LOGO VNBET

V. PHẨM PHÂN BIỆT TÙY MIÊN

Nguyên nhân cảm sinh ra thế giới mê vọng có gần và có xa. Nguyên nhân gần là nghiệp như đã nói ở phẩm trên, còn nguyên nhân xa chính là tùy miên được nói trong phẩm tùy miên này.
Phẩm tùy miên gồm có 69 bài tụng. Tùy miên là tên khác của phiền não hay hoặc. Luận Câu-xá 20 nói: Tùy miên có bốn nghĩa: vi tế, tùy tăng, tùy tục, tùy phược.
Khi căn bổn phiền não hiện tiền vẫn khó biết rõ hành tướng của nó nên gọi là vi tế. Nó làm tăng thêm sự hôn ám trầm trệ đối với cảnh nó duyên và những tâm tương ưng với nó nên gọi là tùy tăng. Nó thường theo dõi hữu tình gây ra các tội lỗi nên gọi là tùy tục. Nó thường hiện khởi trói buộc, không muốn, nó vẫn sinh, cố ngăn, nó vẫn khởi nên gọi là tùy phược.
[Tùy miên theo trong này nói nghĩa như vậy đó.Nhưng có một chỗ khác thêm một cái nghĩa nữa,tùy miên, miên là ngủ,tùy miên có hai nghĩa ngầm nó cứ ngủ mãi,ở trong nó theo dõi,đi đâu nó cũng cứ theo dõi.Vào trong lớp nó theo trong lớp,đi chợ nó theo ra chợ, vô phòng ăn nó theo vô phòng ăn, đi đâu cũng có nó đi theo hết.Thành những cái này ngó bề ngoài thì không nhìn thấy,nhưng bên trong có nó ngủ ngầm ở trong đó. Do nó ngủ ngầm như thế,cho nên hễ có cái duyên thích hợp với nó một cai thì nó lại nổi dậy phát sinh ra nên gọi là tùy miên, Vì vậy mà gọi là vi tế. Còn cái phát sinh ra bên ngoài không gọi là vi tế nữa.

* Trang 412 *
device

Đây là ngấm ngầm ở bên trong gọi là vi tế,tùy là tùy tục theo mãi không giờ phút nào nó dời đi được gọi là tùy.]
Phẩm này nói rộng về mười thứ tùy miên là tham, sân, si..., cũng nói đến mười thứ triền phược, sáu thứ cấu nhiễm..., Nhưng mười thứ tùy miên có sức mạnh hơn, thường theo dõi loài hữu tình làm tăng thêm sự hôn ám, trầm trệ, nên nêu nó làm tên phẩm.
[Nên biết rằng trong phẩm này các ngài hệ thống hóa lại tất cả những cái lậu hoặc gì mà đức Phật từng đã nói rãi rác ở trong các kinh.Ngài nói rãi rác ở trong các kinh chỗ này thì Ngài nói ngũ hạ phần kiết, ngũ thượng phần kiết, chỗ kia Ngài nói 4 bộc lưu, thập triền, thập sử, nghĩa là mỗi chỗ nói một chuyện. Bây giờ trong phẩm nay góp chung hết tất cả những cái tên của các lậu hoặc đức Phật đã nói rãi rác trong các kinh,hệ thống nó lại vào ở trong một phẩm gọi là phẩm Tùy miên. Trong này lấy 10 hoặc căn bản làm chủ yếu. Còn nhưng hoặc khác coi như nó đi với 10 hoặc đó.]
Toàn phẩm chia ra làm hai phần chính:
1. Thể tính tùy miên (Hoặc).
2. Đoạn trừ tùy miên.
Xem đồ biểu dưới đây về bố cục phẩm tùy miên.
  Đoạn 1. Tự thể của hoặc
¨  Tiết 1. Căn bản hoặc
Những phiền não chiêu cảm quả báo mê vọng đau khổ là phiền não căn bản, hoặc gọi là bản hoặc: những phiền não                                                                            

* Trang 413 *
device

tùy tùng phiền não căn bản khởi lên gọi là phiền não chi mạt, hoặc gọi là tùy hoặc. Bản hoặc hay tùy hoặc đều thuộc loại phiền não căn bản, vì nó là gốc sinh ra các loại phiền não khác.




Bản hoặc có sáu thứ là tham, sân, si,mạn, nghi, ác kiến. Nếu chia ác kiến ra làm năm thứ là thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, thì sẽ có mười căn bản hoặc

* Trang 414 *
device

Trong đó, nghi là tính do dự lưng chừng, không nhận định rõ sự lý nhân quả về mặt mê cũng cũng như mặt ngộ. Thân kiến tiếng Phạn gọi là tác-ca-da-kiến, gồm ngã kiến và ngã sở kiến. Đối với thân thể do năm uẩn hòa hiệp tạo thành, không nhận thức rõ như vậy, lại lầm chấp trong đó có một thực thể trường tồn duy nhất chủ tể, đó gọi là ngã kiến. Đối với những sự vật sở hữu của thân, chúng cũng toàn là giả hữu như huyễn, chẳng có tự tha gì cả, thế mà nhận lầm chúng có thật và thuộc về ta, đó gọi là ngã sở kiến.
[Ngã sở kiến là có cái bên trong thì chấp thân tứ đại này, cái ngã sở của ta, cái tay của tôi, cái đầu của tôi, con mắt của tôi. Đó là toàn ngã sở hết.Cho nên trong Nikaya cái ngã có 3 cái tùy miên thanh có 3 lỗi khác nhau.Đây là ta, đây là của ta,đây là tự ngã của ta.Đó là 3 cách chấp ngã.Thì giờ đây cái chữ của ta này không phải đồ vật bên ngoài, là của ta mà thôi.Mà chính ngay chính tự cái thân ngũ uẩn này, cái sắc thân này là của tôi. cái thọ này của tôi, cái tưởng này của tôi, cái hành này của tôi, cái thức này của tôi. Đó cũng là ngã sở, chứ không phải cái đồ vật bên ngoài gọi là ngã sở. Thành chữ ngã sở này có cái nghĩa đi liền với ngã.Mà trong cái đi liền với ngã nó có 3 cách chấp. Đây là tôi có và chỉ tổng quát hết.Đây là của tôi có vẻ chỉ coi còn một đối tượng nữa, và đây là tự ngã của tôi.Đây đích thị là chính tự ngã của tôi.]
 
Biên kiến, đã chấp có thật ngã, tất sẽ chấp sau khi chết, ngã sẽ tồn tại hoặc tiêu ma, chấp lệch lạc một bên như vậy gọi là biên kiến.
Tà kiến, tất cả sự thấy biết sai lệch điên đảo, đều là tà kiến, song lối phủ nhận nhân quả chính đáng và chấp nhận 

* Trang 415 *
device

nhân quả tà vạy là nặng hơn hết, tà kiến ở đây chỉ co sự phủ nhận nhân qủa ấy.
Kiến thủ kiến, tức chấp chặt ba thứ thân kiến, biên kiến, tà kiến trên kia cho là đúng, kiến thủ kiến là đầu mối của sự tranh chấp, tranh đấu.
Giới cấm thủ có hai loại:
a. Không phải nhân chấp là nhân, tức chấp trì những cấm giới tà vạy, như giới trâu, giới chó, cho khổ hạnh là nhân để sinh lên cõi trời...
b. Không phải đạo chấp là đạo, tức tin những đạo lý không đưa đến sự giải thoát, như tin tắm nước sông Hằng sẽ rửa sạch phiền lụy; như Phật dạy, giới là viễn nhân đưa đến Niết-bàn, định, tuệ mới là cận nhân của Niết- bàn, không tin định, tuệ.
Kiến có nghĩa là suy tìm, so tính, lấy tâm sở tuệ làm thể. Khi tâm sở tuệ suy tìm đúng đắn thì gọi là chính kiến, khi nó suy tìm sai lầm thì gọi là tà kiến.
Trong năm ác kiến này, có ba thứ làm tự thể cho bốn món điên đảo kiến, đó là thân kiến làm tự thể cho điên đảo vô ngã chấp là ngã. Biên kiến làm tự thể cho điên đảo vô thường chấp là thường. Kiến thủ kiến làm tự thể cho điên đảo khổ chấp là vui, bất tịnh chấp là  tịnh.
Mạn trong sáu bản hoặc nếu chia ra thì có bảy thứ:
[Mạn kêu là cao mạn, ngạo mạn thì một phần thôi. Mạn là kinh mạn. Trong chữ Hán ta nêu cao cử lăng nhân, minh cất mình lên cao và lăng nhục người khác xuống kêu là cao mạn.]

* Trang 416 *
device

1. Mạn, có tâm cao mạn  so sánh, đối với người thua mình, tự cho mình hơn; đối với người bằng mình, tự cho mình bằng.
[Nếu trên thực tế, đúng ra đối với người thua mình, mà mình nói hơn mình là phải lắm, có hại gì đâu. Đối với người bằng mình , anh bằng tôi thì phải lắm, có mất gì đâu, đó là phép xã giao, thực tế không có gì để nói hết.Nhưng kỳ thật trong lời nói đó hàm chứa một sự so sánh bên trong.Mà vì cái lẽ so sánh đó nên có bỉ có thử, có anh có tôi,tôi hơn anh, anh thua tôi thật, tôi bằng anh thật vậy cũng có mạn. Cho nên hành tướng của mạn nó vi tế lắm, chứ không phải cái mạn bình thường khi ta nói anh khinh khi mạt sát tôi,không phải như vậy đâu.]
2. Quá mạn, có tâm cao mạn. Đối với người bằng mình lại cho mình hơn; đối với người hơn mình lại cho mình bằng.
3. Mạn quá mạn, có tâm cao mạn, đối với người hơn mình lại cho mình hơn.
4. Ngã mạn, có tâm chấp ngã, ngã sở rồi sinh ra cao mạn, dương dương tự đắc, dù không công nhiên so sánh hơn thua với người.
[Ở đây cũng có những hạng người, họ có cái tâm cao mạn khi nhìn là thấy ngay. Họ đi họ ngước cái mắt lên trời,họ coi ta đây là hơn hết không có ai bằng đâu, Mặc dầu họ không có cái tâm so với xung quanh, nhưng cái bản tính của họ nó có cái ngã mạn sẵn,cho nên họ dương dương tự đắc, đi nghênh ngang, vênh váo chỉ có ta là hơn hết , không ai bằng ta. Đó là hành tướng của ngã mạn. Không cần biết ai dầu đi trên núi cao

* Trang 417 *
device

cũng vậy, đi trên núi cũng ta đây và không ai bằng ta hết. Đó là ngã mạn.]
5. Tăng thượng mạn, chưa học, chưa tu, chưa chứng lại tự cho đã học, đã tu, đã chứng.
[Cho nên cái này trong luật nó không phạm giới.Vị đắc thượng nhơn pháp.Đắc thượng nhơn pháp đó gọi là đại vọng ngữ. Tự tăng thượng mạn là anh tăng thượng mạn, anh có cái ngã mạn của anh tự thấy như vậy thật, anh không phải là nói láo, anh co cái tâm anh thấy như vậy , anh tự thấy, đó là một cái tội mà nếu như không nhờ người khác chỉ cho thì khó mà thấy lắm.]
 
6. Tà mạn, có tâm cao mạn. Tự thị về những kiến giải và cách tu tập tà  vạy mà khinh khi lấn lướt người khác.
7. Ty liệt mạn, có tâm cao mạn, mình thua người nhiều, lại tự cho là chỉ thua chút ít, không chịu phục tùng người hơn; hoặc tự mãn với chút ít học thức, đạo đức mà không cầu tiến.
          [Thôi anh có giỏi anh tu đi, tôi căn thấp tôi tu ít cũng được. Căn cơ tôi chậm thì tôi tu vậy cũng được.Nghe qua coi như khiêm tốn lắm chứ kỳ thật là mạn chứ không phải khiêm tốn đâu, có cái ngạo trong đó. Hành tướng vi tế lắm, biết như vây để kiếm soát lại mình, chư không phải nghe vậy rồi bắt chước không có cái khiêm tốn đó thì nguy lắm. Anh giỏi anh học cho đậu, tôi lếu tôi chịu chứ biết sao giờ. Nói có vẻ khiêm tốn nhưng kỳ thật có cái ngạo trong đó. Coi cái hơn của anh không ra gì so với tôi hết.Đó là bảo thủ. Thứ hai nữa là mình thua người ta rất nhiều ,thua người ta như hòn núi so với cục đất, nhưng nói thua bằng hạt cải . Hỏi vậy khi đi thi làm bài khá không? Dạ được.Được có bằng anh kia không? Dạ cũng xem xem. Trong khi kết       

* Trang 418 *
device

quả ta điểm cao mình sút rốt mà nói xem xem. Cách xa mấy cây số mà nói cũng gần bằng anh đó. Học cho kỹ như vậy rồi minh xét trong tâm niệm mình. Khi nào có mạn khi nào không có mạn, cho nên nhiều khi mình đâu có ngờ được. Cái này hay thật chứ không phải không? Cho nên giờ nói theo tâm lý học thì nó hay lắm. Ngoài không ai phân tách kỹ như vậy đâu.]
Trong mười bản hoặc, năm thứ tham, sân, si, mạn, nghi gọi là năm độn sử, vì tính nó trì độn, có căn rễ sâu dày khó trừ. Còn năm thứ ác kiến gọi là năm lợi sử, vì tính nó mãnh lợi, không có căn rễ sâu dày, đễ đoạn trừ. Hai thứ độn sử và lợi sử này chia lại thành mê lý hoặc và mê sự hoặc. Mê lý là mê làm về đạo lý nhân quả, vô thường,vô ngã, tức đạo lý Tứ Diệu đế; mê sự là mê lầm tham đắm về sự tướng sắc thanh của vũ trụ vạn vật.
[Mê lý là mê đạo lý, mề về ý nghĩa, mê cái lý vô thường mê lý vô ngã mà lý Tứ đế, đó là mê lý. Còn mê sự tức là mê cả cái sự tướng của sự vật. Cái sự tướng của sự vật là nó như vậy.Cái kia là cái hoa,chớ nói có gì đâu mà nói nó đẹp quá. Tôi không có cái hoa đó thì ăn không yên nên tìm cách lấy cái hoa ấy cho được. Đó là mê sự. Vì vậy cho nên cái mê sự này là thuocj về tham dục, mà mê lý thuộc về vô minh. Một bên là tham ái, một bên kia là vô minh, hoặc mê sự hoặc, mê lý hoặc, mà mê sự hoặc thì độn nặng nề, còn mê lý khi ngộ được lý rồi thì hết.Mà ngộ được lý rồi nhưng chưa tu thì chưa đoạn được sự. Cho nên trong sách người ta nói lý tuy đốn ngộ sự tức tiệm trừ.Lý tuy đốn ngộ nhưng sự phải trừ lần lần.Tỷ dụ mình đi trên một con đường mà mình mê lý là mê  cái họa đồ cho nên mình lấy hướng Bắc làm hướng Nam . Khi lấy hướng Bắc làm hướng Nam rồi, thì cứ đi theo hướng Nam,ngỡ rằng đó đi về hướng Bắc. Đó là mê sự.

* Trang 419 *
device

Nhưng khi có người chỉ rõ cho biết anh đi như vậy là lạc đường rồi, khi biết lại thì minh xoay lại đi cho đúng hướng Bắc mà mình muốn đi, Nhưng tuy xoay lại mặc dầu nhưng trên đường hướng tới phía Bắc không phải dễ, không phải 1 hay 2 ngày mà phải lần lần mà đi mới tới được. Cho nên mê sự khó trừ là vậy, Vì nó độn sử, nó trì trệ khó nghe lắm, Như mình học hiểu cái lý vô thường thì dễ lắm. Nói cái vô ngã dễ lắm, nhưng ra ngoài gặp ai đá cho một cai khi đó nó nổi cái ngã ra liên. Cái đó phải tu chứ học cái lý không tu được. Cái mê sự nó khó lắm.]
Mê lý hoặc cũng gọi là kiến hoặc, có hai nghĩa:
1.Hoặc được đoạn trừ khi thấy rõ chân lý Tứ đế.
            [Mê lý Tứ đế mà sinh ra hoặc.Bây giờ đây nếu ngộ lý Tứ đế thì cái hoặc đó được trừ. Cho nên cái hoặc đó được gọi là kiến hoặc hay là mê lý hoặc.]
2. Kiến là suy lường, hoặc này do suy lường mà có.
            [Cho nên người mà không có suy lường, họ sống một cách hồn nhiên thì họ không nói sự vật này là thường hay vô thường, ngã hay vô ngã gì hết.Họ đâu có nói. Có suy lường mới nghĩ mình nói thường hay vô thường,ngã hay vô ngã, thế giới hữu biên hay vô biên, chứ nếu như không thì anh cũng không nói gì tới chuyện đó.Cái đó nó cũng như các nhà thơ cổ ở Tàu cũng có dạy:Nhật xuất nhi tác( mặt trời mọc thì đi làm, mặt trời lặn thì đi về,đào giếng thấy nước mà uống có can hệ gì ông vua. Vua không làm được gì hết.]
 
Mê sự hoặc cũng gọi là tư hoặc, tu hoặc, có hai nghĩa:
1.Hoặc chỉ được đoạn trừ bởi tư duy tu tập lý Tứ đế, chứ không phải chỉ thấy suông mà trừ được.

* Trang 420 *
device

2. Hoặc do tư duy tham đắm thế gian mà có ra.
Xem biểu đồ:



[Thành ra nhớ 10 hoặc này sau họ chia lắm chuyện.]
Trên đây, mê lý hoặc tức gọi là kiến hoặc, chia ra có 88 sử. Mê sự hoặc tức gọi là tư hoặc, chia ra 81 bậc (phẩm) giải thích như sau:
1. Mê lý hoặc (hay kiến hoặc): có 88 sử, là căn cứ vào đa số phiền não ở cõi Dục, Sắc và Vô sắc mà quy định. Khi mê lý Tứ đế ở cõi Dục thì sẽ khởi ra 32 sử; mê lý Tứ đế ở cõi Sắc thì khởi ra 28 sử; mê lý Tứ đế ở cõi Vô sắc thì khởi ra 28 sử.
32 sử ở cõi Dục là mê lý Khổ đế  khởi lên 10 sử (5 độn sử và năm lợi sử) mê lý Tập đế khởi 7 sử (trong 10 sử trừ thân kiến, biên kiến, giới cấm thủ), mê lý Diệt đế khởi lên 7 sử (như Tập đế), mê lý Đạo đế khởi lên 8 sử (tức trong 10 sử trừ Thân kiến, biên kiến).

* Trang 421 *
device

28 sử ở cõi Sắc và Vô sắc là trong số 32 sử của cõi Dục, ở cõi Sắc trừ thêm 4 phiền não sân do mê lý Tứ đế nên còn lại 28 sử. Ở cõi Vô sắc cũng vậy.
Cộng chung tất cả ba cõi có 88 sử do mê lý Tứ đế mà phát sinh, được tóm tắt trong bài tụng:
Khổ hạ cụ nhất thiết (đủ mười sử),
Tập diệt các trừ tam ( thân,biên, giới),
Đạo đế trừ nhị kiến (thân, biên),
Thượng nhị bất hành sân (như cõi Dục trừ sân).
[Cái khổ đế ở dục giới,cái cảnh thấp nhất thì mê lý Khổ đế tại nơi cảnh dục giới thì nó phát sinh ra đủ cả 10 thứ hoặc 5 độn sử và 5 lợi sử. Cho nên gọi là cụ nhất thiết. Mê lý Tứ đế ở cõi dục thì nó sẽ khởi ra 5 thứ độn sử, 5 thứ lợi sử, cọng chung là 10. Gọi là cụ nhất thiết, đủ cả 10. Tập diệt các trừ tam-còn mê cái lý Tập đế ở nơi cõi dục giới thì nói sẽ khởi ra 7 hoặc.
            Tỷ dụ như mê Tập đế cõi dục giới thì nó khởi ra 7 hoặc là 10 hoặc trên kia trừ thân kiến, biên kiến và giới cấm thủ. Mê Diệt đế ở cõi dục thì cũng khởi lên 7 hoặc là 10 hoặc trên kia trừ thân kiến, biên kiến và giới cấm thủ.Cho nên ta nói trong cái câu kệ Tập Diệt các trừ tam.Mà vì sao mê Tạp Diệt đế ở đây lại không khởi lên thân kiến mà trừ nó đi,không khởi lên biên kiến mà trừ nó đi, không  khởi lên giới cấm thủ mà trừ nó đi.Sao mê Khổ đế đủ cả khởi lên 10 hoặc mà lại mê Tập Diệt nơi có dục mà chỉ khởi lên 7 chứ không  khởi lên thân kiến,biên kiến, giới cấm thủ.Vì sao? Là vì trong Tập đế đâu có thân,Khổ đế kết quả này mới có thân,chứ Tập đế đâu có thân.mà Diệt đế đâu có thân,mà đã không có thân thì không khởi lên cái mê lầm thân kiến. Đã không có thân kiến thì không có biên 

* Trang 422 *
device

kiến và không có giới cấm thủ.Có cái thân mới tu tà giới mà gọi là giới cấm thủ, còn không có lấy đâu mà có giới cấm thủ. Có thân tu tà hạnh, tà đạo có đâu giới cấm thủ. Đạo đế trừ nhị kiến, mê cái Đạo đế ở nơi cõi dục trừ hai kiến là trừ thân kiên và biên kiên, chứ còn ở nơi Đạo đế này có ra cái giới cấm thủ, bởi giới cấm thủ thuộc về đạo, đạo là đường tu, trong đường tu chánh gọi là chánh đạo, tu tà gọi là tà đạo hay giới cấm thủ.Ba câu trên khổ hạ cụ nhất thiết, diệt trừ các tam đạo đế. Đạo đế trừ nhị kiến.Đây là nói mê cái lý Khổ Tập Diệt Đạo ở tại cõi dục, thì nó có cái hoạt khởi ra theo đó.Còn hai cõi trên thì sao? Thượng nhị bất hành sinh cũng giống như ở dưới cõi dục nhưng mà có trừ thêm sân.Nơi cái mê Khổ đế có 10 hoặc bây giờ trừ sân.Nơi cái mê Tập Diệt đế có 7 hoặc bây giờ trừ thêm sân.Mê cái Đạo đế có 8 hoặc bây giờ trừ thêm sân.Như vậy mỗi cõi có trừ thêm 4 sân nữa,mà 2 cõi thành ra 8 hoặc. Chia 88 sử là lý do như vậy đó.]
2. Mê sự: hay tu hoặc có 81 phẩm (bậc). Ở đây chia ba cõi ra làm chín địa, mỗi địa có chín bậc tu hoặc. Như vậy, 9x 9= 81 phẩm.
Cõi Dục gồm chung cả năm loài: trời,người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh ở xen lộn thành một địa gọi là ngũ thú tạp cư địa. Cõi Sắc có bốn địa là Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền. Cõi Vô sắc cũng có bốn địa: Không vô biên xứ địa, Thức vô biên xứ địa, Vô sở hữu xứ địa và Phi tưởng phi phi tưởng xứ địa.
Xem biểu đồ sau:
[Trong đồ biểu này trên cõi dục đủ tham, sân, si,mạn,Ngũ thú tạp cư có 9 phẩm cho đến Phi phi tưởng 9x9=81. Như vậy về kiến hoặc có 88 sử, về tư hoặc có 81 sử.]

* Trang 423 *
device



Như vậy, tự thể của tư hoặc ở cõi Dục có bốn thứ là tham, sân, si, mạn; ở cõi sắc có ba thứ là tham, si, mạn, ở cõi vô sắc cũng có ba thứ là tham, si, mạn. Cộng cả ba cõi thành mười thứ tư hoặc, mười tư hoặc này cộng với 88 sử thuộc kiến hoặc thành 98 sử, được gọi là căn bản phiền não. Xem biểu đồ sau:


* Trang 424 *
device

[Phẩm này thật ra toàn là chuyện của mình hết ,không phải chuyện của Phật.Tham,sân, si,mạn,nghi,ác kiến toàn là chuyện của mình hết.Nhưng mà nó rắc rối vô cùng.Chuyện của mình nhiều khi mình nói ra hiểu cũng không hết,hiểu không nỗi.Người ta nói tri bỉ tri ký bách chiến bách thắng,chừ đây mình cũng không tư kỷ làm sao bách chiến bách thắng, không thắng ai được cả. Tham,sân,si của mình chứ có phải của Phật đâu.]
Hỏi: Trong 98 phiền não căn bản đó, bao nhiêu thuộc tính bất thiện, bao nhiêu thuộc tính hữu phú vô ký?
Đáp: Các phiền não căn bản của hai cõi Sắc và Vô sắc, và thân kiến, biên kiến của cõi Dục, cùng với si tương ưng với hai cõi này khởi lên, tất cả đều thuộc tính hữu phú vô ký. Còn lại tất cả căn bản phiền não ở cõi Dục đều thuộc tính bất thiện. Hai cõi trên ở trong định, tuy vẫn còn phiền não, nhưng chúng bị ép dưới định, không đủ khả năng chiêu cảm quả dị thục khổ báo, nên chúng chỉ thuộc hữu phú vô ký.
Lại nữa, thân kiến, biên kiến của cõi Dục cùng phiền não si tương ưng với nó khởi lên, chỉ chấp lấy tự thân khởi vọng kiến ngã, ngã sở hay chấp đoạn, chấp thường... Nó không làm tổn hại ai nên thuộc tính vô ký, chứ không phải bất thiện. Bởi lẽ khi chấp thân ta là thường, thì sợ thân ta ngày sau chịu khổ, nên hiện tại cố gắng tu hành, trì giới, bố thí...để được sinh trong hàng trời, người, hưởng lạc. Khi chấp thân ta sẽ đoạn diệt thì tương lai chính thân ta cũng không còn huống gì là của cải (ngã sở), nên cũng có thể vì thế gắng tu để được giải thoát.

* Trang 425 *
device

Hỏi: Các hoặc thuộc tính bất thiện, bao nhiêu thứ là bất thiện căn, bao nhiêu thứ không phải là bất thiện căn ?.
Đáp: Bất thiện căn có ba nghĩa (Tỳ-bà-sa 11 nêu 5 nghĩa):
Tính chất chỉ là bất thiện.
Phiền não căn bản.
Làm gốc cho tất cả pháp bất thiện.
Nay trong 98 căn bản phiền não, cái được gọi là bất thiện căn là chỉ cho tất cả tham, sân, của cõi Dục cùng phiền não si thuộc tính bất thiện (không phải si thuộc hữu phú vô ký). Những phiền não khác không hội đủ ba yếu nghĩa nói trên, nên không gọi là bất thiện căn.
Hỏi: Trong 98 bản hoặc, có bao nhiêu thứ chỉ tương ưng với đệ lục ý thức và có bao nhiêu thứ tương ưng chung với cả sáu thức để khởi lên.
Đáp: 88 sử thuộc kiến hoặc và tất cả “mạn” thuộc tư hoặc chỉ nương nơi ý thức thứ sáu để khởi lên, còn tất cả phiền não thuộc tu sở đoạn, tức ba thứ tu hoặc tham, sân, si của cõi Dục, và tham, si của cõi Sắc và cõi Vô sắc đều nương chung cả sáu thức mà khởi lên. Nếu phân biệt về mười bản hoặc, thì 7 thứ là 5 ác kiến cùng “nghi, mạn” chỉ nương ý thức thứ sáu mà khởi lên; còn ba thứ tham, sân, si thì nương chung cả sáu thức mà khởi lên.
Hỏi: 10 bản hoặc tương ưng với 5 thọ khổ, lạc, ưu, hỷ, xả là thế nào?

* Trang 426 *
device

Đáp: Cứ nói riêng 10 bản hoặc của cõi Dục, tất cả đều tương ưng với xả thọ; còn đối với khổ, lạc, ưu, hỷ thì sự tương ưng không đồìng. Nếu tham đối với cảnh khả ý, thì nương cả sáu thức khởi, nên tương ưng với lạc và hỉ thọ, vì nương năm thức khởi thì có lạc thọ tương ưng, khi nương ý thức  khởi thì có hỉ thọ tương ưng. Nếu sân đối với cảnh bất khả ý, cũng nương cả sáu thức khởi, nên tương ưng với khổ và ưu thọ, vì khi nương 5 thức trước  thì có khổ thọ tương ưng, khi nương ý thức khởi thì có ưu thọ tương ưng. Nếu khi si đối với cảnh không khổ không vui, cũng nương cả 6 thức khởi, nên tương ưng với cả khổ, lạc, ưu, hỉ, thọ vì si khi nương 5 thức trước khởi, thì tương ưng với khổ hoặc lạc thọ; khi nương ý thức khởi, thì tương ưng với ưu hoặc hỷ thọ. Nếu si chỉ nương ý thức khởi tâm sầu muộn, thì chỉ tương ưng với ưu thọ. Bởi si hay do dự đối với tiền cảnh, nên sinh ưu sầu. Tà kiến chỉ nương ý thức khởi, tùy khi vui hoặc buồn mà có, tương ưng với hỉ hoặc ưu thọ. Như khi tạo ác nghiệp lại khởi lên tà kiến, cho rằng chẳng có quả báo đau khổ nên không sợ, thì khi đó có hỉ thọ tương ưng. Nếu khi tạo thiện nghiệp lại khởi lên tà kiến, cho rằng không có qủa báo phước đức gì, làm lành cũng uổng thôi, thì khi đó có ưu thọ tương ưng. Ngoài ra, 5 phiền não là mạn, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, chỉ tương ưng với hỉ thọ, vì nó nương ý thức thứ 6 khởi, chỉ vận chuyển theo tâm trạng hoan hỷ vậy.
Tóm lại, căn bản hoặc là nguyên nhân gồm cả kiến hoặc và tư hoặc. Kiến hoặc có 88 sử, tư hoặc có 81 phẩm, nhưng thật thể chung cục của tư hoặc chỉ có 10 tùy miên,

* Trang 427 *
device

đó là 5 độn sử và 5 lợi sử. Trong đó, 5 lợi sử lấy tuệ tâm sở làm thật thể, nên gom lại không quá sáu thứ. Sáu thứ tùy miên này thuộc vào những tâm sở nào trong 46 tâm sở. Xem đồ biểu sẽ rõ:



Tiết 2: Chi mạt hoặc (tùy phiền não)
Hỏi: Phiền não chi mạt như thế nào ?
Đáp:  Khi tạo nghiệp ác nơi thân, miệng, ý, bên trong nội thân không những khởi lên 10 căn bản hoặc như tham, sân, si,v.v... mà còn có 19 thứ chi mạt hoặc tùy tùng theo nó nổi lên, đó là:
1. Phóng dật: Tính phóng túng, lêu lỏng, không để ý ngăn ngừa điều dữ, không để ý làm điều thiện.
2. Giải đãi: Tính lười nhác không cố gắng trong việc bỏ ác làm lành.
3. Bất tín: Tính uế trược không tin tưởng đạo lý nhân quả chân chánh.
4. Hôn trầm: Tính hôn ám, trầm trệ, bất kham các việc lành.
5. Trạo cử: Tính dao động, không điềm tĩnh đối với cảnh vật đang tiếp xúc. 

* Trang 428 *
device

6. Vô tàm: Tính không biết tự hổ đối với những tội lỗi mình đã gây, lại không biết tùy thuận, sùng kính đối với những pháp công đức, như giới, định, tuệ và các bậc sư trưởng.
7. Vô quý: Tính không biết thẹn với người khi mình gây tội lỗi, và không biết e dè, sợ hãi các điều tội lỗi, mà các bậc cao đức thường chê bai răn dạy.
8. Phẫn: Tính nổi giận trước những sự bất bình, tổn hại, do loài vật và hoàn cảnh gây ra.
9. Phú:Tính ưa che dấu những tội lỗưi mình  làm vì sợ mất danh dự.
10. Xan: Tính keo kiệt, đắm say các tài vật và sở học có được không san xẻ cho người.
11. Tật: Tính ghen ghét, chỉ muốn tài lợi, danh dự về cả cho mình, không muốn thấy người khác có.
12. Thụy miên: Tính hôn muội uể oải.
13. Hối: Tính hối hận những điều mình đã làm. (từ số 4 đến 13 là 10 triền).
14. Não: Tính nóng nảy bực bội  không chịu nghe theo lời can dạy về các điều quấy của mình.
15. Hại: Tính hung dữ, làm những điều bức hại, đánh mắng kẻ khác.
16. Hận: Tính ngậm hờn kết oán đối với những việc đã làm cho mình nổi giận. 

* Trang 429 *
device

17. Siểm: Tính dua nịnh bợ đỡ, làm bộ tịch cúi lòn, chiều theo ý người không kể gì phẩm giá mình.
18. Cuống: Tính ưa làm mê hoặc dối trá người, mưu tính, bịa đặt, cách thức để lừa gạt sự hiểu biết của người khác.
19. Kiêu: Tính kiêu ngạo chấp nê những gì mình có cho là hơn cả. ( Từ số 14 -19 là 6 cấu uế).
Trong 19 thứ chi mạt hoặc này, 5 thứ phóng dật, bất tín, hôn trầm, trạo cử, giải đãi thuộc về đại phiền não địa pháp. Bất cứ lúc nào, hễ tâm nhiễm ô khởi lên, thì cũng có nó tương ưng khởi theo. Hai thứ vô tàm, vô quý thuộc loại đại bất thiện địa pháp, hễ tất cả tâm bất thiện khởi lên, thì đều có nó tương ưng khởi theo. 10 thứ từ phẩn (số 8) đến kiêu (số 19); trừ hối và thụy miên (số 12, 13) thuộc tiểu phiền não địa pháp. Hai thứ hối, miên thuộc bất định địa pháp.
19 chi mạt hoặc này cũng gọi là tùy phiền não. Vì sao? Vì nó tùy tùng căn bản phiền não gây não loạn thân tâm chúng sinh nên gọi là tùy phiền não.
Hỏi: 10 tùy phiền não đều có mặt ở ba cõi ư ?
Đáp: Hai thứ cuống và siểm chỉ giới hạn ở cõi Dục và Sơ thiền cõi Sắc; 6 thứ phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm, trạo cử, kiêu ở cả ba cõi đều có. Riêng cõi Dục thì có đủ cả 19 thứ.
Hỏi: Phân biệt 19 thứ tùy phiền não trong ba cõi về ba tính thiện, ác và vô ký như thế nào?

* Trang 430 *
device

Đáp: Tại cõi Dục, 6 thứ phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm, trạo cử và kiêu thông cả hai tính bất thiện và hữu phú vô ký. Các thứ còn lại đều thuộc tính bất thiện. Tại cõi Sắc 8 thứ là phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm, trạo cử, kiêu, cuống, siểm và tại cõi Vô sắc có 6 thứ là phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm, trạo cử, kiêu chỉ thuộc tính hữu phú vô ký.
Hỏi: Các căn bản phiền não được đoạn trừ do kiến đạo và tu đạo, còn tùy phiền não này được đoạn trừ như thế nào ?
Đáp: 8 thứ phóng dật, bất tín, hôn trầm, giải đãi, trạo cử, vô tàm, vô quý, thùy miên được đoạn trừ do cả kiến đạo và tu đạo. Nghĩa là thứ nào tương ưng với căn bản kiến hoặc thì được đoạn trừ bởi kiến đạo; thứ nào tương ưng với căn bản tu hoặc thì do tu đạo đoạn trừ. Còn lại 11 thứ kia là những thứ tự do phát khởi, không tùy thuộc vào phiền não khác, chỉ tương ưng với vô minh  thôi, nên những thứ này chỉ do tu đạo mới đoạn được.
Hỏi: Tâm vương có 6, từ nhãn thức đến ý thức, 19 tùy phiền não này, bao nhiêu thứ khởi theo ý thức, bao nhiêu thứ khởi theo cả 6 thức ?
Đáp: Có 7 thứ là phóng dật, bất tín, giải đãi, hôn trầm, trạo cử, vô tàm, vô quý cùng khởi theo cả sáu thức. 12 thứ còn lại chỉ khởi theo ý thức. Tại sao vậy? Bởi 5 thứ phóng dật,bất tín, hôn trầm, giải đãi, trạo cử, thuộc đại phiền não địa pháp, nó thông khắp tất cả nhiễm tâm, nên bất cứ một thức nào trong 6 thức khi khởi tâm ô nhiễm, thì nhất định

* Trang 431 *
device

có nó khởi theo. Còn vô tàm vô quý thuộc đại bất thiện địa pháp, nó thông khắp tất cả tâm bất thiện, nên bất cứ khi nào tâm bất thiện khởi lên, nhất định đều có nó khởi theo. Riêng 10 thứ từ phần (số 8) đến (số 19) trừ hối, miên (số 12, 13) thuộc tiểu phiền não địa pháp, nó có đủ bốn tính cách:
- Chỉ do tu mới đoạn được.
- Chỉ khởi theo ý thức.
- Chỉ tương ưng với vô minh.
- Riêng biệt nhau hiện khởi.
Như vậy, 10 thứ này chỉ khởi lên theo ý thức. Hối và miên thuộc bất định địa pháp, hối thì dùng tâm phân biệt những điều đã làm, miên là tâm hôn muội giản lược, nên hai thứ này cũng chỉ khởi lên theo ý thức, chứ không khởi lên theo 5 thức trước.
Hỏi: 19 tùy phiền não này tương ưng với 5 thọ như thế nào?
Đáp: Cả 19 thứ đều tương ưng với xả thọ. Nhưng đối với khổ thọ, lạc thọ, ưu thọ, hỷ thọ thì khác. 6 thứ phóng dật, bất tín, hôn trầm, giải đãi, vô tàm, vô quý, vì khởi theo với cả 5 thức, nên tương ưng với cả bốn thọ, khổ, lạc, ưu, hỷ. Cò 6 thứ phẫn, hận, hại, não, tật, hối vì chỉ khởi theo ý thức, nên chỉ tương ưng với ưu thọ, hỷ thọ. Vì nếu không cùng với tâm hoan hỷ  mà siểm, cuống, phú miên thì tương ưng với hỷ thọ, còn khi với tâm u buồn mà siểm, cuống, phú miên thì tương ưng với ưu thọ. Riêng một thứ xan chỉ

* Trang 432 *
device

khởi theo ý thức tâm vui thích, nên chỉ tương ưng với hỷ thọ. Đây là kể từ Nhị thiền trở xuống. Nếu ở Tam thiền chỉ tương ưng với lạc thọ, vì tại Tam thiền cả giới lẫn địa đều cao hơn, có sự hoan hỷ tột bực, nên chỉ có lạc thọ mà thôi.    

Phiền não phát sinh
  Hỏi: Các phiền não vừa nêu làm thế nào khởi lên được?
Đáp: Do ba nhân duyên các phiền não phát khởi, đó là sức nhân, sức cảnh giới, và sức Gia hạnh.
1. Do sức nhân: Như trong khi khởi lên lòng tham là do hạt giống tham sẵn có trong tâm chưa bị dứt, chưa biết khắp đủ (vị đoạn, vị biến tri). Nếu đã dứt và đã biết đủ thì gọi là dĩ đoạn, dĩ biến tri.
[Biết chi mà biết khắp đủ?Vị đoạn là các phiền não hạt giống tham, sân,si đó nó còn đó,chưa đoạn hết gọi là vị đoạn.Mà vì sao kêu vị đoạn?Là vì chưa tu.Hai nữa là nhưng phiền não đó chưa đoạn được.Vì sao chưa đoạn?Vì vị biến tri,vì chưa biết đủ,chưa biết đủ cái gì?Chưa biết đủ đạo lý Tứ đế, cho nên mới sinh ra cái hoặc đó.Vị đoạn là chưa dứt hêt.Vị biến tri là chưa biết đủ hết cái đạo lý Tứ đé cho nên gọi là vị biến tri.Vị đoạn là chưa dứt hết cái phiền não đó, chưa tu.]
2. Do cảnh giới: Tức là sự vật đối với thích hợp lòng tham hiện ra trước mắt.
[Anh có lòng tham rất lớn nhưng đem để trước mắt anh một cục phân bò thối,chắc anh cũng không chịu lấy đâu.Năn nĩ hết sức anh cũng không chịu lấy đâu, vì nó không thích hợp. Tham               

* Trang 433 *
device

thì tham nhưng điều đó không thích hợp.Cho nên cảnh hắn không thích hợp, đó là do cảnh giới.
3. Do gia hạnh: Tức là sự phân biệt sai lệch đối tượng sự vật (phi lý tác ý, nếu tác ý lạc thanh tịnh thì gọi là như lý tác ý).
[Phi lý tác ý, chữ này chỗ khác gọi là vô minh.Tác ý đây là tà tư duy.Đối với sự vật đó mà mình tác ý không đúng với nó, không đúng với cái thực tính của nó nên kêu là phi lý tác ý.Gặp cục vảng dởm ở giữa đường,anh nao cũng dành nhau rồi đập lộn nhau u trán, nhưng khi đưa tới bán cho thợ, thợ không thèm ngó tới.Họ chê vàng giả mua làm gì.Đập bể đầu u óc rồi khi đó mới biết vàng dỏm,vì sao?Vì phi lý tác ý.Nếu cục vàng giả đó mà tác ý cho đúng thì đến nói gì phải đập nhau u óc, bể đầu.Đó là đối sự vật phi lý tác ý. Tất cả sự vật này đối với chúng ta đều phi lý tác ý hết.Có cái đồng hồ đẹp, mấy bữa nay chạy tốt, đúng giờ. Khi nao ngủ dậy ngồi thiền cũng đúng giờ hết.Bữa nay không biết vì sao, có lẽ nói muốn đồng tình với chủ nhà hay sao mà nó chạy sai hết.Đến khi thầy la mới đem đồng hồ ra coi thì mới 3 giờ đâu phải 4 giờ rưỡi mà dậy ngồi thiền. Té ra nó đứng mất. Khi đó mới đem ra sửa,thợ nói hư cái này hư cái kia, một chặp nổi giận liền vứt cái đồng hồ đi mất.Vậy là phi lý tác ý mà sinh sự ra.Thật ra,nó không hư chi hết, chẳng qua vì 2 cái kim nó dính nhau một chút, sờ sờ ra trước mắt mà không biết,mà cứ nói nó hư trục,nọ kia,cái đó nó cũng như tất cả sự vật trùng trùng duyên khởi giữa này,nó trước mắt chúng ta nhưng mà chỉ có người ngộ đạo như đức Phật mới thấy rõ nguyên do nằm đâu.Cái kết cấu như thế nào?Sự duyên khởi ra sao?Chứ mình ngó sờ sờ trước mặt mà không biết,ngó sờ sờ 2 cái kim hắn gác

* Trang 434 *
device

ngó sờ sờ 2 cái kim hắn gác nhau đó mà mình không biết, mà cứ đem nhờ thợ sửa. Đến ông thợ nói đồng hồ này hư nặng để sửa hơi lâu một chút, thì mình cũng chịu thôi.Mai mốt tới lấy ông sờ tay nhích cái kim một chút là nó chạy, không hư chi hêt.Nhưng đối với mình là quan trọng.Vì sao?Vì con mắt mình mù.Cho nên muôn sự muôn vật cái duyên sờ sờ trước mắt mà mình không thấy,nên suy định lạc hướng cả.Và làm theo cái lạc hướng đó.Nhưng đối với Phật,Ngài đối với sự vật nhìn rõ hết như thợ sửa đồng hồ ngó vào là biết ngay.Do đó đạo lý nhân quả mình cắt nghĩa không đúng là vì vậy.Sao người đó tôi thây làm lành ăn ở tử tế như vậy mà nghèo xơ nghèo xác, không cất đầu lên nổi, còn anhkia ăn hô nói thừa đủ kiểu đủ chứng mà tiền của lại phất lên phơi phới là vì sao?Nhân quả chỗ nào?Đó là mình chỉ ngó một khía cạnh thôi, còn nhiều khía cạnh khác như kim đồng hồ gác nhau,mình đâu có thấy.Mình không thấy kim đồng hồ gác nhau nên nói không đúng được.Cho nên cái nhơn quả nó sờ sờ ra đó mà mình ngó không thấy nên mình cắt nghĩa không đúng.Bởi vì nhơn cọng với duyên thành quả,mà giữa đó biết bao nhiêu duyên, chứ không phải một cái nhơn rồi đưa đến một cái quả.Không phải như vậy,mà biết bao nhiêu duyên làm sao mà mình rõ hết tất cả các duyên đó để định nghĩa cho đúng cái nhân quả.Cho nên muốn cắt nghĩa cho rõ lý nhơn quả là phải biết cho rõ lý nhân duyên.Mà hiểu rõ lý nhơn duyên tức là Phật.Nhược năng kiến pháp tức kiến ngã.Thấy pháp là thấy nhơn duyên.Cho nên thấy pháp là thấy ta.]
Sức nhân là hạt giống nhân, cảnh vật đối tượng và phi lý tác ý là duyên, tức đủ nhân duyên thì các phiền não phát sinh.  

* Trang 435 *
device

Tiết 3 : Các phiền não (Tạp minh chư phiền não)
Tất cả phiền não đều gom lại trong hai loại là căn bản và chi mạt. Thể tính của nó, như đã nói, nhưng trong các kinh luận lại thường nêu ra ba lậu, bốn bộc lưu, bốn ách, bốn thủ, năm thuận hạ phần kiết sử, năm thuận thượng phần kiết sử, chín kiết, mười triền, sáu cấu, năm cái. Những thứ này chẳng phải nằm ngoài hai loại căn bản và chi mạt phiền não ?
[Đó là thấy rõ chuyện các nhà đem tất cả cái hoặc mà Phật nói rải rác trong các kinh rồi hộ thống lại. Vậy thì các cái hoặc Phật nói ba lậu bốn bộc lưu... năm cái thì những thứ đó có dính líu gì đến cái 5 căn bản hoặc 5 chi mạc hoặc này. Với kiến hoặc tư hoặc này, quan hệ gì đem vào. Trong Nikàya có nói rõ rồi. Sao gọi hạ phần sao gọi thượng phần? Trong này cũng có cắt nghĩa rồi.]
Đây, trước biện minh tự thể của chúng, sau đó mới nói rõ chúng thuộc vào căn bản và chi mạt như thế nào ?
1. Ba lậu: Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Ba loại lậu này làm cho loài hữu tình lưu chuyển trong vòng sinh tử, lại thường tiết lậu các xấu xa ô nhiễm ra ở sáu căn không biết khi nào dứt.
a. Dục lậu: Chỉ cho hoặc lậu ở cõi dục. Lấy 41 hoặc thuộc cõi Dục làm tự tính. 41 hoặc ấy lấy 36 căn bản hoặc thuộc cõi Dục (Xem Biểu đồ 98 sử, phần cõi Dục ở đoạn trước), trừ 5 phiền não si trong 5 bộ pháp (5 bộ pháp là các lậu hoặc đoạn trừ do kiến đạo về Khổ đế, Tập đế, Diệt đế,

* Trang 436 *
device

Đạo đế là 4, cộng với các lậu hoặc đoạn trừ do tu đạo Là 5). Còn lại 31. Cộng thêm 10 triền cái thuộc chi mạt hoặc là vô tàm, vô quý, thụy miên, trạo cử, hôn trầm, xan, tật, phẫn, phú, hối thành 4 1ậu hoặc.
b. Hữu lậu: Chỉ các lậu hoặc ở cõi Sắc và Vô sắc. Lấy 52 hoặc của cõi này làm tự tính. 52 hoặc là lấy 31 hoặc của cõi Sắc (xem đồ biểu 98 sử ở trên, phần cõi Sắc) trừ 5 phiền não si của trong bộ pháp, còn lại 26, như vậy 26 + 26 = 52. Những phiền não của cõi trên gọi là hữu lậu vì có ba tánh cách:
(a) Tính hữu phú vô ký.
(b) Đồng chuyển hiện bên trong, vì đây đa phần duyên định và nội thân mà phát hiện, chứ ít duyên ngoại sắc như cảnh Dục.
(c) Đồng nương định địa phát khởi (xem đồ biểu 9 - phần Cõi Sắc và Vô sắc trên).
c. Vô minh lậu: Lấy 51 phiền não si khởi lên ở cả ba cõi làm tự tính. Trong tất cả điều ác, tách riêng si thành một lậu, vì si là cội gốc sanh tử trong ba cõi.
2. Bốn bộc lưu: Bốn dòng nước cuốn, là dục lưu, hữu lưu, kiến lưu và vô minh lưu. Tính nó hay nhận chìm chúng sinh, nhận chìm pháp lành, nên gọi là bộc lưu.
a. Dục bộc lưu: Chỉ phiền não thuộc cõi Dục, thể nó có 29, tức lấy 41 hoặc thuộc lậu, trừ đi 5 kiến Khổ đế, 2 kiến thuộc Tập đế, 3 kiến thuộc Diệt đế, 3 kiến thuộc Đạo đế, ở cõi Dục (cộng thành 12 kiến). Vậy, 41 - 12 = 29 hoặc, gọi đó là dục bộc lưu.

* Trang 437 *
device

b. Hữu bộc lưu: Chỉ những phiền não ở hai cõi Sắc và Vô sắc, tự thể nó có 28, tức lấy 52 hoặc thuộc hữu lậu trên kia, trừ đi 24 kiến của cõi Sắc và Vô sắc, còn lại 28 hoặc, gọi đó là hữu bộc lưu.
c. Kiến bộc lưu: Chỉ tất cả các tâm khởi lên bởi mê 5 bộ pháp (kiến đạo Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế là 4, thêm tu đạo là 5) cả trong ba cõi.
Thể của nó có 36 kiến, và nó rất nhạy bén, nên từ trong các hoặc lậu tách riêng nó ra thành một bộc lưu.
d. Vô minh bộc lưu: Tức 15 phiền não si khởi lên bởi mê 5 bộ pháp trong ba cõi, tương đồng với vô minh.
3. Bốn ách: Là dục ách, hữu ách, kiến ách, vô minh ách. Hay buộc loài hữu tình vào dưới ách các sự khổ. Tự thể của nó cũng giống như bốn bộc lưu nói trên.
4. Bốn thủ: Dục thủ, ngã ngữ thủ, giới cấm thủ, kiến thủ.
a.Dục thủ: Tham dục thủ trước đối với 5 trần sắc, thanh, hương, vị, xúc và nó là phiền não thuộc cõi Dục.Tự thể nó có 34 thứ, tức là 24 căn bản phiền não thuộc cõi Dục, cộng thêm mười triền là vô tàm, vô quý..., thành ra 34. 24 căn bản phiền não đây là trong 5 bộ pháp đều có tham, sân, si, mạn nhân thành 20, cộng thêm 4 phiền não nghi vì mê bốn đế, thành 34.
b.Ngã ngữ thủ: Chỉ cho căn bản hoặc của hai cõi trên. Tự thể nó có 38, tức là tham, si, mạn trong 5 bộ pháp của hai cõi trên, nhân thành 30. Cộng thêm 8 phiền não nghi bởi                                                                  

* Trang 438 *
device

mê bốn đế ở hai cõi trên thành 38. Ngã ngữ chỉ nội thân. Các phiền não của hai cõi trên phát sinh không phải duyên theo ngoại cảnh mà là duyên  theo nội thân, nhưng nội thân vốn không có thật ngã, chỉ có ngã trên danh ngôn. Chấp thủ cái ngã danh ngôn đó gọi là ngã ngữ thủ.
c. Giới cấm thủ: Là thứ phiền não có ở cả ba cõi. Tự thể nó có 6, tức giới cấm thủ trong Khổ đế và Đạo đế ở cả ba cõi. Nhưng vì sao lại lập riêng thứ này? Vì giới cấm thủ có nghĩa là phi đạo mà chấp là đạo, rất trở ngại cho thánh đạo, lại làm cho kẽ tại gia và xuất gia đều bị lầm gạt.
d.Kiến thủ : Tự thể nó là 30 kiến, tức lấy 36 kiến của ba cõi trừ đi 6 giới cấm thủ nơi Khổ đế và Đạo đế của ba cõi.
5. Năm thuận hạ phần kết : Là tham, sân, thân kiến, giới cấm thủ, nghi.
- Tham: Chỉ tâm tham ái ở cõi Dục. Tự thể nó có 5, tức phiền não tham trong 5 bộ pháp của cõi Dục.
- Sân: Tự thể nó có 5 tức 5 phiền não sân trong 5 bộ pháp thuộc cõi Dục.
- Thân kiến: Tự thể nó có 3, tức thân kiến được đoạn trừ khi thấy Khổ đế của ba cõi.
- Giới cấm thủ: Tự thể nó là 6 giới ở ba cõi được đoạn trừ khi thấy Khổ đế và Đạo đế của ba cõi.
- Nghi: Tự thể nó có 11, chỉ cho 11 nghi ở ba cõi, được đoạn trừ khi thấy lý Tứ đế.

* Trang 439 *
device

- Kiết : Là phiền não, 5 thứ này gọi là thuận hạ phần vì hai lẽ:
a. Hạ là chỉ cõi Dục vì ở dưới hai cõi Sắc, Vô sắc, mà dục là một phần trong ba cõi, nên gọi là hạ phần. 5 thứ này có tính thuận hợp lôi kéo  chúng sinh vào trong cõi Dục, nếu có dứt trừ tham sân và được sinh cõi Sắc, thì ba thứ thân kiến, giới cấm thủ, nghi vẫn lôi kéo phải sinh lại cõi Dục. Ví như kẻ bị nhốt ngục, trốn thoát khỏi hai người giữ ngục vòng trong, lại bị ba kẻ tuần phòng vòng ngoài bắt đem giam lại.
b. 5 thứ này khởi lên và được đoạn trừ do hàng hạ nhân là kẻ phàm phu dị sinh và Dự lưu, Nhất lai.
6. Năm thuận thượng phần kết: Là sắc tham, vô sắc tham, trạo cử, mạn, vô minh.
a. Sắc tham: Là tham ái về cõi Sắc, tự thể nó chỉ có một, đó là lòng tham ái cõi Sắc, được đoạn trừ khi tu Tứ đế.
b. Vô sắc tham: Là lòng tham ái về cõi Vô sắc, tự thể nó cũng chỉ có một như trên.
c. Trạo cử : Chỉ cho chi mạt phiền não thuộc cõi Sắc và Vô sắc, tự thể nó có hai, tức hai trạo cử của hai cõi trên, được đoạn trừ khi tu Tứ đế.
d. Mạn: Chỉ cho phiền não của hai cõi trên, tức hai mạn của hai cõi trên, chỉ nhờ tu đạo mới dứt trừ.
đ. Vô minh: Chỉ phiền não si của hai cõi trên.

* Trang 440 *
device

Thuận thượng phần kết cũng vì do hai lẽ:
a. Hai cõi Sắc, Vô sắc ở trên và một phần trong ba cõi nên gọi là thượng phần. 5 thứ phiền não nầy theo cõi trên, buộc chúng sinh sinh vào hai cõi trên, chứ không làm chúng sinh sinh xuống cõi Dục, cũng không làm cho được giải thoát khỏi ba cõi.
b. Năm thứ này được khởi lên và đoạn trừ do hàng thượng nhân, tức hàng Thánh giả Bất hoàn, chứ không phải hàng phàm phu, Dự lưu, Nhất lai, vì hai bậc này còn phải sinh lại xuống cõi Dục. Vì hai lẽ đó mà gọi là thượng thuận phần kết.
7. Chín kết: Đó là ái, nhuế, mạn, vô minh, kiến, thủ, nghi, tật, xan. Vì nó hay ràng buộc chúng sinh dính liền với sự khổ ở cõi Dục, khó lìa ra được, nên gọi là kiết. Trong đây, kiến kiết chỉ cho thân kiến, biên kiến, tà kiến; thủ kiết chỉ cho kiến thủ, giới cấm thủ. Hai thủ này là năng chấp thủ, còn ba kiến kia là bị chấp thủ. Do đó, 5 ác kiến lại chia làm hai kiến kiết và thủ kiết.
Hỏi: Trong các tùy phiền não, tại sao chỉ lập  xan và tật làm kiết ?
Đáp: Vì xan và tật có tính cách quá xấu sau đây:
1. Thường hiện hành.
2. Làm nguyên nhân cho nghèo hèn (Xan làm nguyên nhân cho nghèo, tật làm nguyên nhân cho hèn).
[Có người nghèo mà không hèn, có người sang mà không giàu, chênh lệch nhau. Sang nhưng không giàu là bởi anh không                              

* Trang 441 *
device

có tật mà anh có xan. Ngược lại anh kia giàu nhưng hèn là bởi anh không có xan mà anh có tật. Tật là ganh tỵ, ganh ghét. Bất nại tha vinh, không chấp nhận, không ưa cái chuyện của người khác. Sự hiển vinh của người khác.]
3. Khắp làm tỏ rõ tùy hoặc, tức chính tật tương ưng với ưu làm cho tùy hoặc “lo lắng” (thích) tỏ rõ cùng khắp; xan tương ưng với hỷ làm cho tùy hoặc “hân hoan” tỏ rõ cùng khắp.
4. Làm não loạn hai chúng tại gia và xuất gia.Tại gia bị xan tật tài sản làm não loạn; xuất gia bị xan tật giáo pháp làm não loạn.
5. Làm não loạn đức thù thắng của hàng nhân, thiên.
6. Làm não loạn chúng bạn mình và chúng bạn người; xan làm não loạn chúng bạn mình; tật làm não loạn chúng bạn người.
8. Mười triền: Là mười thứ trói buộc chúng sinh vào ngục sinh tử, và làm nhân khởi lên các hành động ác, do đó khiến chúng sinh bị trói buộc vào đường ác, nên gọi là triền. Nhưng nói rộng  thì tất cả phiền não, dù là căn bản hay chi mạt, đều gọi là triền được cả. Nên cũng có chỗ gọi tham, sân, si là 3 triền.
10 triền là vô tàm, vô quý, tật, xan, hối, miên, trạo cử, hôn trầm, phẫn, phú. Nó là chi mạt hoặc từ căn bản hoặc phát sinh; như vô tàm, xan, trạo cử là từ tham sinh; vô quý, tùy miên, hôn trầm là từ vô minh sinh, tật và phẫn từ sân sinh; hối là ố tác từ nghi sinh; phú từ si hoăc từ cả tham và nghi sinh. 

* Trang 442 *
device

9. Sáu cấu: Cấu là nhơ bẩn cũng là tên khác của phiền não. Sáu cấu là não, hại, hận, siểm, cuống, kiêu. Cuống và kiêu từ tham sinh, hại và hận từ sân sinh. Não từ kiến thủ sinh. Siểm từ các kiến sinh.
10. Năm cái: Với các phiền não và tùy phiền não nói trên, có một lúc Phật gọi theo cách khác là cái. Gồm có 5 thứ: tham dục, sân nhuế, hôn miên, trạo hối, nghi. Năm thứ này thường che lấp tâm tánh, ngăn che Thánh đạo, chướng ngại định tuệ, không phát sanh được các thiện pháp, không khai mở được thiện tâm thanh tịnh, nên gọi là cái. Nó chỉ có ở cõi Dục, không có ở hai cõi trên  vì nó thuần là phiền não bất thiện, mà hai cõi trên thì không có bất thiện. Mặc dù có chỗ nói tự thể của ba thứ hôn trầm, trạo cử, nghi thông cả ba cõi, song ở đây nói nó chỉ có ở cõi Dục, vì nó có hai thứ tùy miên đi kèm với hôn trầm, hối đi kèm với trạo cử, nên nó trở nên mạnh đủ khả năng che lấp (cái) và chỉ có ở cõi Dục. Bởi với tham dục thì tu bất tịnh quán đối trị, với sân nhuế thì tu từ bi quán đối trị, với nghi thì tu nhân duyên quán đối trị, hôn trầm vì có tính cách hôn ám uể oải nên tu quang minh tưởng để đối trị, trạo hối vì có tính không tịch tịnh nên tu xa-ma-tha (chỉ) để đối trị.
Tóm lại, 4 lậu, 4 bộc lưu, 4 ách v.v...tuy có nhiều thứ nhưng cũng đều từ căn bản hoặc hoặc chi mạt hoặc tùy nghi chia ra hay hợp lại với những tên gọi sai khác theo tính chất của chúng, chứ không phải chúng tách  ngoài căn bản hoặc và chi mạt hoặc mà có được.
Những phiền não trên thường trói buộc chúng sinh trong ba cõi suốt qua ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai.

* Trang 443 *
device

Hỏi: Nói phiền não trói buộc chúng sinh trong ba đời như vậy thì quá khứ và vị lai thật có như hiện tại hay không thật có mà có thể có sự trói buộc đó ? [Là bởi vì phiền não trói buộc chúng sinh,nó phải chỉ trói buộc trong hiên tại mà quá khứ nó cũng trói buộc,vị lai nó cũng trói buộc.Vậy thì quá khứ,vị lai có thực hay không thực có mà trói buộc.Vô lẽ không thực có như lông rùa sừng thỏ thì buộc được ai?Lông rùa có buộc được ai không?Sừng thỏ có đánh được ai không?Đó là câu hỏi.] Nếu pháp quá khứ vị lai là thật có, tất nó có mãi mãi, vậy nên nói nó là thường?
[Nói thường tất nhiên trái với ý trong kinh.Phật nói vạn pháp vô thường thì nói làm sao? Như vậy nói không có cũng được, nói có cũng không được,ta phải nói sao đây?Nói không có thì trói buộc cái gì?Lấy cái gì trói buộc?Còn nói có thì nó thường.Thường tức nhiên nghịch lý, trái vói lẽ vô thường Phật nói thì sao?Cho nên các vị thiên sư hay dạy chúng ta thôi ngậm miệng đừng nói nữa.Nói ngã nào nó cũng kẹt hết.] Nếu thật là không thì đâu có thể có việc trói buộc và bị trói buộc cùng sự thoát ly trói buộc?
[Cho nên nếu không là không có vái việc trói buộc, và không có cái việc bị trói buộc.Tức không có vái việc phiền não trói buộc và không có cái việc gị bị trói buộc hết.Tất nhiên là không có cái ngũ uẩn chung sinh trói buộc ( sở hệ sự) là cái việc bị trói buộc.Phiền não là năng trói buộc mà ngũ uẩn chúng sinh là bị trói buộc, đó là năng và sở và cái thứ ba là thoát lý sự trói buộc đó để chứng giải thoát.Cho nên nếu nói không thì cả 3 cái đó đều không có.Không có cái năng trói buộc và không có cái sở trói buộc,mà đã không có năng có sở thì cũng không có                 

* Trang 444 *
device

cái nghĩa thoát ly, cái gì gọi là giải thoát Niết-bàn hết, thành ra không hết.Giải thoát Niết-bàn cũng không có.]
 
 Nói cách khác nếu pháp không thật có thì không có luân hồi và sự giải thoát luân hồi?
[Không thật có thì có luân hồi gì,giải thoát luân hồi gì,cái này mình ngồi trong cái phạm vi Hữu bộ này mình noi như thế này được, còn các thiền sư ông nói không luân hồi không Niết-bàn chi hết.Sanh tử tức Niết-bàn, Niết-bàn sanh tử đặng không hoa. Niết-bàn sanh tử như không hoa thôi.]
Đáp: Các pháp trong ba đời thật có hay thật không đã trở thành vấn đề tranh luận gay gắt giữa các bộ phái. Nổi bậc nhất là Hữu bộ và Kinh bộ. Hữu bộ chủ trương “ba đời thật có”, “pháp thể hằng có” và trưng dẫn kinh giáo và chính lý để làm chứng.
[Dẫn kinh là một dẫn chứng là hai,nói cách khác là kinh chứng và lý chứng, hay giác chứng và lý chứng.Kinh tức là giáo,mà lý tức là nghĩa.Có những cái không phải từ trong kinh nhưng mà lý lẽ nó vậy, cái nghĩa nó vậy.Thành giờ đây ông mới dẫn kinh chứng hay giáo chứng và lý chứng,tương dẫn kinh giáo và chánh lý để làm chứng.]
Ngược lại Kinh bộ chủ trương “Quá, vị không thật thể, hiện tại thật có” [Nhưng mà các vật có hiện tại đây cũng có trong từng sát na chứ không phải là cái thật có liên lụy, thật có trong từng sát na, thì cũng có thể cho rằng cái nghĩa này khác với triết học thế gian bây giờ họ cho là hữu thể.Có thể cái hữu thể của họ là vĩnh hằng.Nhưng đây cũng hữu thể nhưng hữu thể trong từng sát na,nó có thực hữu trong từng sát na, chứ không        

* Trang 445 *
device

phải thường hằng.Mà từng sát na trong hiện tại,còn ông kinh bộ,ông chấp nhân quá khứ vị lai thật hữu.Trong khi ông Hữu bộ thì ông bám chặt cái điều đó] cũng trưng dẫn kinh giáo và chính lý để làm chứng. Hữu bộ đã có những dẫn chứng sau đây:
Dẫn chứng 1: Kinh Tạp A-hàm cuốn 3 nói: “Bấy giờ Thế Tôn cáo chư Tỷ-kheo: Sắc quá khứ, vị lai còn vô thường, huống là sắc hiện tại? Thánh đệ tử đa văn, quán sát như vậy xong, không tiếc nuối sắc quá khứ, không mong cầu sắc vị lai, đối với sắc hiện tại thì nhàm chán xa lìa, muốn dứt trừ để tịch tịnh. Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy”. Và luận Chính lý đã giải rõ câu này như sau:” Đức Thế Tôn bảo sắc quá khứ, vị lai còn vô thường như vậy, huống gì sức hiện tại, nếu quán sát rõ được vô thường như vậy, thời Thánh đệ tử đa văn đối sắc quá khứ mới siêng tu nhàm chán dứt trừ tâm tiếc nuối, đối với sắc vị lai mới siêng tu để dứt trừ tâm mong cầu, và đối với sắc hiện tại thì siêng tu để nhàm chán xa lìa. Nếu sắc quá khứ không thật có thì Thánh đệ tử đa văn không nên đối với sắc quá khứ siêng tu yếm xả, nhưng vì sắc quá khứ là thật có, Thánh đệ tử đa văn mới nên siêng tu yếm xả, nếu sắc vị lai không thật có, thì Thánh đệ tử đa văn không nên siêng tu để dứt tâm mong cầu đối với sắc vị lai; nhưng vì sắc vị lai là thật có, Thánh đệ tử đa văn mới nên siêng tu để dứt tâm mong cầu đối với sắc vị lai”. Do đó biết sắc quá khứ vị lai là không thật có.
[Phật nói rõ ràng đối với sắc quá khứ nên tu,biết nó vô thường thì nên lo tu đừng có tham nó. Hiện tại vị lai cũng vậy.               

* Trang 446 *
device

Còn quá khứ thật sắc không có, vị thật sắc không có mắc gì Phật nói vậy.]                                                   
Dẫn chứng 2: “Vì hai duyên sinh”. Khi tâm thức sinh khởi phải dựa vào hai duyên mới sinh khởi được như kinh Tạp A-hàm cuốn 8 nói:” Thế Tôn cáo Tỷ-kheo: Có hai nhân duyên sinh thức, những gì là hai? Đó là mắt và sắc, tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp”. Nếu giả sử quá khứ vị lai không thật có thì ý thức duyên quá khứ vị lai thiếu mất hai trợ duyên, có nghĩa là ý căn làm chỗ dựa cho ý thức vốn ở quá khứ, nếu quá khứ không có, tự nhiên thiếu mất cái trợ duyên của ý căn; còn pháp trần là đối tượng của ý thức nó vốn thông cả quá khứ, vị lai,nếu quá khứ vị lai không có, tự nhiên ý thức thiếu mất cái trợ duyên của pháp trần. Hai duyên đều thiếu, thời ý thức nương ý căn duyên pháp trần không sinh khởi được. Nhưng sự thật không như vậy, cho nên biết quá khứ vị lai không thật có.
Dẫn chứng 3: “Vì thức có cảnh”. Khi sự nhận thức sinh khởi, nhất định phải có cảnh làm đối tượng. Trước thấy có cảnh sau thức mới sinh, như đức Thế Tôn nói:” Mỗi thức nhận biết mỗi cảnh tượng, gọi là thức thủ uẩn”. Cảnh tượng được biết đó là gì ? Đó là sắc cho đến pháp. Chứ đức Thế Tôn không nói chỉ có thức mà không có cảnh. Cho nên, nên biết nhất định có cảnh mới có thức duyên cảnh quá khứ, vị lai, nếu cảnh quá khứ, vị lai thật không có, thời thức không có đối tượng để duyên. Đối tượng được duyên đã không có thì thức cũng không có. Còn như đã thừa nhận thức là có thật thì đương nhiên phải thừa nhận thật có cảnh                                

* Trang 447 *
device

quá khứ, vị lai, chứ không thể mặt này thì phủ nhận sự thật có cảnh quá khứ, vị lai, mặt khác lại khẳng định có thức duyên cảnh quá khứ, vị lai.
[Giờ các vị có duyên với cảnh quá khứ không? Có. Có duyên với cảnh vị lai không ? Có.Vậy tức nhiên cảnh quá khứ vị lai có sao không ? Không có lấy đâu mà duyên.Nếu không thừa nhân cảnh quá khứ vị lai có thì cũng đừng thừa nhận cái thức duyên quá khứ vị lai có, mà đã thừa nhận cái duyên quá khứ vị lai có thì cũng thừa nhân cái cảnh quá khứ vị lai có. Đó là lý luận của câu này.]
Dẫn chứng 4: “Vì nghiệp có quả báo”. Ta tạo nghiệp lành dữ, nghiệp đó đã lặng về quá khứ, [Thí dụ có đánh lộn thì đánh một chặp thôi,vô lẽ đánh suốt cả một ngày luôn à.Nhưng đánh một chặp rồi nghĩ đánh đi nữa thì cái nghiệp đánh lộn cũng còn đó,vô lẽ nghĩ đánh là hết nghiệp đánh lộn được.Nếu nghĩ rồi mà không có cái nghiệp đó nữa thì chắc có lẽ trong giới tứ Ba la di không ai phạm hết đâu. Bởi vì phạm sao họ sát sanh. Bây giờ chúng mới bắt lỗi họ vì hiện tại đâu có sát sanh nữa.Vậy là bắt lỗi cái gì, bắt lỗi cái nghiệp nó còn lại mới bắt lỗi, còn họ sát sanh đâu ngày hôm kia chứ ngày hôm nay họ có sát sanh đâu mà đem ra làm yết ma trị tội họ,là vì nghiệp có quả báo,] chờ gặp duyên thì chiêu cảm quả báo vui khổ. Do nghiệp có ở quá khứ đó làm chứng để biết quá khứ thật có và do có quả báo ở vị lai làm chứng để biết vị lai thật có. Giả sử hai đời không có, nên nói không có quá khứ, vị lai, thời thật thể hai nghiệp thiện ác cũng không, quả báo vui khổ cũng chẳng có. [Nếu như không thật có thì làm đâu bỏ đó, làm đâu xong nấy  không có gì hết.Vậy quá khứ cũng không vị                                 

* Trang 448 *
device

lai cũng không. Khi nghiệp quá khứ không có vị lai không có thì quả báo khổ vui gì cũng không có, và cũng không có nhân quả gì cả.] Nhưng thật tế nghiệp quá khứ đã có quả báo vị lai, thế thời quá khứ, vị lai nhất định là thật có.
Bốn dẫn chứng trên để chứng minh cho chủ trương ba đời thật có. Hai cái đầu là giáo chứng, hai cái sau là lý chứng. Do giáo chứng lý chứng chứng minh tôn chỉ: “Tất cả thật có”.
[Đó là lập trường của Hữu bộ, nhưng có những lập trường khác thì họ lại không nhận như vậy.Tỷ dụ như nói Phân biệt luận giả thì họ nói: Chỉ có trong hiện tại còn quá khứ có chăng là có cái này:Có cái nghiệp gì mà chưa giữ quả vị. Giữ quả nghĩa là cái nghiệp gì chưa cho quả hay là chưa có kết quả.Cái chữ vị giữ quả đã học bữa trước là:dĩ giữ quả thì gọi là hành,vị giữ quả thì gọi là hữu.Cái nghiệp mà vị giữ quả dĩ giữ quả đã cho quả thì gọi là hành.Cái nghiệp chưa cho quả thì gọi là hữu.Nghiệp chưa cho quả báo tức nhiên là nghiệp chưa trả quả, chưa kết quả gọi là vị giữ quả, họ cũng chập nhận quá khứ có nhưng có trong trường hợp nghiệp mà vị giữ quả,nghiệp còn đó chưa đền tội thì có nhưng mà nghiệp đã đền tội không có nữa.Trong khi ông Hữu bộ không luận chuyện đó,đã đền tội hay chưa đền tội, cái nghiệp quá khứ vẫn có như thường,hai cái khác nhau,chỗ đó mâu thuẫn, tranh cải, nhiều người họ mới hỏi lại.]
Hỏi: Bản thể các pháp đã thật có thì trước sau đồng nhất, trước sau đồng nhất thì làm sao có pháp gọi là quá khứ, pháp gọi là hiện tại, pháp gọi là tương lai?
[Nếu đã là thật có thì hôm qua ngày nay cũng vậy,ngày mai ngày mốt cũng vậy.Đời trước cũng vậy,đời sau cũng vậy 

* Trang 449 *
device

thì đã vậy,vậy thì làm sao anh nói pháp gì là quá khứ,pháp gì là hiện tại,vị lai.Lúc nào cũng như lúc nào hết thì làm sao gọi lúc quá khứ lúc vị lai lục hiện tại.Cho nên ngày xưa ông Trạng Trình có một lần ông đấu với Tàu.Họ lấy một khúc cây họ chặ rễ róc đọt, nhánh, chỉ chừa khúc chặng giữa.Họ hỏi khúc nào là đầu khúc nào là đuôi.Làm sao mà biết vị họ chặt hết rồi còn để một khúc,khúc nào cũng bằng nhau,sao biết khúc nào là đầu khúc nào là đuôi.Giờ đây nếu pháp nó thực hữu,vậy khúc nào là quá khứ, khúc nào là hiện tại ,khúc nào là vị lai ? Cho nên họ lập câu hỏi, anh nói bản thể thực hữu rồi không nói quá khứ, vị lai, hiện tại gì hết.Cắt nghĩa ra sao! Giờ nhà Hữu bộ họ có 4 nhà luận giải trả lời về nghĩa đó.]
Đáp: Các học giả Hữu bộ có bốn cách giải thích vấn đề này, đó là do loại sai khác, do tướng sai khác, do vị sai khác, do chờ duyên sai khác.
1. Tôn giả Pháp Cứu chủ trương “do loại sai khác” nên có ba đời: Theo ông tự bản thể các pháp có ba loại sai khác nên có ba đời khác nhau. Như khi từ vị lai đi đến hiện tại là bỏ loại vị lai để đắc loại hiện tại, như khi từ hiện tại trôi về quá khứ là bỏ loại hiện tại để đắc loại quá khứ. Các pháp hoạt động trong thời gian ba đời là do loại chứ không phải do thể nó có sai khác, ví dụ như phá loại kim khí này để làm loại kim khí khác. Về hình thái tuy thay đổi khác nhau, nhưng thể chất vàng trước sau vẫn là vàng, không hề thay đổi loại là vậy. [Pháp hằng hữu in như cục vàng.Chết vàng trước vàng sau vẫn là vàng,không thể thay đổi loại vàng là vậy.Pháp hằng hữu cũng in như cục vàng, nhưng bây giờ đây anh phá cái loại vàng đi anh làm ra sư tử rồi anh phá loại sư tử đi anh làm loại dây chuyền. Như vậy vàng thuộc

* Trang 450 *
device

về quá khứ,khi ở trong hiệ tại còn đang sư tử là hiện tại,khi phá sư tử làm dây chuyền là ở về vị lai.Vậy là do cái loại có sai khác,còn pháp thể hằng hữu.]
 Luận chủ Thế Thân không nhận quan điểm này, vì theo quan điểm này” Thể tính là thường, nhưng dụng thì chuyển biến” như vậy không khác với Số luận chủ trương ba đức là tát-đỏa, lạt-xà, đáp-ma, thường nhưng chuyển biến thành 25 đế.
2. Tôn giả Diệu Âm chủ trương “do tướng sai khác” nên có ba đời khác nhau. Tướng là tướng trạng. Như các pháp ở quá khứ, tuy không rời tướng hiện tại, vị lai, song vì tướng quá khứ rõ rệt hơn nên chỉ gọi là pháp quá khứ. Các pháp khi ở hiện tại là  hiệp cùng với tướng hiện tại, các pháp khi ở vị lai là hiệp cùng với tướng vị lai, khi ở quá khứ cũng giống như thế, nên chỉ có thể nói các pháp có ba đời là do tướng nó không đồng nhau, chứ không phải do thể nó có sai khác.
Luận chủ Thế Thân cũng không nhận quan điểm này vì ngay nơi một tướng này vẫn có đủ hai tướng kia. Nơi tướng quá khứ vẫn có tướng hiện tại, vị lai. Nơi tướng hiện tại hay vị lai vẫn có đủ hai tướng kia, như vậy tướng ba đời rất lộn xộn.
3. Tôn giả Thế Hữu chủ trương: “do vị sai khác” nên có ba đời khác nhau. Ý rằng sở dĩ pháp thể thật có thường hằng nhưng có ba đời là do vị trí khởi tác dụng của nó. Khi ở vị trí chưa khởi tác dụng thì đó là vị lai; khi ở vị trí đang khởi tác dụng thì đó là hiện tại; và khi ở vị trí tác dụng qua 

* Trang 451 *
device

rồi, thì đó là quá khứ. Ví dụ đồng bạc khi đặt nó vào vị trí một, nó thành  một; khi đặt nó vào vị trí trăm, nó thành trăm; đặt vào vị trí ngàn nó thành ngàn. Một, trăm, ngàn khác nhau, nhưng đồng bạc trước sau chỉ là đồng bạc. Luận chủ Thế Thân tán đồng quan điểm này.
4. Tôn giả Giác Thiên chủ trương “do đối đãi sai khác” nên có ba đời khác nhau. Như từ trước nhìn tới sau, thì trước là quá khứ, như sau nhìn lại trước thì sau là vị lai; như đứng ở giữa nhìn tới sau, nhìn lại trước, ở giữa gọi là hiện tại. Ví dụ một người đàn bà đối trước cha mẹ thì trở thành con gái, đối sau con cái thì trở thành bà mẹ; mình đối với mình thì là đàn bà. Chủ trương này cũng bị lỗi lộn xộn về ba đời, luận chủ Thế Thân không chấp nhận.
Tóm lại, đối với bốn chủ trương nói trên, luận chủ tạm thời đứng trên lập trường của Hữu bộ mà chấp nhận chủ trương thứ ba của Tôn giả Thế Hữu là đúng hơn ba chủ trương kia, nhưng thật tế luận chủ đồng tình với Kinh bộ chủ trương “quá khứ vị lai không thật thể” nên đã dẫn lý lẽ của Kinh bộ để bác lại quan điểm “do vị trí tác dụng” của Thế Hữu như sau: Nói rằng do vị trí tác dụng mà thành có ba đời, vậy do cái gì làm cho tác dụng đó thành ba đời? Nếu do cái khác làm cho tác dụng đó thành ba đời, lại do cái khác nữa làm cho cái khác đó thành ba đời, thì sẽ mãi vô cùng. Đó là điều sai lầm. Và nếu như Hữu bộ cho quá khứ, vị lai đều thật có như hiện tại, như vậy chỉ đều gọi là hiện tại, chứ cần chi gọi quá khứ, vị lai. Rốt cùng luận chủ Thế Thân không đồng tình với chủ trương “Pháp thể hằng có, nhưng tính nó vô thường” của Hữu bộ mà đồng tình với                                                                       

* Trang 452 *
device

chủ trương “quá,vị vô thể”, của Kinh bộ. [Đó là nghĩa có tiến bộ hơn.Thật ra ông Kinh bộ,ông Hữu bộ,cả hai cũng quá cực hữu,cho nên ông nay ông mới chế bớt lại,tả bớt lại.Thôi thì có nhưng mà có trong hiện tại còn anh nói có mà cả 3 đời thì khó hiểu.]
Hỏi: Kinh bộ chủ trương “quá, vị vô thể” thì làm sao cắt nghĩa việc phiền não trói buộc, cảnh trần bị trói buộc và sự thoát ly trói buộc, chứng giải thoát Niết-bàn?
Đáp: Theo tông nghĩa của Kinh bộ, dẫu quá, vị vô thể vẫn thành việc trói buộc, bị trói buộc và thoát ly trói buộc. Khi phiền não được sinh trong quá khứ, nó còn tồn tại ở hiện tại, thì nói là có phiền não trói buộc của quá khứ.
[Tỷ dụ như phiền não phát sanh trong hiện tại.Hôm qua tôi nỗi sân đập lộn u đầu thì ngày nay phiền não đó còn không ? Còn chứ.Do đó nó xảy ra trong quá khứ nhưng nó còn lưu tồn trong hiện tại, cho nên nói là có cái phiền não quá khứ.]
Phiền não ở vị lai được sinh ra từ phiền não hiện tại, thì nói là có phiền não trói buộc của vị lai. Cảnh trần mà phiền não duyên theo trong quá khứ và vị lai còn tồn tại ở hiện tại, thì nói là có cảnh trần bị trói buộc cuả quá khứ và vị lai. Lại giả sử dứt trừ được chủng tử phiền não của hiện tại, là cảnh trần quá khứ, vị lai được thoát ly khỏi trói buộc. Phiền não hiện tại có quả và nhân. Nếu dứt được quả phiền não hiện tại, tức là dứt được nhân phiền não của quá khứ, nếu dứt được nhân phiền não của hiện tại, tức là dứt được quả phiền não của vị lai. Như vậy dẫu quả vị thật không có, nhưng vì nó đã từng có và sẽ có cho nên có việc trói buộc, bị trói buộc và thoát ly trói buộc.

* Trang 453 *
device

Đây chủ yếu quá khứ không có nhưng vì đã từng có cho nên nó có trói buộc.Có sự trói buộc và bị trói buộc.Vị lai không thật có nhưng mà nó sẽ có.Đây là nghĩa chính của kinh bộ, từng có và sẽ có.Do lé từng có và sẽ có cho nên nói có cái phiền não trói buộc trong quá khứ và có cái phiền não trói buộc trong vị lai
          Giờ tôi nói qua sự dứt trừ hoặc.
          Nói vậy chứ cái hoặc khi nó sinh, dứt trừ thì rắc rối quá.Bây giờ anh em cũng biết qua thôi, vì mình chưa đi qua cái kinh nghiệm,sự tu hành của mình cho hết đời mà cứ nói cảnh tu hành của các Ngài đâu đâu, còn mình thì chưa qua kinh nghiệm này chút nào hết , giờ nói ra cũng hơi khó hiểu.]

Đoạn II. Sự dứt trừ hoặc
¨  Tiết 1. Nguyên nhân dứt trừ hoặc
Căn bản hoặc và chi mạt hoặc chung cục đều nằm trong hai loại: kiến hoặc và tư hoặc. Có bốn nguyên nhân đoạn trừ hai hoặc này. Đoạn trừ kiến hoặc do ba nguyên nhân, đọan trừ tư hoặc do một nguyên nhân. Ba nguyên nhân đoạn trừ kiến hoặc đó là:
a. Khắp biết cảnh sở duyên mà đoạn.
[Tức nhiên Tứ đế là cảnh sở duyên của mình.Muốn đoạn cái kiến hoặc thì phải hiểu rõ lý Tứ đế.mà khi quán sát lý Tứ đế thì như vậy lý Tứ đế là lý sở duyên của tâm quán sát.Mà khắp biết cảnh sở duyên mà đoạn.]

* Trang 454 *
device

b. Do năng duyên đoạn mà đoạn.
c. Do sở duyên đoạn mà đoạn.
Sở dĩ do ba duyên sai khác như vậy vì, những hoặc do thấy lý Tứ đế mà được đọan trừ, đều có hai loại:
1. Nhân thấy lý Khổ đế và Tập đế mà đoạn trừ, có hai loại:
Loại duyên tự giới (là duyên Khổ, Tập đế của cõi Dục mà phát sinh). [Loại hoặc đó gọi là duyên tự giới hoặc.Tự giới hoặc là loại hoặc duyên Tứ đế của nơi dục giới, chỗ mình ở đây,kêu tự giới hoặc tha giới hoặc là sắc giới,vô sắc giới,lầm cái Tứ đế của sắc giới và vô sắc giới mà sinh ra hoặc, hoặc đó là duyên tha giới.Giới đó không phải giới của mình.Giới đó là giới của mấy ông Tứ đế thiền Tứ không,mình chưa tới Tứ thiền Tứ không,nhưng minh duyên với Tứ đế của nơi Tứ thiền Tứ không đó mà sinh ra hoặc thì cái hoặc đó do duyên tha giới sinh.]
Loại duyên tha giới (là chỉ duyên hai cõi trên).
2. Nhân thấy Diệt đế, Đạo đế mà đoạn trừ, có hai loại:
- Loại duyên vô lậu (tức duyên Diệt, Đạo đế vô lậu)
- Loại duyên hữu lậu (tức duyên Khổ, Tập đế).  [Gọi là hữu lậu hoặc , trên duyên Đạo đế Diệt đê thì gọi là vô lậu duyên hoặc, là cái hoặc duyên từ Đạo đế Diệt đế.Còn loại hoặc duyên nơi Khổ đế Tập đế thì gọi là hữu lậu duyên hoặc, là bởi vì Khổ                 

* Trang 455 *
device

đế Tập đế thuộc về hữu lậu pháp mà duyên Khổ đế Tập đế không hiểu rõ sinh đâu gọi là hữu lậu duyên hoặc.]
Hỏi: Loại kiến hoặc do khắp biết các sở duyên mà đoạn là thế nào?
Đáp: Ví như nhân thấy lý Khổ đế, Tập đế, đoạn trừ loại hoặc duyên tự giới. Không luận loại hoặc này ở cõi Dục, cõi Sắc, Vô sắc, đều thuộc vào loại hoặc do khắp biết cảnh sở duyên mà đoạn trừ như:
Tụng sớ nói: “Do thấy Khổ, Tập đế ở cõi Dục, khi trí nhẫn về Khổ, Tập phát sinh, đã biết rõ Khổ, Tập nên biết rõ loại hoặc duyên Khổ, Tập tự giới được đoạn trừ.
[Chữ trí nhẫn này giờ đây nói trí cũng được.Duyên mỗi cái đế như vậy có 2 thứ trí.Phát sinh ra 2 thứ trí.1.Trí nhẫn,2.Trí.
          Thí dụ:Khổ pháp trí nhẫn khổ pháp trí
          Khổ loại trí nhẫn khổ loại trí.
          Mỗi một cái đế mà mình quán sát, mình duyên một đế như vậy là nó có 2 trí.Khổ pháp trí nhẫn,khổ pháp trí.Chữ nhẫn này có nghĩa là tín nhẫn,là chấp nhận như trong kinh Kim Cang nói: Nhược nhơn văn thử pháp mà bất kinh bất bố bất cúng, nghe cái pháp này mà không run không sợ không khiếp, vậy là nhẫn.Người đã nghe cái pháp này mà không sợ không run không khiếp, biết anh đó đã ở nơi các đức Phật trồng nhiều thiện căn mới được vậy.Chớ nghe Kim Cang mà vô ngã, vô nhơn, vô chúng sinh, vô thọ giả,nói nó dễ sợ chưa.Giờ đây nghe Phật nói tới cái pháp Khổ đế mà có cái trí chấp nhận điều đó,tín nhận điều đó chư không khiếp, không sợ, không bỏ chạy, không chống đối.Thậ ra cũng có người họ nói: Phật nói cái gì                      

* Trang 456 *
device

đâu đâu, đời đâu có khổ vậy mà ông nói lắm chuyên khổ như vậy thành tôi không nghe nổi cái điều đó.Vậy là không có nhẫn.Khi nghe cái khổ pháp,phải chấp nhân tín nhẫn như vậy gọi là khổ pháp tín nhẫn.Cái khổ pháp tín nhẫn là nhân từ khổ pháp tín nhẫn mà tiến tới quán sát cái khổ đế cho đến khi hiểu rõ được nó thì có cái khổ pháp trí nó hiện ra là hoặc là thành tựu một giai đoạn là đã hiểu rõ cái khổ đế.Nhưng khổ đế này là khổ đế nơi dục giới, chính chỗ mình ở, chính cái thân mình đây.Cho nên gọi là khổ pháp.Còn khổ loại trí nhẫn là khổ đế của cõi sắc và vô sắc.Bởi vái khổ đế cõi sắc,cõi vô sắc mình không trực tiếp biết về nó,mình không trực tiếp nhận nó, mà mình chỉ biết nó qua tính cách loại suy tỷ lượng.Loại suy nó với cái khổ đế nơi dục giới,chính ngay mình ở đây, nên gọi Khổ trí nhẫn,mà đã có khổ loại trí nhẫn mà tiến quán sát khổ đế của sắc giới,vô sắc giới cho đầy đủ,thì khi đó trở thành Khổ loại trí.Đây là khổ pháp trí là nói cái khổ đế trong cảnh mình ở đây,mình đương lãnh thọ đây kêu khổ pháp, mà đối với khổ pháp đó minh có cái trí chấp nhận tín nhẫn pháp khổ đó,chứ không kinh, không sợ,không khiếp đó gọi khổ pháp tín nhẫn.Rồi từ khổ pháp tín nhẫn đó mình quán sát nhận ra rằng khổ đế là khổ đế có cái trí như vậy sinh ra đó là khổ pháp trí.Nhưng đó là mới nói cái khổ nơi cõi dục,còn sắc cõi vô sắc làm sao mình biết tới,biết tới được bằng các loại suy. Cho nên gọi là khổ loại trí nhẫn (nhân) như vậy, khổ đế có 4 cái, Diệt đế có 4 cái, Đạo đế có 4 cái, tức gọi 16 tâm.]
 Đó là do khắp biết cảnh sở duyên nên đoạn. Cảnh sở duyên đây là chỉ cho cảnh Khổ, Tập đế vậy”. Và không những loại hoặc duyên tự giới do khắp biết cảnh sở duyên khổ tập mà được đoạn trừ. Tụng sớ còn nói: “Do thấy Diệt,                                

* Trang 457 *
device

Đạo đế đoạn lậu hoặc vô lậu duyên. Đây là vì tà kiến, nghi, vô minh, duyên một cách sai lầm về diệt đạo đế vô lậu mà phát sinh. Khi trí nhẫn về Diệt, Đạo đế phát sinh, biết rõ Diệt, Đạo đế thì tà kiến, nghi, vô minh kia đoạn từ. Do đó gọi là đoạn trừ kiến hoặc do khắp biết cảnh sở duyên. Sở duyên đây chỉ cho diệt đạo đế vậy. Nói tóm lại, loại hoặc do duyên một cách sai lầm về Khổ, Tập đế ở tự giới mà phát sinh thì do khắp biết rõ chân lý Khổ, Tập đế mà đoạn trừ, loại hoặc do duyên một cách sai lầm về Diệt, Đạo đế thuộc cõi dưới mà phát sinh, thì do khắp biết rõ chân lý Diệt Đạo đế mà đoạn trừ. Đó gọi là do khắp biết cảnh sở duyên mà đoạn kiến hoặc.
Hỏi: Loại kiến hoặc do năng duyên đoạn mà đoạn thế nào ?
Đáp: Như lấy phiền não duyên tự giới mà duyên đến phiền não duyên tha giới, thì phiền não duyên tha giới là cảnh sở duyên, phiền não duyên tự giới là tâm thức năng duyên. Sở duyên được tồn tại nhờ năng duyên. Giả sử phiền não năng duyên được đoạn trừ, thì những phiền não duyên tha giới cũng được đoạn trừ theo. Ví như người nhờ cột trụ mà đứng được, nếu cột trụ ngã thì người cũng ngã.
Hỏi: Loại kiến hoặc do sở duyên đoạn mà đoạn là thế nào ?
Đáp: Như muốn đoạn trừ loại kiến hoặc hữu duyên lậu, thì chỉ cần đoạn trừ sở duyên của nó, tự nhiên nó (năng duyên) cũng bị đoạn trừ theo. Sở duyên ở đây chỉ cho phiền não duyên Diệt, Đạo đế vô lậu, năng duyên ở 

* Trang 458 *
device

đây chỉ cho phiền não duyên Khổ, Tập đế hữu lậu. Giả sử cảnh sở duyên là những hoặc duyên Diệt, Đạo vô lậu bị đoạn trừ, thì năng duyên là những hoặc duyên Khổ, Tập đế hữu lậu cũng bị đoạn trừ theo. Ví như người nhờ chống gậy mà đi được, nếu bỏ gậy thì người cũng ngã theo.
Tư hoặc chỉ có một nguyên nhân mà đoạn trừ như thế nào? Đó là nhân đối trị đoạn. Trong 9 địa, mỗi địa có 9 phẩm tư hoặc, từ thượng phẩm cho đến hạ hạ phẩm. Muốn đối trị (đoạn trừ) phiền não thượng thượng phẩm (thô) thì dùng lối tu đạo hạ hạ phẩm (non yếu), cho đến muốn đối trị phiền não hạ hạ phẩm (tế) thì dùng lối tu đạo thượng thượng phẩm (sáng, mạnh). Hoặc do thô và tế chia ra thượng, trung, hạ thành 9 phẩm. Tuy nhiên, nguyên nhân đối trị đoạn này không chỉ giới hạn đối với tư hoặc mà cả với kiến hoặc. Nhưng kiến hoặc đã có ba nguyên nhân dủ để đoạn trừ, Không phải cần đến nguyên nhân đối trị đoạn này làm chi.


* Trang 459 *
device

Tiết 2 :  Bốn thứ đối trị
[Trong Nikaya mình học,]
Trên nói do đối trị đoạn đoạn trừ tư hoặc. Vậy có mấy thứ đối trị? Có 4 thứ:
1. Yểm hoạn đối trị: Tức là sinh tâm nhàm chán muốn xa rời hoặc, nghiệp, khổ nên khởi sự tu tập để xa lìa. [Cho nên cái gì mà mình xa lìa được, trước hết là phải chán nó đã, còn không chán, cứ ưa mà biểu xa lìa là khó lắm, trước hết là phải chán nó.]
2. Đoạn đối trị: Tức dùng vô gián đạo chính thức đoạn trừ phiền não.
3. Trì đối trị: Tức sau khi đã chính thức đã đoạn trừ hết phiền não, chứng đắc trạch diệt, giữ vững trạch diệt đã chứng đắc đó. Đây chính là đã giải thoát đạo.
4. Viễn phần đối trị: Là sau khi được giải thoát đạo, còn làm cho rời xa hơn nữa đối với các phiền não do vô gián đạo đã đoạn trừ trước đó, [đây chính là thăng tấn đạo.]
Tóm lại, do bốn đạo đối trị hết các tư hoặc và chứng đắc trạch diệt. Bốn đạo đó là gia hạnh đạo (yểm hoạn đối trị), vô gián đạo (đoạn đối trị), giải thoát đạo (trì đối trị) và thắng tấn đạo (viễn phần đối trị).
¨  Tiết 3: Đoạn hoặc chứng trạch diệt
Trong lúc tu vô gián đạo, phát khởi đoạn đối trị để chính thức đoạn trừ phiền não, được gọi “các hoặc không 

* Trang 460 *
device

còn tái đoạn nữa”, kết quả là chứng được trạch diệt, tức là ly hệ quả (lìa hết mọi buộc ràng) mà bản thể là thường trụ vô vi, không có cao thấp, hơn kém. Tuy nhiên, người tu khi vào thắng tấn đạo vẫn có khả năng đoạn trừ các hoặc đã đoạn trừ trước, và vẫn tiếp tục chứng đắc quả ly hệ, cho nên được chia ra bậc ly hệ qua sáu thời:
1. Khi khởi lên giải thoát.
2. Khi được quả Dự lưu. 
3. Khi được quả Nhất lai.
4. Khi được quả Bất lai
5. Khi được quả A-la-hán
6. Khi luyện căn (tức từ độn căn A-la-hán luyện tập để chuyển thành lợi căn A-la-hán).
Trong thời này, quả ly hệ do đoạn trừ các hoặc, tùy theo chỗ tu đạo Thắng tấn mà lại tiếp khởi sự chứng đắc cao hơn. Nhưng các quả ly hệ, có thứ trải đủ sáu thời, có thứ không đủ sáu thời. Như quả ly hệ do đoạn trừ kiến hoặc của Dục giới phải đủ sáu thời mới được chứng được; quả ly hệ do đoạn trừ phẩm thứ chín tư hoặc của Dục giới, chỉ do ba thời chứng đắc, đó là khi đắc quả Bất hoàn, khi đắc quả A-la-hán thành lợi căn A-la-hán. Ngoài ra chiếu theo đây mà rõ.
Hỏi : Thường thì phải đoạn trừ hết kiến hoặc, hay dứt hết sáu phiền não là nghi và năm kiến, thì mới chứng qủa Dự lưu. Sao có nhiều nơi, như kinh Tạp A-hàm 29 nói, dứt ba kiết sử thân kiến, giới cấm thủ và nghi, chứng quả Dự lưu ? 

* Trang 461 *
device

[Có phải trong Nikaya mình hay học gặp điều đó.Trong ngũ cái gì là ? Tham,sân,thân kiến,giới thủ,nghi thì cũng được chứng quả dự lưu.Mà anh làm thêm mỏng bớt tham sân thì anh chứng được quả nhất lai.Anh diệt cho sạch tham sân nữa tức nhiên là sạch hết ngũ hạ phần kiết thì chứng được quả bất toàn.Vậy trong này nói diệt kiến hoặc trước là nói rằng ri lắm chuyện,vậy mà trong này nói diệt thân kiến,giới cấm thủ,nghi là chứng dự lưu,được thành dứt kiến hoặc.]
Đáp: Nên biết nghi và năm kiến đều thuộc căn bản phiền não, trong đó biên kiến từ thân kiến mà có; kiến thủ từ thân, biên, giới cấm thủ mà có; tà kiến từ nghi mà có. Vậy, đoạn trừ thân, giới, nghi là đoạn trừ nguồn gốc của ba thứ kia, nên cũng tức là đoạn trừ tất cả.
¨  Tiết 4 Chín đoạn biến tri
Biến tri nghĩa là biết cùng khắp. Có hai thứ là Trí biến tri Đoạn biến tri. Trí vô lậu cùng khắp lý Tứ đế gọi là Trí biến tri, kết quả đoạn trừ hết các phiền não bởi kiến đạo và tu đạo gọi là Đoạn biến tri. [Chứ còn anh mới đoạn trừ kiến hoặc mà còn tư hoặc,anh chưa đoạn mai mốt ai có hỏi anh đã đoạn kiến tri chưa ? Anh nói đoạn rồi là sai.Ta phải đoạn cả kiến hoặc cả tư hoặc mới gọi là đoạn biến tri, đây mới đoạn một nữa mà trả lời đoạn biến trí rồi là không đúng.]
 Nhưng đây từ Đoạn biến tri lập ra chín thứ gọi là Chín biến tri. Biến tri là trí, nhưng đây không gọi trí, là biến tri mà chủ yếu gọi đoạn là biến tri, vì đoạn là quả (trạch diệt,                                                              

* Trang 462 *
device

ly hệ) mà trí là nhân. [Thành hai chữ này.Trí biến tri, đoạn biến tri.Trí tức nói về phân biến đoạn tức nói về phần tư.Tuy từ nơi trí biến tri chia ra chín thứ nhưng ta không nói trí biến tri mà chủ yếu nói 9 đoạn biến tri.Trí là nhơn,đoạn là quả.] Nhân trí biết cùng khắp lý Tứ đế mà phiền não được đoạn trừ, được thành ly hệ quả, nơi quả đã hàm có nhân, nên gọi là đoạn biến tri. Chín biến tri là kết quả đoạn trừ những phiền não do kiến đạo sở đoạn trong ba cõi, lập sáu biến tri; kết quả đoạn trừ những phiền não do tu đạo sở đoạn trong ba cõi, lập ba kiến tri. Cộng cả hai kết qủa trên thành chín. Nói rõ hơn, đoạn kiến hoặc của ba cõi lập sáu biến tri là đoạn kiến hoặc thuộc Khổ, Tập đế của Dục giới lập một biến tri; đoạn kiến hoặc thuộc Diệt đế của Dục giới lập một biến tri; đoạn kiến hoặc thuộc Đạo đế của cõi Dục lập một biến tri; đoạn kiến hoặc thuộc Khổ, Tập đế của hai cõi Sắc và Vô sắc lập một biến tri; đoạn kiến hoặc thuộc Diệt đế của hai cõi Sắc và Vô sắc lập một biến tri; đoạn kiến hoặc thuộc Đạo đế của hai cõi Sắc và Vô sắc lập một biến tri. Cộng tất cả kiến hoặc trong ba cõi được đoạn trừ có sáu biến tri. Đoạn tư hoặc trong ba cõi lập ra ba biến tri là: đoạn hết tư hoặc thuộc cõi Dục lập một biến tri, đó là sự biến tri của sự dứt hết năm thuận hạ phần kiết; đoạn hết tư hoặc thuộc cõi Sắc và Vô sắc lập một biến tri, đó là biến tri của sự dứt hết kiết sử sắc ái; đoạn hết tư hoặc thuộc cõi Vô sắc lập một biến tri, đó là biến tri của sự đoạn hết vĩnh viễn mọi kiết sử.
  Xem đồ biểu dưới đây :
[Xem biểu đồ thì rõ hơn.9 biến tri   

* Trang 463 *
device





1. Do đoạn hết kiến hoặc thuộc khổ tập cõi dục lập một biến tri,mà anh phải nhớ chữ này.Vì sao gọi Kiến hoặc thuộc khổ tập.Nghĩa là mê Khổ đế nó sinh ra những cái me hoặc đó gọi là hoặc và Khổ đế.Mê Tập đế nó sinh ra cái hoặc đó,cho nên nói các hoặc về Tập đế, chứ không phải Tập đế sao có hoặc,Khổ đế sao có hoạc, Đạo đế sao có hoặc, Diệt đế sao có hoặc.Họ không hiểu rõ,vì mê nó mà thành hoặc,chứ không phải nó hoặc.Đoạn hết kiến hoặc của Diệt đế của dục lập một biến tri, đoạn hêt kiến hoặc cõi dục giới lập một biến tri.Đó là ba biến tri.Đoạn hết bkến hoặc thuộc Khổ và Tập đế của sắc giới lập một biến tri,đoạn hết 5 thượng hạ phần kiết cõi dục lập một biến tri.Do trừ hết kiết kiết sử sắc ái của cõi sắc lập một biến                                                                      

* Trang 464 *
device

tri, do sự trừ hết mọi kiết sử ở cõi vô sắc lập một biến tri.Như vậy là đoạn hết 5 cái ấy rồi.
          Hôm trước học rồi.Pháp gì gọi là pháp hữu lậu ? Ở đây tôi không cắt nghĩa sao gọ là pháp hữu lậu.Những pháp gì thuộc Khổ đế có gọi là hữu lậu được không ? Có.Tập đế chắc cũng kêu hữu lậu phải không ? Đúng quá.Như vậy Hữu lậu là Khổ đé Tập đế thuộc pháp hữu lậu.Khổ đế Tập đế mình duyên được không?được.Vậy Khổ đế Tập đế là cái sở duyên,mà cái tâm mình là năng duyên, nhưng nếu duyên Khổ đế Tập đế mà không nhận thức ra được cái thật tánh của Khổ đế Tập đế thì nó sinh ra mê hoặc, cho nên cái duyên Khổ đế Tập đế này mà sinh ra hoặc thì gọi rằng hữu lậu duyên hoặc.Cái gì là hữu lậu?Khổ đế Tập đế thuộc về pháp hữu lậu.Duyên Khổ đế Tập đế một cách sai lầm sinh ra mê hoặc,thì cái mê hoặc đó gọi là hữu lậu mê hoặc.Cái mê hoặc mà duyên một cách sai lầm Khổ đế Tập đế đó mà phát sinh ra thì cái mê hoặc đó là hữu lậu duyên hoặc,bởi vì Khổ đế Tập đế là pháp hữu lậu.Vậy vô lậu là gì? Là Diệt đế Đạo đế phải không? Vậy là Diệt đế Đạo đế là vô lậu.Duyên vô lậu duyên pháp Diệt đế Đạo đế một cách sai lầm,không nhân thức đúng nó mà sinh ra hoặc thì gọi là vô lậu duyên hoặc,Khổ đế,Tập đế thuộc pháp hữu lậu. Duyên Khổ đế Tập đế một cách sai lầm sinh ra mê hoặc thì gọi là hữu lậu duyên hoặc. Diệt đế Đạo đế những gì thuộc về Diệt đế Đạo đế là vô lậu pháp.Duyên Diệt đế Đạo đế một cách sai lầm sinh ra mê hoặc cho nên gọi là vô lậu duyên hoặc,rồi có thêm Tự giới duyên hoặc, Tha giới duyên hoặc.
          Sao gọi là Tự giới,sao gọi là Tha giới.
          Tự giới là cõi mình đang ở đây,giới chính mình đang ở đây.
          Tha giới là đối với cái giới của kẻ khác ở,chứ không phải mình ở.Ví dụ sắc giới là của mấy ông Tứ thiền ở chứ mình                                         

* Trang 465 *
device

không ở đó.Vô sắc giới là của mấy ông vô sắc giới thiên ở chứ mình không ở đó.Thành đối với sắc giới,vô sắc giới gọi là tha giới.Giờ duyên Tứ đế nơi Tự giới này một cách sai lầm mà phát sinh ra mê hoặc thì gọi là Tự giới duyên hoặc,mà duyên Tứ đế ở nơi sắc giới, vô sắc giới một cách sai lầm mà sinh ra sai lầm thì gọi là Tha giới duyên hoặc.
          Giả sử bây giờ đây mình lấy cái tâm ở nơi Tự giới,cái hoặc ở nơi Tự giới nghĩa là cái hoặc mình duyên Tứ đế ở nới Tự giới, mình duyên cái mê hoặc duyên Tứ đế ở tha giới.Như vậy chính cái mê hoặc ở nới Tự giới làm năng duyên còn cái mê hoặc của nới Tứ đế Tha giới gọi là sở duyên.Lấy cái mê hoặc nơi Tự giới mà duyện lấy cái mê hoặc của Tha giới,mà phải hiểu ngầm Tự giới Tha giới trong đó là Tứ đế trong Tự giới và Tứ đế trong Tha giới.Bởi trong Tứ đế ta có chia ra Tứ đế của dục giới còn Tứ đế của sắc và vô sắc giới.Bây giò đem cái hoặc phiền não duyên Tứ đế Tự giới mà duyên cái hoặc phiền não của nơi Tứ đế Tha giới thì chính cái hoặc nơi Tự giới là cái năng duyên mà cái hoặc của duyên Tha giới kia là sở duyên.Hiểu rõ như vậy để hiểu rõ câu: Do năng duyên đoạn mà đoạn hay do sở duyên đoạn mà đoạn.Bởi hai cái một bên năng duyên,một bên sở duyên, cái phiền não nơi Tự giới là năng duyên,cái phiền não của Tha giới là sở duyên,một phần do cái phiền não sở duyên đó đoạn thì cái năng duyên này cũng đoạn và ngược lại một mặt do cái hoặc của nơi Tự giới năng duyên này đoạn thì cái hoặc nói sở duyên kia cũng đoạn. Bởi năng và sở nó đi chung với nhau,hễ sở đoạn thì năng đoạn và ngược lại.
          Bây giờ đến phẩm Hiền Thánh.]
 
 
*

* Trang 466 *
device

 
Đại cương Luận Câu Xá