LOGO VNBET
VIII. PHẨM PHÂN BIỆT ĐỊNH
 
Đã giảng về phẩm Trí là thân nhân của sự giác ngộ, đây phẩm Phân biệt định nói về sơ duyên của sự giác ngộ. Phẩm này có 39 bài tụng, 38 bài đầu nói công đức của các định, một bài 39 nói về chính pháp trụ thế. Chính pháp của Phật có giáo và chứng. Giáo pháp thì do có người thụ trì và giảng nói đúng đắn mà được trụ thế. Còn chứng pháp thì do có người nương giáo như thật tu hành mà được trụ thế.
[Pháp Phật trụ thế nhờ có hai cái đó. Giáo pháp và chứng pháp. Giáo pháp là do có người học hỏi truyền bá ra mà được trụ thế. Còn chứng pháp là do có người thực sự tu hành mà có chứng đắc, chứng ngộ mà được trụ thế.]
  Trong các công đức thiền định, phần đầu nói về các định làm chỗ nương, phần sau nói về các công đức nương tựa Thiền định như khoa biểu dưới đây:


 

* Trang 548 *
device

[Các định làm chỗ nương có 4 tiết. Một là 4 Tịnh lự (tức Tứ thiền) 4 Định Vô sắc, 8 Đẳng chí, 4 Tịnh lực và 4 định vô sắc trên cũng còn gọi là 8 đẳng chí. (Đẳng là bình đẳng, chí là đến) vì định có 7 tên: đẳng dẫn, tam ma hê đa, đẳng trì, tam ma địa, đẳng chí, Tam ma bạt đề (Samadhi), tịnh lự, tâm nhất cảnh tánh, chất đa y ca a tiết la đa, citta, descarata, chỉ, samatha, hiện pháp lạc trú. Trong đây đẳng dẫn đẳng chí, tịnh lự thấy cả hữu tâm định và vô tâm định.
          Hữu tâm định là sao? Hữu tâm định là tứ thiền hữu tâm định. Vô tâm định là trong đó có Vô tưởng định, Vô tưởng nhiên, Diệt thọ tưởng định. Đó gọi là vô tâm định. Cho nên định mà có định hữu tâm và định vô tâm là vậy, 4 thứ còn lại chỉ có hữu tâm định lại đẳng trì và tâm nhất cảnh tánh (tâm trú vào nơi tánh của một cảnh), tỷ dụ như trú vào cái tánh vô thường, thôi anh quán vô thường anh cứ quán đi, chứ mới quán vô thường 2 phút anh lại xây qua quán vô ngã, quán vô ngã 2, 3 phút xây qua quán khổ. Anh cứ làm như vậy một chặp tốn cơm chứ không ích lợi gì cả, gọi là tâm nhất cảnh tánh. Nó trú vào nơi một cảnh thôi.
          Còn 5 thứ kia chỉ nó ở định địa, đẳng chí dùng trong tiết này là 1 trong 7 tâm định, nó có 3 thứ là: 1. Vị đẳng chí là khi tâm tương ưng với tham sân đắm say nơi cảnh mà có định tâm. Thành cái này cũng là định, anh đó mà anh say đờn ca quá cho đến sáng đêm luôn, không ngủ, hay anh có anh ham đánh bạc quá, bão nổi rằm rằm mà anh không hay, vậy cũng là định nhưng bị đắm trước, chữ vị có nghĩa đắm trước.]

* Trang 549 *
device

ĐOẠN 1. Các định làm chỗ nương (gồm bốn tiết)
 TIẾT IBốn tịnh lự
Định có hai là sinh sắc định và tu sắc định. Sinh sắc định là định do đã tu tập từ trước, khi sanh tự nhiên được định. Tu đắc định là do tu tập dần dần mà chứng đắc. Sinh sắc định có tám là bốn tịnh lự và bốn vô sắc. Tịnh lự nói đủ là tịch tịnh thẩm lự. Do định tịch tịnh mà phát sinh tuệ có khả năng suy xét. Danh từ  tịnh lự không phải hạn chỉ định sắc giới, định vô sắc giới cũng là tịnh lự, song chỉ và quán cân bằng có khả năng suy xét mạnh thì chỉ có định sắc giới, nên gọi định sắc giới là bốn tịnh lự Tịnh lự này gồm có năm chi là tầm, tứ, hỷ, lạc (khinh an), nhất tâm. Căn cứ năm chi này để  phân chia bốn tịnh lự. Đủ cả năm chi là Sơ thiền. Lìa tầm tứ chỉ có hỷ lạc nhất tâm là Nhị thiền. Lìa tầm tứ hỷ chỉ có lạc nhất tâm là Tam thiền. Lìa tầm tứ hỷ lạc chỉ có nhất tâm là Tứ thiền.
 Tiết II: Bốn định vô sắc
Bốn định vô sắc cốt khiến tâm chuyên chú nơi cảnh tính làm chính yếu. Do sự xa lìa ô nhiễm ở dưới mà dần bước lên trên có bốn bậc: Trong khi tu gia hạnh muốn xa lìa sắc và tâm chuyên nghĩ tới không vô biên, khi gia hạnh thành tựu thì bước vào không vô biên, cho đến khi tu gia hạnh muốn xa lìa Vô sở hữu mà nghĩ tới Phi tưởng phi phi tưởng, khi gia hạnh thành tựu thì bước vào phi tưởng phi tưởng. Ở đây vì không có tưởng rõ ràng, thù thắng nên gọi

* Trang 550 *
device

là phi tưởng, nhưng còn có tưởng lờ mờ yếu ớt nên gọi là phi phi tưởng, ở tại Hữu đỉnh địa.
 Tiết III : Tám đẳng chí
Bốn tịnh lự và bốn định vô sắc cũng còn gọi là tám đẳng chí. Vì định có bảy tên: Đẳng dẫn (Tam-ma-hê-đa: Sammahedha); Đẳng trì (Tam-ma-địa, Sammad-hi); Đẳng chí (Tam-ma-bát-đề, Sammabadhi); Tịnh lự (Đà-diễn-na: Dhyana); Tâm nhất cảnh tính (Chất-đa-y-ca A-kiết-la-đa, Citta-ekayrata); Chỉ (Xa-ma-tha: Sam-matha); Hiện pháp lạc trú. Trong đây đẳng dẫn đẳng chí tịnh lự thông cả hữu tâm định và vô tâm định. Bốn thứ còn lại chỉ có ở hữu tâm định. Lại đẳng trì và nhất tâm cảnh tính thì thông cả định địa và tán địa, còn năm thứ kia chỉ có ở định địa. Đẳng chí dùng trong tiết này là một trong bảy tâm định. Nó có ba thứ: Vị đẳng chí, là khi tâm tương ưng với tham, sân,  đắm say nơi cảnh mà có định tâm. Tịnh đẳng chí là khi tâm tương ưng với vô tham khởi lên tính định là thiện hữu lậu. Vô lậu đẳng chí là tâm đã thoát khỏi mọi phiền não ố cấu phát sinh định thiện rất cao và khi được định này tâm không còn bị lay động tán loạn, có khả năng phát sinh trí lực chân chính.  [Bởi chữ định có nghĩa là tâm định, dầu anh đánh bạc anh ngồi vào chỗ đánh anh cũng gọi anh là định rồi. Nhưng là tà định mà thôi.]
  Tiết IV: Bốn tứ định
          Chia tịnh đẳng chí ở trên ra làm bốn phần: Thuận thối phần định, là thuận với phiền não dễ bị thối thất; thuận trú phần định là thuận với tự địa mà an trú, không thoái không

* Trang 551 *
device

tiến; thuận thắng tấn định là thuận theo đị trên mà tiến lên; thuận quyết trạch phần định là thuận với vô lậu tiến đến kiến đạo, cho nên thuận quyết trạch phần định này là cái duyên rất tốt giúp cho vô lậu đẳng chí nói trên, phát khởi chân trí vô lậu dứt hết phiền não.
  Khi sắp sửa vào tám căn bản định (bốn thiền, bốn không) lại có tám cận phần định, thành ra tám căn bản định và tám cận phần định. Và cận phần định của Sơ thiền còn được gọi là vị chí định.
Đoạn 2. Các công đức nương tựa định (Gồm 3 tiết)
Tiết I : Bốn tâm vô lượng
Từ vô lượng, tâm cho vui đến chúng sinh, lấy vô sân làm thể, đối trị tâm sân hận. Bi vô lượng, tâm cứu khổ cho chúng sinh, lấy vô sân, bất hại làm thể đối trị tâm làm hại. Hỷ vô lượng, tâm hoan hỷ khi thấy chúng sinh lìa khổ được vui, lấy hỷ thọ làm thể đối trị tâm buồn phiền, ganh tị. Xả vô lượng, tâm bình đẳng không phân biệt oán thuận đối với chúng sinh, lấy vô tham vô sân làm thể đối trị tâm tham sân cõi Dục.
Bốn tâm này sở dĩ gọi vô lượng vì ba lẽ: Vì đối vô lượng chúng sinh, vì dẫn sinh ra vô lượng phước, vì đến quả báo tốt đẹp vô lượng.
Thử bàn đến Từ vô lượng, người muốn tu từ tâm, trước hết suy nghĩ về cái vui mình có, hoặc nghe nói cái vui tuyệt                                 

* Trang 552 *
device

diệu của chư Phật, Bồ-tát, liền nghĩ rằng mong sao tất cả chúng sinh đều có được sự vui này. Nếu chưa đủ sức vận tâm bình đẳng như vậy thì có thể chia chúng sinh ra làm ba hạng là người thân, người không thân không oán, người oán. Đối với người thân lại chia làm ba bậc, thân nhất như cha mẹ, thân vừa như bạn bè giao hảo vừa tiền tài vừa đạo nghĩa, người thân ít như bạn bè giao hảo tiền của. Hạng người không thân không oán chỉ một bậc. Hạng người oán cũng chia ba bậc, oán ít như kẻ cướp của bạn mình, oán vừa như kẻ cướp của mình, oán nhiều như kẻ xâm phạm tính mạng mình và thân hữu mình. Vận dụng tư tưởng thâu hẹp dần dần sự cách biệt giữa người thân và người oán, cho đến khi phát khởi tâm bình đẳng, mất đi tướng người rất thân và  người rất oán, chỉ còn lại tướng chúng sinh không sai biệt, cần đem tâm cho vui đồng nhất phổ cập đến mọi chúng sinh, từ một thôn đến một quận, một nước, cuối cùng khắp cả thế giới chúng sanh. Đó là sự tu tập về Từ vô lượng tâm. Tu tập về ba vô lượng tâm Bi, Hỷ, Xả cũng giống như vậy. Song khi tu Xả vô lượng tâm thì đối trong bảy bậc chúng sanh, trước hết xả đối hữu tình bậc hạ, rồi xả đối hữu tình bậc giữa, rồi đến bậc thượng, cuối cùng là xả đối với người thân nhất. Vì đối với người oán dễ xả, còn đối người thân thì khó xả hơn.
Tiết II : Tán giải thoát
1. Nội hữu sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát, nghĩa là có lòng tham sắc tướng đối với nội thân. Muốn trừ lòng tham đó, quán sát sắc bất tịnh ở bên ngoài như thây chết

* Trang 553 *
device

bầm xanh v.v... thì lòng tham sắc về tướng ở nội thân không khởi lên được, đấy gọi là giải thoát.
2. Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát, nghĩa là không còn lòng tham về sắc tướng đối với nội thân, vì lòng tham ấy đã trừ, song muốn cho vững chắc, nên vẫn tiếp tục quán sát bất tịnh bên ngoài, lòng tham kia không khởi lên được nữa.
3. Tịnh giải thoát thân tác chứng Cụ túc trú, nghĩa là bây giờ dù nhìn tịnh sắc, lòng tham vẫn không khởi lên, đấy là tịnh giải thoát và chứng đắc tính cách tịnh giải thoát ngay trong thân đầy đủ viên mãn, an trụ nơi định đó gọi là thân tác chứng Cụ túc trú.
[Như vậy trong 8 giải thoát này, 2 thứ trên là quán bất tịnh, còn cái dưới là quán tịnh. Bởi vì sao? Vì hai thứ trên mà lòng tham sắc đã hết rồi thì khi bấy giờ xuống cái thứ ba dầu anh quán cái sắc tịnh đi nữa, anh cũng không nỗi lòng tham, cho nên ta gọi là tịnh giải thoát thân tác chứng cụ túc trí và sự giải thoát đó anh chứng ngay trong hiện tại của nơi thân anh. Hai nữa là quán bất tịnh, cái dưới là quán về tịnh.]
4. Không vô biên xứ giải thoát.
5. Thức vô biên xứ giải thoát.
6. Vô sở hữu xứ giải thoát.
7. Phi tưởng phi phi tưởng xứ giải thoát.
Bốn giải thoát này đều xả bỏ lòng tham của các địa dưới gọi là giải thoát.
8. Diệt thọ tưởng định giải thoát, thân tác chứng Cụ túc nói tắc là Diệt tân định, định này chủ yếu chán bỏ

* Trang 554 *
device

hai tâm thọ và tưởng, vĩnh viễn an trú vô tâm nên gọi là giải thoát.
Trong tám giải thoát, ba thứ đầu lấy vô tham làm thể, và trong ba thứ này, hai thứ đầu nương tựa vào sơ nhị tịnh lự lấy cảnh sắc đáng ghét ở cõi Dục làm đối tượng. Cái thứ ba nương tựa vào tịnh lự thứ tư, duyên lấy cảnh sắc đáng ưa ở cõi Dục làm đối tượng. Còn bốn vô sắc giải thoát kia thì lấy bốn thiền định cõi Vô sắc làm thể, và tự duyên lấy Khổ, Tập, Diệt, Đạo ở tự địa và địa trên, cùng duyên đạo loại trí của chín địa làm đối tượng.
Lại trong tám giải thoát này, chỉ cái thứ ba, thứ tám còn kèm theo chữ thân tác chứng là vì sao? Vì hai lẽ: Vì thù thắng nghĩa là cái giải thoát thứ ba chỉ quán về tịnh tướng vẫn không khởi tâm tham ái. Còn cái giải thoát thứ tám là vô tâm, còn bảy cái giải thoát kia là hữu tâm. Vì nó ở vào cuối cùng của cõi Sắc và cõi Vô sắc, nghĩa là cái giải thoát thứ ba thì nương tựa tịnh lự thứ tư cõi Sắc, còn cái giải thoát thứ tám thì nương tựa Hữu đỉnh địa của Vô sắc giới.
[Bát Bội xả đó cựu dịch, Tàu dịch là Bát giải thoát, Bát thắng xứ cùng gọi là bát trừ nhập, bát tri pháp, đó là cực dịch. Vì sao gọi là thắng xứ? Là 8 cái này làm tăng trưởng cái trí hiểu biết, cái thắng tri thắng kiến cho nên gọi là thắng xứ. Sau kêu giải thoát? Vì quán cái này thì được giải thoát tham ái, mà họ dùng chữ Bội xả là ngược với cái tham ái, ly tham ái kêu bội xã. Bội là nghịch bội, bội xã là vi sơ môn, thắng xứ là vi trung môn. Thập nhất biến xứ là quán sắc, huỳnh, xích, bạch, địa, thủy, hỏa, phong, không và thức, mà quán 10 cái này biến khắp cả vũ trụ.

* Trang 555 *
device

Tỷ dụ như khi quán màu xanh, mới đầu nương vào ngọn lá xanh, sau đó quán màu xanh, nhắm mắt mở mắt đều thấy màu xanh đó, cho đến khi thấy màu xanh khắp vũ trụ. Như vậy để tỏ rằng quán tâm của mình rất mạnh, muốn biết vũ trụ như thế nào cũng đều được hết gọi là biến xứ. Biến xứ là biến cùng khắp hết hay là Thập nhất thiết xứ, là 10 cái cùng khắp tất cả hay là 10 cái nhất thiết. Cũng như vậy, thử tam pháp viễn ly đó là ba pháp môn thiền định để xa lìa tham ái ở trong ba cõi.]
 
 Tiết III : Tám thắng xứ và mười biến xứ
  Tám thắng xứ là trong có sắc tưởng quán sắc ngoài ít, trong có sắc tưởng quán sắc ngoài nhiều, trong không sắc tưởng quán sắc ngoài ít, trong không sắc tưởng quán sắc ngoài nhiều, trong không sắc tưởng quán sắc ngoài xanh, trong không sắc tưởng quán sắc ngoài vàng, trong không sắc tưởng quán sắc ngoài đỏ, trong không sắc tưởng quán sắc ngoài trắng. Trong đây hai cái 1, 2 giống cái giải thoát thứ nhất trên kia, hai cái 3, 4 giống cái giải thoát thứ hai trên kia, bốn cái sau giống cái giải thoát thứ ba tên kia. Sao gọi thắng xứ ? Là chế phục được cảnh sở duyên, tâm ở vào cảnh thù thắng vậy.
  Mười biến xứ là quán sát mười pháp sau đây biến khắp tất cả mọi nơi. Từ quán đại địa biến khắp mọi nơi cho đến quán thủy đại, hỏa đại, phong đại, sắc xanh, sắc vàng, sắc đỏ, sắc trắng, không vô tận, thức vô tận mỗi mỗi đều biến khắp mọi nơi, nên gọi biến xứ.

* Trang 556 *
device

 
Đại cương Luận Câu Xá