này thì sẽ đi đến ác xứ, cho nên gọi là định tụ. Bất định tụ là ông này bất định. Hễ ông gặp duyên tốt, gặp thánh nhơn thì ông thành chánh định tụ. Ông gặp bạn ác thì đi vào tà định tụ. Ông này đi hàng lai loại ba phải. Đó là cách chia của Câu-Xá quy định tính cách của các loại hữu tình ra làm 3 nhóm.
Giờ đem một vài lối chia khác để so sánh và để biết rộng ra một chút nữa. Trường hợp như pháp là Pháp tướng tông chia các loại căn cơ của chúng sinh ra làm 5 tính. 1. Định tánh Thanh văn. 2. Định tánh Duyên giác. 3. Định tánh Bồ-tát. 4. Bất định tánh. 5. Vô tánh. Đó là theo Câu-Xá chia chúng sinh ra làm 5 hạng. Hạng định tánh Thanh văn đã có huân tập được chủng tử vô lậu, có thể chứng quả vị thanh văn mà thôi gọi là định tánh. Hạng thứ hai có vô lậu chủng tử chứng quả vị Độc giác, đó là định tánh Duyên giác. Hạng thứ 3 có vô lậu chủng tử có thể chứng được Phật quả vô lượng giác. Đó là chủng tánh Bồ-tát. Trong này họ dùng chữ định tánh là tánh nó định ra vậy rồi. Hạng thứ tư là bất định tánh: đối với 3 tánh này không nhất định. Có thể trở thành định tánh thanh văn- Duyên giác, Bồ-tát tùy theo cái duyên mà có khác nhau, chưa nhất định, chưa ngã ngũ. Hễ gặp duyên Thanh văn ra Thanh văn, Bồ-tát thì ra Bồ-tát... hoặc một người có định tánh vừa là Duyên giác vừa là bồ tát, thì gọi là bất định tánh. Còn cái thứ năm này là hạng phàm phu chỉ có cái hữu lậu chủng tử để làm phàm phu chứ  chưa có chủng tử vô lậu. Hạng này là hạng vô tánh, là không có tánh

* Trang 324 *
device

cách để thành Thanh văn, Duyên giác, Phật, nên kêu vô tánh, bởi vò ở nơi đây chỉ hoàn toàn huân tập được cái chủng tử hữu lậu chứ chưa vô lậu chủng tử vô lậu của Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát nên gọi là vô tánh.
Vậy thì đối với Pháp tướng tông trong đây có hạng chúng sinh có thể thành Phật được, chứ có hạng chúng sinh thì không thành phật được. Cũng như trong Lăng già, cái vô tánh này đổi ra nhất xiển đề tánh là tánh không thể thành Phật được. Ngày xưa nói xiển đề vô Phật tánh. Thế nhưng là trái với kinh Niết-bàn, nên ngài Đạo sanh trước khi kinh Niết-bàn nói nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tánh, trước khi kinh Niết-bàn được dịch ra đến Trung Hoa, đoạn đó chưa có, nhưng mà đọc đoạn kinh trước ngài đã đoán biết rằng trong kinh đó ngài khai thị cái lý nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tánh, xiể đề hữu Phật tánh. Khi ngài xướng thuyết đó rồi thì chúng họ phản đối, họ nói ông này là ngoại đạo. Ông nói vô căn vô cứ, ông nói sai Phật pháp nên họ đuổi ngài đi. Ngài đi lên trên núi tự tay chất đá rồi ngài thuyết cái thuyết đó. Ngài nói nếu như ta nói đúng thì các ngươi làm chứng cho ta. Nói đâu thì đá gục nấy, cho nên gọi là Ngoan Thach điểm đầu. Cục đá ngu ngơ rứa mà nó cũng gật đầu được. Đến sau kinh Niết-bàn, một phần sau đem dịch đủ rồi, quả thật ngài nói đúng như lời trong kinh, đó là pháp tướng tông. Đi xa hơn một chút nữa như trong kinh Viên giác thì cũng chia ra 5 tánh.
1.Phàm phu tánh; 2. Nhị thừa tánh; 3. Bồ-tát tánh; 4. Bất định tánh hoặc đốn siêu Như-Lai tánh; 5. Ngoại đạo tánh.
Phàm phu tánh, cái ông này đối với 3 cái Kiến tư hoặc, Trần sa hoặc, Vô minh hoặc, 3 cái hoặc đó ông chưa đụng tới cái nào hết, ông chưa dứt được 1 tý nào hết, ông là phàm phu chay. Nhị thừa tánh tức đối với hạng người mà đã dứt được sụ hoặc                                 

* Trang 325 *
device

(Kiến tư hoặc). Kiến tư hoặc như trong Câu-Xá mình nói đây thì đắc Kiến tư hoặc thì thành A-la-hán. Thứ ba là Bồ-tát tánh: không phải dứt được kiến tư sư hoặc mà còn dứt được lý hoặc nữa, mà lý hoặc trong kinh Viên giác đại thừa đay chỉ cho trần sa hoặc và vô minh hoặc. Trần sa và vô minh hoặc tức thì nói cái sở tri chướng tất cả các pháp rất nhiều, sở tri là rất nhiều lắm như cát, như trần sa, đối với sở tri đó còn mù mịt chưa dứt được, còn đanh chấp pháp cho nên gọi là trần sa hoặc. Vô minh hoặc là cái căn bản của trần sa đó. Hàng Bồ-tát này đã tạm dứt được cái sự hoặc đó (trần sa và vô minh). Thứ 4 là bất định tánh. Bất định này khác bất định khi kia. Bất định khi kia không định là Thanh văn, Bồ-tát, không định là Duyên giác, hễ gặp duyên sao thì hay vậy thành ra vậy, không định tỉnh được. Còn bất định ở đây có ý nghĩa là Như Lai tánh đốn siêu. Nó là một cái tánh phi tánh, nên gọi là bất định. Gọi là đốn ngộ ví như anh ở trạng thái u ơ như vậy, nhưng thình lình trong giây phút nào đó anh ngộ thì không nói được. Tánh đó không định trước được, ai biết trước được anh đốn ngộ. Trong Câu-Xá này ta nói tiệm tu tiệm ngộ thôi, còn Thiền tôn đốn ngộ không ai nói được. Anh đốn ngộ thình lình, đâu có sẵn trong đó mà nói được. Bất định là vậy. Bất định đây khác hơn bất định kia. Thứ năm là ngoại đạo tánh. Chỉ tin theo ngoại đạo chứ chưa biết gì tới Phật đạo hết. vậy thì những cái tánh này có thể thành Phật được không? Theo kinh điển Đại thừa, và kinh Viên giác dạy thì có thể thành Phật được hết. nhưng sở dĩ chia tánh như thế này đây là căn cứ theo tướng, căn cứ trên cái hiện tướng của chúng sinh đó mà nói, còn về trên tánh mà nói thì tất cả chúng sinh đều có thể thành Phật được hết. Vì vậy có kinh nói rằng xiển đề đoạn thiện căn   

* Trang 326 *
device

không thành Phật được, đó là căn cứ trên tướng mà nói. Nhưng có kinh nói xiển đề có thể thành Phật được, xiển đề có Phật tánh, đó là căn cứ trên tánh mà nói. Căn cứ trên tướng thì có ông Tỳ-kheo 10 hạ, 5 hạ, 4 hạ, ông 50 hạ, nhưng căn cứ trên tánh thì ông nào cũng như ông Tỳ-kheo hết. Ồn thọ giới 100 năm cũng bằng ông mới thọ giới y như nhau hết, thể Tỳ-kheo giống như nhau. Cho nên trên tánh là bình đẳng, còn trên tướng khác nhau.
Bây giời đến 12 nhơn duyên.
Trong 12 nhơn duyên này có nhiều chỗ giả, giải rất rộng và đầy đủ. Ở đây tôi chỉ nói những điểm đặc biệt mà thôi. Trong luận Đại bà sa quyển 29, duyên khởi pháp nhất thiết hữu vi thông thuyết hữu tình số phi hữu tình số duyên khởi hiển quá hữu nhơn hiện hữu quả nhơn vị quả thị hiện trung đạo quá tam tế ngu nhược pháp thị nhơn duyên khởi pháp chỉ định cách nhược pháp hữu nhơn nhân duyên dĩ sanh pháp sở thuộc cách pháp sanh thời danh duyên khởi pháp. Pháp dĩ sanh dĩ, danh duyên dĩ sanh pháp, Duyên khởi tổng tướng vô thỉ vô chung chứng đắc thân thượng xã duyên khởi. Vô minh duyên hành, thị cận duyên bất cọng duyên, Vô minh duyên hành tắc quyết định, hành duyên vô minh, tắc bất quyết định, như A-la-hán hữu lậu nghiệp bất duyên vô minh cố. Nghiệp dữ quả danh hành nghiệp vị dữ quả danh hữu đó là những câu lạ trong Tỳ bà sa.
Trước hết như chúng ta biết Phật nói đạo lý duyên khởi: thử hữu cố bỉ hữu, thử sanh cố bỉ sanh, thỉ vô cố bỉ vô, thử diệt cố bỉ diệt. đó là một cái công thức để cắt nghĩa đạo lý duyên khởi chung như thế. Cho nên trong kinh Nikàya, Phật thường nhắc câu trên thử hữu cố bỉ hữu... thử diệt cố bỉ diệt như vô minh                       

* Trang 327 *
device

duyên hành. Thành thử như vô minh duyên hành đó là một chứng minh, một phương diện cái đó không phải nói toàn thể nghĩa duyên khởi theo như câu thử hữu cố bỉ hữu...
Nói thập nhị duyên khởi đó là một phần thôi của trong thử hữu cố bỉ hữu,chứ  không phải thập nhị duyên khởi đó cát nghĩa hết câu thử  hữu cố bỉ hữu,thử sanh cố bỉ sanh.Nếu như đó là cắt nghĩa thử hữu cố bỉ hữu thử sanh cố  bỉ sanh sao trong này còn lục nhơn nhân duyên, nói  để làm gì? Nói cái gì nữa? Tức nhiên câu đó là nói bao quát hết thử hữu cố bỉ hữu,cả  hữu tình vô tình, nói chung hết chứ không phải chỉ riêng về hữu tình.Cắt nghĩa riêng về  cái loài hữu tình,cái thân hữu tình chứ không cắt nghĩa cái vô tình. Nhưng thường người ta nói đạo lý duyên khởi của đức Phật là cái trụ  cột để cắt nghĩa chung cho vạn pháp đó là có nghĩa rằng : dù cái y báo vô tình đi nữa cũng phải dựa vào nơi chánh báo hữu tình mà thành ra. Cho nên lấy hữu tình làm căn cứ. Từ nơi cái hữu tình làm căn cứ đó mà cắt nghĩa vô tình. Từ nơi chánh báo mà cắt nghĩa y báo. Cho nên phải hiểu rằng chữ duyên khởi ở đây là cắt nghĩa rộng. Do đó cho nên trong luận này ta mới nói rằng:Duyên khởi pháp là cái pháp duyên khởi đó chỉ cho tất cả hữu vị. Đã là tất cả hữu vi thì anh hữu tình đã là hữu vi thì cũng là duyên khởi pháp. Hòn núi là hữu vi cũng là duyên khởi pháp, tứ đại là hữu vi thì cũng là duyên khởi pháp,chứ không phải riêng cái con gà , con người mới duyên hữu pháp, còn hòn núi không duyên hữu pháp.Nói chung cái duyên khởi pháp của hữu tình số và phi hữu tình số. Cái duyên khởi pháp nói chung cho cái hữu tình số, là kẻ đã lọt vào trong con số hữu tình hoặc là không ở trong số lượng hữu tình là phi tình số, là vô tình,đó là duyên khởi chung. Nhưng ở đây sở dĩ kinh hay nói vô minh duyên hành, thập nhị chi đây đó

* Trang 328 *
device

là dùng thuyết hữu tình số duyên khởi pháp. Chỉ  nói cái duyên khởi pháp của hữu tình số chứ  không phải nói chung cho cả cái duyên hữu pháp phi tình số. VÌ sao Phạt lại nhấn mạnh điều này ? Phật nói như thế để làm gì ? Là Ngài muốn hiểu rõ quá khứ của chúng sinh, quá khứ, có nhơn hiện tại có quả nhơn hiện tại và  vị lai có quả vị lai. Như vậy là  hiểu rõ cái lý trung đạo. Nhơn quả 3 đời, chứ  không phải có nhơn không quả, có quả không nhơn, Có nhơn có quả đó là một cái lẽ  trung đạo. Hiểu trung đạo để làm gì ? Để phá  cái tam tế ngu ( Ngu ba đời). Tế này là 3 đời,là  tiền tế, trung tế, hậu tế.Tiền tế vô cùng hậu thế minh trắc (câu trong cảnh sách) Tế này phải hiểu là đời, giới hạn của đời là quá khứ,đời hiện tại đời vị lai. Đừng có làm như trong cái câu của ngài Vạn Hạnh gọ là Vạn Hạnh dung tam tế,có người dịch là Vạn Hạnh thông cả 3 học (Phật, Lão, và Nho)nói vậy là sai.
Tiền tế là đời trước, trung tế là  hiện tại,và hậu tế là đời sau. Tam tế  ngu là gì ? Là ở nơi tiền tế trong đời quá khứ nghĩ rằng đời quá khứ  có ta,ta trong đời quá khứ ta đã sanh ở  đâu và làm gì ? Tên gì,sống bao nhiêu tuổi,đó là cái ngu về đời quá khứ, chấp có  ta.Rồi trong hiện tại ta đây là con ai, dòng họ  nào,lúc ấy ăn cái gì…ta, ta và ta là  hiện tại ngu.Rồi nghĩ lại về vị lai.Ta sẽ  như thế nào? Ta sẽ ở đâu, ta sẽ làm gì? Đó là vị lai ngu. Cái ngu trong 3 đời đó. Thì giờ đây Phật nói thập nhị nhơn duyên để phá trừ cái ngu trong 3 đời đó.Anh muốn nói quá khứ có ta hay không ? Thật ra quá khứ không có ta chi cả, mà quá khứ chỉ có vô minh duyên hành.Anh muốn nói hiện tại có ta hay không ? Hiện tại không ta chi cả.Mà hiện tại có thức,danh sắc, lục nhập,xúc, thọ, ái, thủ và hữu. Anh muốn nói vị lai có ta hay không ? Vị lai cũng chẳng có ta chi cả. Chỉ có sanh và lão tử.Nói thập nhi nhơn duyên để phá cái ngu 3 đời ( ngu tam đời không phải đâu.Đời ông đời cha đời con không phải vậy). Để

* Trang 329 *
device

hiểu rõ cái nghĩa duyên sanh là vậy.Thứ  hai nữa là nhược pháp nhơn sanh duyên khởi pháp.Nếu cái pháp đó nó đang còn nhơn thì nó gọ là duyên khởi pháp.Chỉ nhơn là duyên khởi pháp(chỉ định cách). Mà nhược pháp hữu nhơn thì sanh duyên dĩ sanh pháp.Nếu các pháp đó mà có nhơn, từ cái nhơn sanh ra nó, nó lệ thuộc theo cái nhơn đó cho nên nó là thuộc về sở thuộc cách.
Pháp sanh thời danh duyên khởi pháp.Pháp trong khi sanhgọi là duyên khởi pháp mà pháp sanh dĩ gọi là duyên dĩ sanh pháp. Mỗi một duyên như vậy vừa là duyên khởi pháp vừa là duyên dĩ sanh pháp.Nói cách khác một pháp như vậy vừa là nhơn vừa là quả.Vô minh vừa là duyên khởi pháp vừa là duyên dĩ sanh pháp.Bởi vì sao ? Bởi vì vô minh nó làm duyên cho hành thì như vậy vô minh là duyên khởi pháp.Hành do vô minh sinh ra nên hành có cái nhơn của vô minh. Từ nhơn vô minh mà có (sở thuộc cách).Cho nên hành là duyên dĩ sanh pháp.Nhưng mà hành đó nó làm duyên cho thức, như vậy hành là duyên khởi pháp.Nó vừa mới là duyên dĩ sanh pháp bây giờ nó làm duyên khởi pháp. Nó làm duyên khởi pháp rồi sanh ra thức.Thức gọi là duyên dĩ sanh pháp.Duyên dĩ sanh pháp nhưng mà thức làm duyên cho danh sắc.Như vậy trở lại là duyên khởi pháp sanh ra thức.Thức gọi là duyên dĩ sanh pháp.Như vậy chính trong một pháp có dủ nhơn đủ quả,vì đủ nhơn đủ quả cho nên không thể nói cái nào là đầu cái nào là chót, vô thi vô chung, nếu là đầu anh nhơn là nhơn luôn không có quả.Nếu chót anh quả là quả luôn không thành nhơn.Phải không ? Chứ anh còn sinh ra nữa sao gọi là chót được. Phải chưa ? Sinh dài dài,người ta cấm mà cứ sinh sao gọi là chót được.Chứ còn cái quả thì ngang đó rồi thôi.Tỷ dụ như cụ 90t rồi thì thôi, hiểu chưa ? Vậy mới gọi  là hữu thỉ hữu chung, chứ còn bây giờ nó vừa là nhơn vừa là quả,thì thỉ chung sao được ? Nói nó thỉ cũng không được,nó là

* Trang 330 *
device

quả sao nói thỉ ?mà nói chung cũng không được. Nó là nhơn sao nói chung.Phải hiểu rõ như vậy,hiểu cái lý vô thỉ vô chung.Bởi vì cái nhơn quả trong đạo Phật không phải là cái nhơn quả khoa học.Nhơn ra nhơn quả ra quả, ỳ ỳ ra đó.Chứ còn bên này nhon mà trở thành quả,quả trở làm nhơn,cho nên vô thỉ vô chung.Gà làm trứng và trứng làm gà, cho nên gọi là vô thỉ vô chung.Chớ gà là gà trứng là trứng thì có thỉ có chung,chứ còn đem gà làm trứng trừng là gà cái nào có trước cái nào có sau ra mà cải nhau thì không bao giờ cải cho xong hết.Nó vốn là vô thỉ vô chung,vừa nhơn vừa quả thì làm sao có thỉ có chung được.Học lý thập nhị duyên khởi là phải hiểu như vậy.Như vậy duyên khởi tổng tướng vô thỉ vô chung chứng đắc Niết-bàn phương xã duyên khởi.Chứng đắc Niết-bàn là thoát ly vô mình chứ còn đâu nữa mà ở trong cái vòng đó.Có ai chứng đắc Niết-bàn mà còn vô minh không ? Không còn.Niết-bàn còn vô minh thì còn ra sao nữa ? Đó là 1 điều nên nhớ.Bây giờ đây có cái câu này để định nghĩa chữ hữu và chữ hành,chữ nghiệp và chữ hành rất hay.Nghiệp dĩ dữ quả danh hành nghiệp vị dữ quả sanh hữu.
Trong thập nhị nhơn duyên có 2 chữ vô  minh duyên hành.Hành ở với nghiệp. Ái thủ sinh hữu,hữu cũng là nghiệp nhưng trong đó không gọi là  nghiệp mà gọi là hành và hữu.Hai chữ  này có vị trí của nó,cái chức năng ,cái tính cách của nó là nghiệp chứ không gì  khác hết.Nhưng nghiệp quá khứ gọi là hành.Vì  nghiệp quá khứ đã cho quả rồi.Dị dữ  quả tức chưa cho quả thì gọi là hữu vô minh duyên hành vị câu duyên : vô minh rồi tới hành chứ không chờ xen vào được hết.Bất cọng duyên là duyên trực tiếp.Cái vô minh làm duyên cho hành đó là một cái duyên gần nhất ( cận duyên,sát bên lưng chứ không xa xuôi gì hết).Hai nữa là nó bất cọng duyên.Bây giờ nói cái danh sắc có duyên vô minh không ? Do vô minh làm duyên được không ? Có,mà xa.

* Trang 331 *
device

Chữ này mặc dầu nói vô minh duyên hành chỉ  là cọng duyên và bất cọng duyên,chứ thật ra cái vô minh nó cũng làm duyên dài dài cho tới lão tử chứ không phải làm duyên ngang đó mà  thôi.Chứ không phải vô minh anh làm duyên cho hành rồi anh bỏ đi đâu mất,ai muốn làm chi thì  làm,không phải đâu,mà nó đi theo cho tới lão tử.Nhưng lão tử là gián tiếp,là cảnh là  chung.Còn vô minh là duyên cho tới hành.Vô minh duyên hành ta quyết định đó là một điều chắc chắn.Anh đã có vô minh rồi nhất định anh hành động,anh  nhúc nhích theo cái vô minh đó chứ anh không ngồi yên một chỗ được đâu.Phải có hành đó là chuyện chắc chắn.Nhưng mà  nói hành duyên vô minh thì trường hợp chúng sinh thì có chứ A-la-hán thì không có.Có  trường hợp A-la-hán có hành động đó nhưng không phải duyên vô minh.Hành động đó là hành động hiện tại,cho nên không nhất đinh,không chắc chắn,bất  định.A-la-hán dứt hết nghiệp quả không có duyên vô minh nữa.Theo Hữu bộ có 4 loại duyên khởi.]
 
* Tiết II:  12 NHÂN DUYÊN
Như trên do hoặc, nghiệp, khổ (cũng gọi hoặc, nghiệp, sự) mà chúng sinh trải qua bốn giai đoạn hữu lưu chuyển từ quá khứ đến hiện tại, đến tương lai,vô chung vô thủy. Và hoặc, nghiệp, sự lại là cách diễn đạt khác về 12 nhân duyên, như hoặc sinh hoặc tức ái duyên thủ; hoặc sinh nghiệp tức vô minh duyên hành; thủ duyên hữu; nghiệp sinh sự tức hành duyên thức; hữu duyên sinh; sự sinh sự đó là thức duyên danh sắc, sự sinh hoặc đó là thọ duyên ái; rồi lại hoặc sinh hoặc... như trước.
Mười hai duyên khởi nếu phân tích thì có bốn loại sai khác:

* Trang 332 *
device

1. Sát-na duyên khởi là trong một sát na gồm đủ cả mười hai duyên khởi.
[Trong một niệm đủ 12 duyên khởi.Cái đó có  không ?Có.Bởi vì trong nhơn có quả.Vậy trong khi mỏng một niệm vô minh là dủ các thứ khác.Mặc dầu nó vi tế, nó không hiện ra một cách rõ rệt dưới tầm mắt của mình.Nhưng lẽ đương nhiên là nó có.Cái thứ hai là liên phược.Liên phược duyên khởi là duyên khởi nó tiếp nối nhau.Cái thứ 4 là viễn tục duyên khởi là duyên khởi này nó tiếp tục rừ xa xưa trở lại và cái thứ 3 phân vị duyên khởi là cái duyên khởi. Do Câu-xá cắt nghĩa Duyên khởi này thường ta hay cắt nghĩa quá khứ thì có vô minh, có  hành , mà hiện tại có thức,danh sắc,lục nhập,xúc, thọ , ái ,thủ, hữu.Vị lai có sanh ,tử.Đó là theo phân vị duyên khởi.Nhưng nếu cứ theo phân vị duyên khởi mà hiểu thì chết.Vậy thì quá khứ có vô minh hành không ? Không có Thức.Vị lai có sanh và lão tử không, không có vô minh,hành : cắt nghĩa một kiểu máy móc như vậy mà không hiểu cái nghĩa nó có một cái thông đồng chung trong đó.Đó là cắt nghĩa không đúng.Nhưng sở dĩ các Ngài cắt nghĩa chia 3 đời là để chứng tỏ rằng cái thân phận của chúng sinh trong 3 đời đều do 12 nhơn duyên mà thành chứ không có cái ngã nào trong đó cả.Chính ra  mỗi một đời quá khứ nó cũng trọn đủ cả 12 chi.Mà trong một đời hiện tại nó cũng đủ cả 12 chi mà trong một đời vị lai nó cũng trọn vẹn đủ cả 12 chi chứ không phải vị lai nó có sanh lão tử mà thôi.Đây là cái phân vị.Tuy Câu-xá phân vị này mới chia : quá khứ vô minh duyên hành,hành duyên thức,(kiết sanh thức khi thụ thai đầu tiên) thức duyên danh sắc(phần còn ở trong thai mẹ tượng hình ra có lục căn có sanh có thức)danh sắc duyên lục nhập,lục nhập có đầy đủ căn rồi mới lọt lòng oa

* Trang 333 *
device

oa, lọt lòng mẹ ra rồi mới xúc 1t đến 3,4t gì  đó) gặp gì bốc nấy (xúc) rồi 13t mới thọ,15t trở  lên mới ái (mới sinh sự),ái vừa vừa thì thôi chứ còn ái quá thì thủ mới tạo nghiệp.]
 
2. Liên phược duyên khởi là mười hai duyên khởi tiếp liền nhau.
3. Phân vị duyên khởi là mười hai duyên khởi khác nhau.
4.Viễn tục duyên khởi là mười hai duyên khởi trải qua nhiều đời tiếp tục.
Không có một thật ngã hay một chủ thể thống nhất trong sự luân hồi mà chính là do mười hai duyên khởi tuần hoàn diễn tiến theo luật nhân quả tạo ra trạng thái luân hồi. Như kinh Tạp A-hàm 13 nói: "Khi mắt sinh không từ đâu đến, khi mắt diệt không đi về đâu. Như vậy mắt sinh, không thật sanh, diệt không thật diệt, có nghiệp báo nhưng không có người làm. Thân ngũ ấm này diệt thì thân ngũ ấm khác tiếp tục, trừ tục số pháp: nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý cũng như vậy, trừ tục số pháp. Tục số pháp là cái này có nên cái kia có, cái này khởi nên cái kia khởi, như vô minh duyên hành, hành duyên thức, nói rộng cho đến thành nhóm tụ tập thuần khổ lớn".
[Dục dĩ hào mạc đạt lượng hư không vô  hữu thị xứ.Muốn lấy cái lông (mảy may) để mà  đó lương hư không thì không có lẽ đó ( không thể được).Vô hữu thì nói trong kinh luật nhiều lắm.Vì sao tôi đêm ra tôi nói với anh em.Bởi vì có người họ dịch như thế  này : Muốn lấy cái mảy may đo lường hư không thì tôi không biết đứng chỗ nào mà làm cho được.]

* Trang 334 *
device

Đoạn 3. khí thế gian
Tiết 1. HẠN LƯỢNG THẾ GIỚI
Khí thế gian tức là thế giới y báo, nơi sinh sống của hữu tình. Tiểu thừa Đại thừa đều nói đến mười phương thế giới, vô số vô lượng. Luận Đại Trí Độ 4 nói: Thế giới trải khắp mười phương nhiều vô số lượng, nhưng không lộn xộn vị trí, bởi nghiệp lực của hữu tình mà sự khu hoạch khác nhau. Chỉ một khu vực cũng đã rộng lớn vô cùng. Có thể chia ra ba hạng: Tiểu thiên thế giới, trung thiên thế giới, Đại thiên thế giới gọi chung là Tam thiên Đại thiên thế giới.
Cứ một mặt trăng mặt trời hay một thái dương hệ với ánh sáng chiếu khắp các cõi các châu ở cõi Dục, cho đến Sơ thiền ở cõi Sắc, trong chu vi đó gọi là một thế giới. Gồm 1.000 thế giới gọi là một Tiểu thiên thế giới. Gồm 1.000 Tiểu thiên thế giới gọi là một Trung thiên thế giới. Gồm 1.000 Trung thiên thế giới gọi là một Đại thiên thế giới. Đại thiên thế giới này là Tam thiên Đại thiên thế giới. Đây là phạm vi hóa độ của một đức Phật (Phật sát). Theo nhã ngữ gọi là Ta-bà thế giới, theo tục ngữ gọi là Sách hạ thế giới, có nghĩa là Nhẫn độ, Kham nhẫn. Kinh Bi Hoa nói, chúng sinh ở đây nhẫn chịu ba độc tham, sân, si và sự thống khổ nên gọi là nhẫn độ. Các Bồ-tát hành đạo tại đây gặp nhiều sự oán ghét, bức não khó nhọc phải nhẫn chịu lướt qua, nên gọi Kham nhẫn.

* Trang 335 *
device

Theo kinh Tăng Chi 1 (bản Việt) chép, một mặt trăng, một mặt trời đến cõi Phạm thiên gọi là một thế giới. 1.000 thế giới cộng lại thành một Tiểu thiên, 1.000 Tiểu thiên thế giới cộng lại thành một Trung thiên, 1.000 Trung thiên cộng lại thành một Đại thiên, tức Tam thiên Đại thiên thế giới. Như Lai có thể làm cho tiếng mình được nghe xa khắp Đại thiên thế giới, hay xa hơn nữa, nếu muốn. Tại sao vậy? Như Lai chiếu ánh sáng cho đến 3.000 Đại thiên thế giới, cho đến khi nhận thức được ánh sáng ấy, rồi Ngài mới phát âm làm cho tiếng mình được nghe. (Theo Khuy Cơ, phạm vi cõi Dục mới bằng một Sơ thiền, 1.000 Sơ thiền mới bằng một Nhị thiền, 1.000 Nhị thiền mới bằng một Tam thiền, 1.000 Tam thiền mới bằng một Tứ thiền. Đây gọi là một Tam thiên Đại thiên thế giới).

Tiết II : THỂ CHẤT CỦA THẾ GIỚI NHƯ THẾ NÀO ?
Thế giới được cấu thành bằng bốn trần sắc, hương, vị, xúc. Và bốn trần này lại do cực vi hợp thành. Cực vi là vật thể rất vi tế, không thể chia chẻ được nữa, nếu chia chẻ ra nữa thì nó hóa thành hư không, nên cực vi cũng gọi là lân hư trần. Cứ bảy cực vi hợp thành một vi trần, bảy vi trần hợp thành một kim trần
[Thế giới được cấu thành bằng 4 tầng :sắc, hương, vị, xúc và 4 tầng này lại do cực vi hợp thành.Cực vi là kim trần.Đây là một thuyết mà nhiều triết gia ở Ấn Độ chấp nhận cho đó là một vật thể của vật chất cấu thành vũ trụ.Thắng luận sư cho cực vi này cái thể nó tròn va tính nó là thường hằng.Trong Câu-xá luận,Hữu bộ cũng chấp nhận cực vi là thực hữu,bởi vì Câu-xá

* Trang 336 *
device

luận hay Hữu bộ cho rằng tất cả pháp là  cực hữu là thực hữu.Mà cực vi là cái thật pháp,là cái thật thể cơ bản để tạo thành các sắc pháp.Cho nên cực vi là thật hữu.Trong khi Kinh bộ,Thành thật luận bộ không cho cực vi là  thực hữu.
Bây giờ tôi nói cực vi trước.
Cực vi theo người ta cắt nghĩa có 3 cấp bậc : 1.Cực vi ; 2.Vi tụ ;3.Vi trần.Cực vi đây là một cái nhỏ nhất của sắc, hương, vi, xúc và địa,thủy,hỏa,phong,khi phân tách cho tới cái nhỏ nhất không có thể phân tách được nữa thì cái đó gọi là cực vi.Không thể phân tách được như thế nào ? Không thẻ phân tách được cho tới cái cực nhỏ mà cái đó mắt thường không thấy được,chỉ có cái tri tuệ tưởng tượng,phân tách,rồi biết qua cái ảnh tượng tỷ lượng so sánh,mà nói rằng phân tách đên đó cho rằng nó nhỏ quá rồi.Thành thử cực vi đó không phải là một cái hiên lượng sở đắc,phi hiện lượng sở đắc.Cái gì ta nói phi hiện lượng sở đắc là cái đó không thể lọt qua con mắt,sau con mắt ngũ quan cam giác được.Cái ngũ quan cảm giác,con mắt nhìn thấy cái cực vị cảm giác đó không được,mà sự nhìn thấy của mắt là hiện lượng.Giờ mắt không nhìn thấy được gọi là phi hiện lượng sở đắc.Phi hiện lượng sở đắc vậy thì nó bằng vào cái gì mà biết cực vi ? Là chỉ bằng vào ý thức,vào sự quan huệ,nghĩa là đem cái trí tuệ mà phân tách.Phân tách cho tới nỗi không còn có thể thấy được,bằng hiện lượng mà chỉ thấy bằng tỷ lượng của trí tuệ mà thôi,thì cái đó gọi là cực vi,nhỏ biết bao nhiêu mà kể, thì nó cũng na ná như vậy.Như bây giờ đây ta nói điện tử mới thấy được, ta có thể so sanh kính hiển vi với cái sự quán tuệ.Nó cứ 7 cực vi như vậy nó tích tụ lên lên thành ra 1 vi tụ.Vì sao lại không tích tụ ra 8 hay 9 hay 10 cái 3

* Trang 337 *
device

cái 5 cái mà là 7 cái ? Là vì tất cả sự vật đều có 4 phương,trên dưới và trung ương.Giờ đây nó tích tụ 7 cực vi, 1 cái nam, cái bắc, cái đông, cái tây, cái trên, cái dưới và cái chính giữa thành 1 tụ( 1 nhóm) gọi là vi tụ.Vi tụ này cũng chưa thấy được mà cũng bằng với sự tưởng tượng,bằng tỷ lượng,bằng phi hiện lượng sở đắc.Rồi tích tụ như vậy 7 vi tụ thành 1 vi trần. Vi tụ này cũng có cái nghĩa lân hư hay cực vi.Xưa dịch là lân hư trần,có chỗ nọ nói lân hư trần là cái này. Lân hư trần là sao ? Nghĩa là cái vi trần mà gần với hư không.Coi như nó và hư không sít nhau như anh em song sinh 1 cha 1 mẹ,không khác chi nhau hết.Một vi trần gần với hư không ? Coi như không.Lân là gân hư là hư không.Vậy là cái cực vi này,cực dịch là lân hư trần mà tân dịch là cực vi.Cũng có chỗ chỉ lân hư trần là vi tụ này.Cả hai cái cũng đều là phi hiện lượng sở đắc lên tới vi trần, khi bấy giờ mới gọi là hiện lượng sở đắc, nhãn thức mới có thể thấy được.Rồi cứ tích tụ trong đó 7 vi trần như thế thành một kim mao trần.Kim mao trân là cái mãy trần lọt qua vàng được.Ngày xưa các vị họ tưởng tượng hay thật,họ dùng cái sức đó để tưởng tượng hay thật,một mãy trần mà lọt qua vàng được,thì nó nhỏ tới mức nào.Do con số 7 đó mà ta thấy đó là 1 con số triết học.Từ số 7 đó nên nó biến diễn giữa đời này,nên cũng có nhiều môn phái lấy số 7 coi như một con số thiêng liêng.Tỷ dụ như đạo Thiên chúa nói ông chúa sinh ra sự vật trong 7 ngày rồi ông nghĩ.Còn về đức Phật thì sinh ra đời đí trên 7 hoa sen.Chưa có kinh nào nói 7 hoa sen,con số 7 đó là căn cứ theo ý niệm triết học về 7 cực vi đây mà nói.Nhưng ta cũng có thể liên hệ qua điều đó được.Còn kinh nói có 7 hoa sen thì chưa có chỗ nào nói cho rõ hết, chúng ta nói bằng cách suy luận là với cái lẽ,đức Phật có lúc làm Thiện tuệ Bồ-tát cúng 7 hoa sen cho đức Phật Nhiên Đăng nen được thụ ký tương lai

* Trang 338 *
device

thành Phật. Cho nên khi Ngài thành Phật thì có  7 hoa sen.Rồi cũng có cái thuyết cho rằng 7 hoa sen đó là thất giác chi.Do 7 pháp đó tức cũng có  7 bước đi,đi trên 7 bước đó mà đạt thành vô  thượng chánh đẳng chánh giác.Mà cũng có cái thuyết cho rằng 7 bước hoa sen đó tượng trưng cho 7 đức Phật  ở trên Ta bà thế giới này.6 hoa sen trước là 6 Ngài trước,hoa sen thứ 7 là đức Phật Thích Ca.
Bây giớ nói tới cực vi đó giả hay thật ? Thì các thuyết không đồng nhau.Theo Thắng luận sư cho cực vi đó tướng của nó tròn và tính của nó thương trú là thật.Theo Hữu bộ thì cũng cho cực vi đó là thực mặc dầu phi hiện lượng sở đắc.Nhưng từ cực vi cấu thành vũ trụ vạn vật, vũ trụ vạn vật được cấu thành là thực hữu, chứ không phải cấu thành ra vũ trụ mà lại không thực hữu.Đó là lý luậncủa Hữu bộ.Còn Thất luận với Kinh lượng bộ cho đó là giả chứ không thật được,bởi vì phi hiện lượng sở đắc,thì không thể là thật được.Cực vi giả thật có cái nghĩa như vậy đó.Theo Hữu bộ cực vi là thật nhưng tùy theo nghiệp lực chúng sinh mà nó khởi lên tác dụng.Khi nghiệp lực của chúng sinh thành thục rồi thì cực vi từ nơi địa vị vị lai mà nó khởi lên thành tác dụng hiên tại.Chính trong khi khởi lên thành hiện tại,5 căn 5 trần như thế gọi là cực vi trong hiện tại.Mà trong hiện tại qua đi rồi,5 căn 5 trần phân tán thì cực vi trở lại cực vi,cái thật thể của nó trở thành quá khứ.Thành như vậy cực vi trong 3 đời đều thật có.Đó là cái lý luận của Hữu bộ.Về vật chất thì cái vật chất nhỏ nhất là cực vi.Không gian cực vi là nhỏ nhất, còn về thời gian ngắn nhất là sát na.Từ sát na chồng lên thành thời gian ngày tháng năm tiếp theo.Từ cực vi chồng lên thành vũ trụ vạn vật.]
(mảy bụi có thể lọt qua kim khí), bảy kim trần hợp thành một thủy trần ( mảy bụi có thể lọt qua nước), bảy 

* Trang 339 *
device

thủy trần hợp thành một thố mao đầu trần (mảy bụi có thể để trên đầu sợi lông thỏ), bảy thố mao đầu trần hợp thành một dương mao đầu trần (mảy bụi có thể để lên đầu lông dê), bảy dương mao đầu trần hợp thành một ngưu mao đầu trần (bụi để trên đầu lông trâu, bảy ngưu mao đầu trần hợp thành một khích du trần (mảy bụi bay qua kẻ hở thấy được khi có ánh nắng chiếu qua). Cứ như vậy chồng lên thành vạn vật. Nếu ta trở lại chia vật gì ra bảy phần, rồi bảy phần... đến khi đo còn lại cực vi thì không thể chia được nữa, và mắt thường cũng không thể thấy được.
Tính chất của cực vi thế nào ?
Mỗi cực vi đều có đủ bốn tính chất là cứng, ướt, nóng, động (cố thể, dịch thể, nhiệt lực, động lực hay khí thể).
-  Tính cứng rắn có tác dụng bảo trì mọi vật.
-  Tính thấp ướt có tác dụng gom dính mọi vật.
-  Tính ấm nóng có tác dụng thành thục mọi vật.
-  Tính chuyển động có tác dụng làm tăng trưởng mọi vật.
Hình thức biểu hiện của bốn tính ấy gọi là bốn đại: đất, nước, lửa, gió. Cực vi có sẳn bốn tính chất và bốn tác dụng như thế nên có thể cấu thành vũ trụ vạn hữu, tùy theo sự phối hợp không đồng đều về phần lượng giữa bốn tính chất cực vi mà cấu thành mọi vật sai khác. Nếu tính cứng nhiều hơn ba tính kia thì sẽ thành những vật cứng rắn như vàng, đá... Như vậy, vũ trụ vạn vật, núi sông thế giới đều do cực vi tạo thành.

* Trang 340 *
device

Tiết III : THỜI KỲ THÀNH HOẠI CỦA THẾ GIỚI

Thế giới cứ xoay vần tiếp nối qua bốn thời kỳ thành, trú, hoại, không. Mỗi thời kỳ là một Trung kiếp, đủ bốn Trung kiếp là một Đại kiếp. Chữ kiếp là chỉ khoảng thời gian rất dài,trái với chữ sát na là chỉ khoảng thời gian rất ngắn. Ngắn như thế nào? Như trong khoảng thời gian kẻ lực sĩ gãy móng tay đã có tới 65 sát-na. Cứ 120 sát-na tiếp nối nhau thành một hàng sát-na, 60 hàng sát-na thành một lạp phược, v.v... chồng lên dần đến 30 ngày là một tháng, 12 tháng là một năm.
[Chữ kiếp là chỉ khoảng thời gian rất dài trái với chữ sát na chỉ khoảng thời gian rất ngắn.Ngắn như thế nào ? Như trong 1 khoảng thời gian kẻ lực sĩ gãy móng tay,thì đã có tới 65 sát na.
Một năm theo Ấn Độ họ chia làm 3 mùa :mùa nhiệt (nóng),mùa vũ(mưa), mùa hàn (lạnh).Trong 3 mùa này lịch Ấn Độ có nhiều cách tính.1.Nhiệt kỳ là từ 16 tháng 1 đến 15 tháng  5 ;2.Vũ kỳ :từ 16 tháng  5 đến 15 tháng  9 ; 3.Hàn kỳ :từ 16 tháng  9 đến 15 tháng  1.
Cách thứ 2. 1.từ 16 tháng  2 đến 15 tháng  5 ; 2. Từ 16 tháng  6 đến 15 tháng  10 ;3. Từ 16 tháng  10 đến 15 tháng  2 ;4. Từ 16 tháng  12 đến 15 tháng  5 ;5. Từ 16 tháng 5 đến 15 tháng  8.
Cách thứ 3. Từ 16 tháng 8 đến 15 tháng 12.Cho nên trong cái ngày kết vũ kỳ nó trồi trụt khác nhau.Theo lối tính ở Việt Nam ta Bắc tông dùng cách khác,bên Nam tông dùng cách khác.Thành thường thường mình thấy mấy chỗ khác nhắc vi trần kết hợp thành vũ  trụ, những thời, những kiếp, những trung kiếp,

* Trang 341 *
device

đại kiếp trong A hàm nếu không học thì không biết. nếu có học A Hàm thì hiểu chuyện đó rất hay.]
Trong khoảng thời gian vô cùng, tuổi thọ con người có hai định mức. Thấp nhất là mười tuổi, cao nhất là 80.000 tuổi. Trong đó từ 10 tuổi, cứ 100 năm là tăng một tuổi, tăng cho đến 80.000 tuổi, rồi lại cứ 100 năm giảm một tuổi, giảm xuống đến 10 tuổi thượng thọ. Tức là trải qua một lần tăng một lần giảm như vậy gọi là một Tiểu kiếp (ước độ 15.998.000 năm), và 20 mươi Tiểu kiếp thành một Trung kiếp. Thế giới khi thành, trụ, hoại, không đều trải qua một Trung kiếp (ước 15.998.000 x 20 = 319.960.000 năm).
Vậy thế giới ta hiện đang sống đây thành lập khi nào? Thế giới này đã trải qua thành kiếp và hiện ở giữa trụ kiếp, như vậy là trọn 20 mươi Tiểu kiếp của thời kỳ thành lập và 10 Tiểu kiếp của thời kỳ trụ (ước 15.998.000 x 30 = 479.940.000 năm).
Trạng thái khí thế giới thành lập như thế nào?
Như trên đã nói thời gian thế giới thành lập chiếm trọn 20 Tiểu kiếp. Trong đó một tiểu kiếp đầu thành lập khí thế gian, tức y báo (vũ trụ); 19 Tiểu kiếp kế thành lập hữu tình thế gian, tức chính báo. Đây là giai đoạn loài vật xuất hiện từ trên xuống. Câu-xá-luận 12 nói: “Do năng lực cộng nghiệp của loài hữu tình làm tăng thượng duyên mà ở giữa không luân dần dần có ngọn gió nhẹ thổi lên, nó là tướng trạng đầu tiên của thế giới sắp thành. Gió mạnh dần mà lập thành phong luân, rồi thủy luân, rồi kim luân (khối vòng tròn gió, nước chuyển động...)”. Cũng Câu-xá-luận 11 nói:                                                     

* Trang 342 *
device

“Do nghiệp lực của loài hữu tình làm duyên tăng thượng, đầu tiên ở dưới đất nương nơi hư không mà có phong luân nổi lên với một phạm vi vô cùng rộng rãi và dày 16 ức du-thiên-na (do tuần, có ba cỡ: 20 dặm, 40 dặm, 80 dặm), thể chất rất rắn chắc, kín chặt, và cũng do nghiệp lực của chúng sinh làm duyên tăng thượng có đám mây nổi lên và đổ mưa xuống trên phong luân, hạt mưa lớn như trục xe, chứa lại thành thủy luân, sâu tới 11 ức 2 vạn du-thiên-na.., lại cũng do nghiệp lực của chúng sinh làm duyên tăng thượng, một luồn gió khác nổi lên kích động dồn ép thủy luân đông lại thành lớp cứng chắc trên đó gọi là kim luân, nghĩa là phần rắn cứng, tức là quả đất.
Như vậy, từ giữa trống không, do nghiệp lực của chúng sinh làm duyên tăng thượng nổi lên phong luân, rồi thủy luân, rồi kim luân. Đó là sự cấu thành tuần tự của địa cầu này vậy. (Tham chiếu Trường A-hàm 18, Khởi Thế Nhân Bản kinh I, Khởi Thế Kinh I, Lâu Thấn Kinh, Lập Thế Tỳ-đàm I).

Tiết IV :  TRẠNG THÁI KHI THẾ GIỚI TRỤ, HOẠI VÀ TRỐNG KHÔNG NHƯ THẾ NÀO ?
Thế giới trong thời trụ gồm 20 Tiểu kiếp. Trong 20 Tiểu kiếp này, tuổi thọ con người có 19 lần tăng lên đến 80,000 tuổi, và 19 lần giảm xuống 10 tuổi là thượng thọ. Khi tuổi thọ con người ở định mức 80.000 thì thân hình đẹp đẽ, tự phát ánh sáng, đi lại nhẹ nhàng như bay, và sống rất lâu. Từ đó dần dần đắm sắc, tham ăn, mê lợi, thích quyền, tính tình lười biếng, cất chứa tài sản riêng, càng có càng

* Trang 343 *
device

tham lam bủn xỉn, không biết bố thí, đưa đến cảnh nghèo cùng trộm cướp, giặc giã, giết chóc ghê gớm, lòng người khiếp đảm, che dấu tội lỗi, dối trá quanh co, phát sanh nhiều hành động hung ác mỗi ngày mỗi nhiều, làm cho tuổi thọ mỗi ngày mỗi giảm, cho đến khi tuổi thọ con người giảm đến định mức 10 tuổi, thì có ba tai biến nhỏ xảy ra, đó là đao binh tai, tật dịch tai và cơ cẩn tai. Khi đao binh tai khởi lên, tà pháp lộng hành,lòng người hung hiểm, thấy nhau muốn giết giống như thợ săn đối với mãnh thú. Những gì cầm trong tay cũng đều trở thành binh khí giết nhau, trải qua bảy ngày bảy đêm chết vô số kể. Tiếp theo là tật dịch tai, do ác nghiệp đầy dẫy và thây chết tràn lan gây thành tật dịch, không thể cứu chữa, cũng không nghe đến tiếng thầy tiếng thuốc, trải bảy ngày bảy đêm chết vô số kể. Tiếp đến cơ cẩn tai là hạn hán trường kỳ, hoa màu tiêu hủy, thân hình tiều tụy, đói giơ xương trắng, bới tìm các khúc xương nấu nước, bà con chia nhau đỡ đói, trải bảy năm bảy tháng bảy ngày chết vô số kể. Cho đến hết thời kỳ tiểu tam tai của lần giảm ở Tiểu kiếp thứ 20, thì có đại tam tai khởi lên. Đại tam tai là ba tai biến lớn, hỏa tai, thủy tai, phong tai. Đầu tiên do cộng nghiệp lực của chúng sinh chiêu cảm, có sức nóng của bảy mặt trời xuất hiện, biến toàn cõi Tam thiên Đại thiên thế giới thành đống lửa, cháy tiêu không còn một thứ gì, biển khô, đất thành tro bụi, lên đến Sơ thiền (vì chúng sinh ở đây, trong tâm còn có tầm, tứ thiêu đốt như lửa làm nội ứng); rồi đến thủy tai, một trận hồng thủy tràn ngập lên đến Nhị thiền (vì chúng sinh ở đây trong tâm còn có hỷ ái, khinh an thấm nhuần thân thể như nước làm nội ứng); rồi tiếp đến phong tai,                             

* Trang 344 *
device

một trận gió ghê gớm thổi lên đến cõi Tam thiền (vì chúng sinh ở đây, còn có hơi thở như gió làm nội ứng), Tam tai ấy làm cho thế giới trống không, giai đoạn này cũng kéo dài 20 tiểu kiếp, sau đó bắt đầu thành lại; thành rồi thì trụ, trụ rồi thì hoại, hoại rồi thì không, không rồi lại thành... như một vòng tròn không manh mối, thành không phải đầu, hoại không phải cuối. Như thế thế giới là vô thỉ vô chung.
Riêng ở Tứ thiền và Vô sắc giới không bị ảnh hưởng của đại tam tai này, nhưng vẫn biến chuyển không thường  theo nghiệp lực thọ mạng của chúng sinh ở các cõi đó vậy.


 
*
*       *

* Trang 345 *
device

 
Đại cương Luận Câu Xá