LOGO VNBET

DẪN NHẬP
[Bây giờ tôi mới dẫn nhập chứ chư bàn đến chính luận. Phần dẫn nhập này có những vấn đê tương quán đến chính luận, gọi chung là phần dẫn nhập.]
 

SỰ HÌNH THÀNH CỦA A-TỲ-ĐẠT-MA
 
[A-tỳ-đạt—ma nói chung, A-tỳ-đạt-ma Câu-Xá luận nói riêng.
Trước hết nói về A-tỳ-đạt-ma, sau nói về Câu-Xá
Theo trong bài này thì có] Ba tạng: Tu-đa-la tạng, Tỳ-nại-da tạng, A-tỳ-đạt-ma tạng.
Chữ A-tỳ-đạt-ma luận thường để chỉ các luận thư của các bộ phái, chứ không dùng cho các luận thư Đại thừa.[Hiểu như vậy để các vị có tra tự điển, ví dụ tra chữ Abhidharma hay đọc bộ luận nào mà có chữ A-tỳ-đạt-ma thì biết đó là luận của Tiểu thừa bộ phái, chứ không phải là luận của Đại thừa. Bên luận Đại thừa người ta chỉ để chữ Đại thừa chứ không có chữ A-tỳ-đạt-ma. Các vị nên chú ý như vậy Abhidharma không dùng cho luận Đại thừa mà chỉ dùng cho luận của các bộ phái mà thôi.] Abhidharma Trung Hoa dịch âm là A-tỳ-đàm, A-tỳ-đạt-ma và dịch nghĩa là Vô tỷ pháp, Thắng pháp, Đối pháp. [Abhidharma có nhiều nghĩa lắm]

* Trang 63 *
device


A. Định nghĩa

Nguyên trong kinh A-hàm đức Phật dùng chữ A-tỳ-đạt-ma với dụng ý tán mỹ các pháp nghĩa thâm huyền, rộng lớn không gì sánh kịp, [trong kinh hàm đức của Phật cũng có dùng chữ A-tỳ-đạt-ma. Nhưng khi ngài dũng chữ A-tỳ-đạt-ma thì nó chưa có tính cách phân tách, hệ thống như các bộ luận A-tỳ-đạt-ma sau này. Ngài dùng chữ A-tỳ-đạt-ma trong đó có nghĩa là tán mỹ. Và cho rằng các giáo phái đó càng cao, càng rộng và càng sâu xa, tức có nghĩa tán mỹ chứ không có nghĩa hệ thống hóa hay có tính cách phân tách hệ loại như các bộ A-tỳ-đạt-ma sau này. Thành thử cái nghĩa Phật dùng trong đó là dùng đơn giản thế thôi.] Nhưng dần dần nó biến chuyển qua nhiều nghĩa bởi các luận sư của các bộ phái. Như luận sư Bà-sa thì gọi A-tỳ-đạt-ma là phục pháp, vì nó hàng phục được tất cả tà thuyết của ngoại đạo.
[Bởi cho các luận tạng này có đủ sức lý luận và đủ sức phân tách để hàng phục tà thuyết của ngoại đạo cho nên dịch là phục pháp.]
Hóa địa bộ thì gọi là chiếu pháp, vì nó có khả năng chiếu soi tất cả tính tướng các pháp [cho nên gọi là chiếu pháp. Thí dụ sư. Sư đây phần nhiều chỉ cho các nhà kinh bộ thường hay dùng thí dụ để diễn tả đạo lý nên có tên là thí dụ sư. Trong các vị thí dụ sư đó, họ gọi là A-tỳ-đạt-ma, dịch là thứ pháp.] Thí dụ sư thì gọi là thứ pháp, vì Niết-bàn là tối thượng, nó dưới pháp Niết-bàn một bậc. Chính lý sư thì gọi là Thông pháp, vì nó có khả năng thấu đạt tất cả khế kinh.

* Trang 64 *
device

Hiếp Tôn Giả thì gọi là Cứu kính tuệ, Quyết đoán tuệ v.v...[Hiếp tôn giả là một vị chủ não trong cuộc kiết tập lần thứ 4 do vua Ca-nị-sắc-ca hỗ trợ và chủ xướng (như trước đã nói.]Đến ngài Thế Thân thì gọi là Đối pháp với hai nghĩa là đối hướng và đối quán. Đối là đối diện hướng tới. Đối diện hướng tới Niết-bàn gọi là Đối hướng Niết-bàn và đối diện quán sát pháp Tứ đế gọi là Đối quán. [hai chữ có hai nghĩa. Vì sao không nói quán Niết-bàn? Là vì Niết-bàn không quán được, chỉ có hướng tới, vì đó là cái đích để nhắm tới chứng ngộ, chứ Niết bàn không quán. Còn các pháp như tứ đế thì ta phải quán cho nên gọi là quán. Hai cái cũng cần phải đối hết, một cái thì đối hướng, một cái thì đối quán.] Pháp của Phật dạy không ngoài hai thứ là pháp Vô lậu thắng nghĩa (Niết-bàn) và pháp Hữu lậu pháp tướng. Trí tuệ quán sát pháp tướng và chứng nhập Niết-bàn thì gọi là Đối pháp trí hay A-tỳ-đạt-ma.
[Như vậy A-tỳ-đạt-ma là gì? Là trí vô lậu. mà chỉ có trí vô lậu mới quán rõ được các pháp của Phật, hiểu thấu các pháp của Phật nên gọi là Abhidharma.]
  Đạt-ma dịch là Pháp có nghĩa là tự giữ lấy tính cách nó (nhậm trì tự tính) và làm mẫu mực phát sinh cho sự nhận biết (quỹ sinh vật giải).
[Lúc đầu ở trong bộ phái chỉ có dùng nghĩa đầu là nhậm trì tự tánh, nhưng sau trong duy thức học thêm nghĩa thứ hai là quĩ sanh vật giải. Ghép cả hai nghĩa là: Nhậm trì tự tánh, quĩ sinh vật giải. Chữ nhậm này có nghĩa là tự nhiên, như thế tự nhiên trong bản tính của nó, giữ cái tính cách của nó như vậy chứ không phải có ai giữ giúp cho nó, không ai bên ngoài giữ giúp

* Trang 65 *
device

cho nên gọi là nhậm. Tự nó giữ cái tính của nó như thế. Nhờ nó có tính cách giữ như thế, nên có một tính cách đặc biệt so với cái khác, cho nên người ta nhìn vào đó là hiểu ngay.] Đạt-ma tức Dharma, còn Pali là Dhamma, từ tự căn Dhri (giữ lại, mag) tức là cái được nắm giữ, hay lý tưởng nếu giới hạn ý nghĩa nó trong tác vụ tâm lý.
[Chữ Pháp này nghĩa roonhj lắm. Bây giờ chỉ hạn cuộc vào trong phương diện lý tưởng, tức trong phương diện về tâm lý thì gọi là lý tưởng.] Trình độ tâm lý sai biệt tùy sự tiếp nhận của mỗi cá thể:
1. Ở đức Phật nó là sự toàn giác hay viên mãn giác (Bồ-đề).[ Cũng là pháp, Bồ-đề, Niết-bàn cũng là pháp.]
2. Lý tưởng diễn tả trong ngôn từ là giáo lý giáo pháp, [thì cũng gọi là pháp.]
3. Lý tưởng đề ra cho đệ tử theo là luật nghi, đức lý, cấm giới, [cũng gọi là pháp. Đạo đức luân lý cũng goi là pháp.]
4. Lý tưởng để chứng ngộ sẽ là nguyên lý, chân lý, bản tính, luật tắc, điều kiện, [cũng gọi là pháp. Tức nhiên là nói về chân lý của tất cả sự vật, cái để cho người ta chứng ngộ tới, ta ngộ đạt tới cũng gọi là pháp.]
5. Lý tưởng thể hiện trong một ý nghĩa tổng quát đó là sự thật thực tại, sự kiện, sự thể, yếu tố, (bị tạo hay không bị tạo), [ví dụ tứ đại, Địa, thủy, hỏa, phong là không bị tạo. Mà khi địa,thủy, hỏa, phong kết hợp lại thành cái thân thể của ta là cái bị tạo. Hay tứ đại gọi là năng tạo, mà nó nhờ có tứ đại tạo thành sắc, hương, vị, xúc, thì sắc, hương, vị, xúc gọi là tứ đại sở tạo. Còn tứ đại là tứ đại năng tạo. Năng tạo hay sở tạo gì

* Trang 66 *
device

cũng đều là pháp hết, tâm và vật, ý thể và hiện tượng. Tâm và vật, tâm cũng là pháp, vật cũng là pháp, ý thể cũng là pháp mà hiện tượng cũng là  pháp.] Trong trường hợp phái duy thật của các luận sư A-tỳ-đạt-ma, chữ Đạt-Ma được dùng nhiều nhất theo nghĩa thứ năm. [Tỷ dụ như nhất thiết hữu bộ đây là một phái luận sư thuộc về duy thực, bởi vì Nhất thiết hữu bộ chủ trương các pháp là tam thế thực hữu, pháp thể bằng hữu. Như vậy là duy thực. Họ cho rằng có một cái thực thể, các pháp có một cái thật thể tồn tại vĩnh cửu, mặc dầu sự tồn tại đó là sự tồn tại trong từng sát-na, chứ không có nghĩa là sự tồn tại liên tục. Mà đã thừa nhận pháp có sự tồn tại như thế nên gọi là phái duy thực. Phái duy thực trong A-tỳ-đạt-ma (chữ pháp được dùng nhiều nhất trong ý nghĩa thứ năm. Nói một cách khác như ta gọi Phật pháp, trong khi ta gọi Phật pháp thì nên hiểu rằng nó có 2 mặt: một mặt gọi là giáo pháp còn một mặt gọi là lý pháp. Giáo pháp là lời dạy của đức Phật, còn lý pháp là cái ý nghĩa của lời dạy dó, ý nghĩa mà đức Phật nhắm tới. Giáo pháp ví dụ như ngón tay chỉ mặt trăng. Giáo pháp là cái đức Phật nói ra, còn lý pháp là một thực tại. Đó là một chân lý do đức Phật phát minh, chứ Phật không sinh ra nó. . Ví dụ như pháp duyên khởi tính thì Phật không sinh ra nó. “Duyên khởi tính” thì dù Phật có thành Phật hay không thành Phật, duyên khởi tính của vạn pháp cũng là duyên khởi tính của vạn pháp. Cái đó thuộc lý pháp hay gọi là chứng pháp,, bởi cái đó ta phải chứng. Còn giáo pháp là cái để ta chứng cái lý pháp đó. Vì vậy, nếu không chứng được lý pháp thì chỉ kẹt vào nơi ngôn từ mà thôi, hiểu và dừng lại ở ngôn từ, ngang nơi ngôn từ và đứng lại đó chứ không thể chứng được. Cũng y như hành giả chỉ thấy ngón tay, ngang nơi ngón tay mà thôi, chứ không thể

* Trang 67 *
device

thấy được mặt trăng. Cho nên hai phạm trù đó đi đôi với nhau.]
A-tỳ tức Abhi (đó là tiếp đầu ngữ của Dharma) có nghĩa là hơn thế, nói về. Như vậy Abhidharma, có nghĩa là pháp tối thắng, hay là "Thắng", hay trần thuật về pháp. Ngài Buddhagosa (hay Phật Âm, Phật Minh) thế kỷ thứ 5  trong Na-tư-mạn-già-la Y-lạp-hy-ni (sách giải thích Dhiga Nikaya trường bộ kinh) dẫn bài tụng:" Có pháp tăng thịnh đặc thù, tôn trọng, nói rõ, tối thượng, thế gọi là A-tỳ-đạt-ma". Như vậy nó rốt ráo có hai điểm. Về nội dung thì ý nghĩa thù thắng, về phương pháp luận cứu thì tường tận khúc chiết. [Vậy thì A-tỳ-đạt-ma nó có 2 mặt. Mặt nội dung của nó là chứa đựng cái ý nghĩa cao siêu, thâm thúy và mặt luận cứu của nó thì tường tận khức chiết. Nếu như chỉ có một mặt tường tận khúc chiết mà không có cái mặt lý luận, không có cái mặt lý nghĩa sâu xa thì cũng như trong kinh chưa được thuyết minh tường tận, khúc chiết thì cũng không gọi là Abhidharma.]  Ngài Phật Âm còn nói:". Trong kinh, pháp ngũ uẩn chỉ được thuyết minh một cách đại khái chứ không đi sâu vào chi tiết, [trong kinh đức Phật nói ngũ uẩn là ngũ uẩn thôi, chứ ngài không đi sâu, không phân tích,không chia chẻ chi tiết. Ngài không nói hành uẩn là những thứ gì. Sau này mới phân tích chi tiết, thức uẩn là những thứ gì, thứ gì v.v...] còn trong A-tỳ-đạt-ma thì phân biệt kinh, phân biệt luận, phân biệt vấn đáp, nên pháp ngũ uẩn được thuyết minh một cách cặn kẽ đầy đủ".

* Trang 68 *
device

[Sau này anh em học sẽ thấy sự phân biệt về ngũ uẩn như thế nào, rõ ràng hơn mà các nơi khác chưa phân tích kỹ như ở đây.]
Luận Đại Trí Độ nói: "A-tỳ-đạt-ma là gì?  Đáp: Là đối vấn mà đáp, hoàn toàn là hình thức luận cứu, nêu ra nhiều mặt để phân biệt, như nói về 18 giới, thì phân biệt cái nào có sắc, cái nào không sắc? Cái nào có thể thấy, cái nào không thể thấy? Cái nào hữu lậu, cái nào vô lậu? Cái nào thiện, cái nào bất thiện? Cái nào hữu báo, cái nào vô báo? v.v... như thế gọi là A-tỳ-đạt-ma".
[Cái đó trong kinh không có. Trong kinh chỉ nói 18 giới là 18 giới chứ Kinh đâu nói trong 18 giới đó, cái nào có thể thấy, cái nào không thể thấy Kinh không nói đến. Chỉ có A-tỳ-đạt-ma mới nói đến.]
Lại như bảy kiết sử là dục nhiễm, sân nhuế, hữu ái, kiêu mạn, vô minh, kiến, nghi (Kinh Mật Hoàn Dụ số 115, Trung A-hàm) trong đó cái nào là dục giới hệ (trói buộc ở cõi Dục)?. Cái nào là sắc giới hệ? Cái nào vô sắc giới hệ? Cái nào kiến đế đoạn?.  Cái nào tư duy đoạn? Cái nào biến sử? Cái nào bất biến sử ? v.v... [chính trong kinh Mật Hoàn không nói tới điều này. Cho nên học ở đây để rõ nghiêm thêm trong Kinh Nikaya . Trong Trung Bộ chỉ nói một cách cô đọng, đơn thuần thôi chứ không đi vào chi tiết. Trong A-tỳ-đạt-ma mới phân tích chi tiết. Trong đó có nói 7 kiết sử này, cái nào thuộc về dục giới hệ, cái nào thuộc về sắc giới hệ v.v... Kinh không có nói. Vì vậy ở đây nói rõ nghĩa hơn bên Kinh. Bởi vì Abhidharma không nói gì hơn

* Trang 69 *
device

ngoài việc đem lý nghĩa của đức Phật nói trong A-hàm hay trong Nikaya, hệ thống nó lại , diễn dịch nó ra, phân tích nó, tìm sâu nghĩa lý của nó, chứ không phải nói cái gì khác ngoài tạng Nikaya hay bộ A-hàm hết.]
Ngài Chân Đế và ngài Huyền Trang đều dịch Abhidharina là Đối pháp, có nhiệm vụ tập hợp các pháp nghĩa lại rồi đem ra phân loại, định nghĩa, giải thích và phân biệt. Đối pháp có hai là Đối quán lý Tứ đế và Đối hướng quả Niết-bàn. Như vậy không thể hiểu Abhi,A là vô, Bhi là tỷ một cách máy móc được.
[Không hiểu một cách máy móc vô tỷ là không sánh, không hiểu như vậy được, mà phải hiểu đúng nghĩa của nó.]

B. NGUỒN GỐC CỦA A-TỲ-DẠT-MA

Nó đã bao gồm trong sự thuyết pháp của đức Phật. Đức Phật thuyết pháp một cách ung dung tự tại. Lời Phật nói đơn giản minh bạch không có gì bí mật. Phật đã phân biệt và phân loại một cách rõ ràng. Như vậy nguồn gốc của A-tỳ-đạt-ma xuất phát từ Phật.
[Đối với tôi, khi nào tôi đọc luận thì nhức óc lắm, còn khi mà đọc kinh thì rất khỏe. Đọc Nikaya lại càng khỏe hơn. Lúc đầu thú thật với anh em, khi tôi còn học ở trường chuyên học giáo nghĩa Đại thừa, khi nghe thầy phân tích lý luận thì nghe rất thâm thúy, sâu xa vô cùng. Đến khi đọc A-hàm thấy nó cạn quá, cảm tưởng không có gì sâu sắc hết. Học bên Đại thừa nói sắc sắc không không, cái lý mờ mờ, cao cao, thấy mà như không thấy, không thấy mà như thấy. Còn bên A-hàm sao thấy nó gần gữi quá. Lúc trước, nói thật, trong thời gian học đọc tới A-hàm                                                       

* Trang 70 *
device

là đọc không vô, không đọc vô nổi, bởi thấy không có ý nghĩa gì sâu sắc hết. Nhưng sau một thời gian qua dạy dỗ, viết sách và nghiên cứu giai đoạn học trò đó qua rồi, vả lại càng lớn tuổi đọc lại A-hàm và Nikaya thấy nó thích thú vô cùng. Thấy thâm thúy và sung sướng lạ đời. Tôi nói như vậy để anh em chắc cũng có cùng tâm trạng như tôi khi còn trẻ mà đọc Â-hàm. Anh em nay có cái duyên sớm đọc được Nikaya hơn chúng tôi ngày xưa. Thời chúng tôi đọc A-hàm bằng Hán văn. Kinh A-hàm này ngày xưa các ngài bên Trung Hoa phải lặn lội qua bên Ấn Độ học xong mới dịch ra Hoa ngữ mang về. Khi dịch , một lec là các ngài không rành ngôn ngữ và người chuyển dịch thì ngôn ngữ bất đồng cho nên có nhiều chỗ dịch tối nghĩa lắm. Một phần khác, khi đọc A-hàm mình thấy nội dung sao nó cạn cạn hơn so với Kinh luận Đại thừa, một phần nữa là do kinh pham chữ nghĩa nó cứ trúc trúc trắc trắc không làm sao đọc vô nổi. May thay, sau này Hòa thượng Minh Châu mới dịch ra Nikaya ra tiếng Việt khi đó đối chiếu qua đối chiếu lại, đối chiếu cho nhau thành bên A-hàm đọc dễ hiểu hơn. Đọc hay vô cùng. Đọc thấy nhẹ nhàng thoải mái không căng thẳng như đọc luận Đại thừa. Cho nên khi tôi đoch A-hàm tôi thấy na ná như đọc ngũ lục, thấy thích thú cà khỏe lắm. Trái lại khi đọc luận thì rất mệt, rất nhức óc. Vẫn biết lý luận là rất hay, mình cũng thích đi sâu vào lỹ luận đó, nhưng khi nào quá mệt óc thì đọc luận không vô nổi. Trái lại kho đọc Kinh rất khỏe, đọc ngũ lục thấy khở hơn, đọc ngũ lục thì coi như đi máy bay Boeing, mình không có dính một cái cho nơi mình hết, khi đọc thì thấy thích thú, giải thoát.
Nói thế để hiểu Kinh có tác dụng của Kinh, luận có tác dụng của luận. Phải đọc cả kinh, phải đọc cả luận. Đọc cả luận thì mới hiểu ý Kinh, đọc cả kinh với vượt bỏ phần thiên lý.                                        

* Trang 71 *
device

Lối nói của đức Phật, Ngài nói trong Kinh nói có vẻ ung dung tự tại, khỏe re chứ không có chi vướng mắc hết.]

C. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN LUẬN THƯ A-TỲ-ĐẠT-MA

[trên là nói A-tỳ-đạt-ma chung. Bây giờ nói cái luận thư A-tỳ-đạt-ma tức là nói đến bộ sách A-tỳ-đạt-ma. Trên mới là lý lẽ A-tỳ-đạt-ma, bây giờ mói nói tới bộ sách A-tỳ-đạt-ma. Vậy những bộ sách A-tỳ-đạt-ma nó xuất hiện vào lúc nào.]

1. Thời kỳ 1 : Luận thư còn giữ hình thức khế kinh. Trong thời kỳ 100 năm sau Phật Niết-bàn, chưa chia kinh luận như kinh A-hàm còn truyền đến ngày nay là do học phong của Giáo hội Tăng đoàn mà được chỉnh lý và A-tỳ-đạt-ma hóa, cho nên trong đó có những kinh mang nhiều sắc thái như luận, như kinh Tăng Nhất, Tạp A-hàm, kinh Thế Ký trong Trường A-hàm và Phân Biệt Bộ trong Trung Bộ, kinh Chúng Tập trong Trường Bộ.
[Trong khi Phật nói Kinh, có phải Phật nói hết Kinh số 1 rồi đến Kinh số 2, Kinh số 3 cho hết rồi mới đên Kinh số 4 đâu, mà trong Tăng bộ Kinh sắp xếp thứ tự như vậy. Trong đó Phật nói Kinh một pháp xong rồi đến Kinh hai pháp, hai pháp xong rồi lên Kinh 3 pháp, ba pháp xong rồi lên Kinh bốn pháp, cứ chồng lên nhau, chồng lên nên kêu tăng nhất. Một tăng thêm 1 thành 2 pháp, tăng thêm 1 thành 3 pháp, tăng thêm 1 thành 4 pháp. Cứ tuần tự như vậy tức nhiên phải biết đó là sự chỉnh lý của Tăng đoàn sau này, chứ không phải Phật nói nguyên thứ tự như vậy. Không phải Phật nói 5 ngày pháp số 1 xong rồi, rồi mới đến 5 ngày pháp thứ 2, 5 ngày pháp thứ 3 xong rồi mới đến 5 ngày pháp thứ 4... không phải vậy. Ngài tùy duyên thuyết pháp. Căn cơ của chúng sinh thích hợp 1 pháp thì

* Trang 72 *
device

ngài nói một pháp, thích hợp 2 pháp thì nói 2 pháp, chứ không phải ngài nói theo thứ lớp đâu. Sở dĩ trong Kinh Tăng nhất nói thứ lớp đó là do sự chỉnh lý của Tăng đoàn về sau này. Mà sự chỉnh lý thế là Abhidharma rồi, là luận tạng rồi, nó giúp cho người đọc hiểu rõ thêm kinh. Luận đầu tiên là như vậy đó. Hay trong tạp A-hàm, cũng chia ra từng loại, loại nào ra loại đó, và đó cũng là cách chỉnh lý của Tăng đoàn rồi, hay là như Kinh Thế Ký trong trường A-hàm. Trường bộ kinh của Pali không có Kinh Thế Ký. Không nói kiếp tăng  kiếp giảm, đại tam tai tiểu tam tai gì hết, không có tác phẩm loại đó, như loại Rồng, Kim xí điểu, không có những loại này. Nhưng trong Kinh Thế Ký thuộc trường A-hàm ở Hán tạng có những loại đó. Do vậy trong Kinh Thế Ký là một loại Abhidharma mà tăng đoàn chỉnh lý, thêm vào trong phân biệt bộ trung Trung bộ là đã phân loại như thế là có tính cách của Nikaya  hay là Kinh Chúng tập cũng có tuần tự như thế, đó cũng là hình thức của luận Nikaya hết. Tên thì tên Kinh nhưng hình thức thì luận, đều là do Tăng đoàn chỉnh đốn lại hết.]

2. Thời kỳ 2 : Luận thư giải thích nghĩa kinh. Lấy kinh làm bối cảnh rồi định nghĩa, phân loại, phân biệt, giải thích những điều đã nói trong kinh chứ chưa phát huy vấn đề gì đặc sắc độc lập, như Vô Ngại Đạo Luận của Phật Âm, Ma-ha-ni-luật-sa, Cưu-lạp-ni-luật-sa trong Tiểu Bộ hay như Hán dịch Pháp Uẩn Túc Luận, Tập Dị Môn Túc Luận.
[Đây là những bộ luận giải thích nghĩa kinh – giải thích từng câu Kinh. Câu Kinh như thế nào thì giải thích vừa với cái tầm mức theo câu Kinh đó, chứ không đi quá rộng. Đó là luận mà giải thích Kinh. Trường hợ này chính ngài Hiếp Tôn giả đã

* Trang 73 *
device

từng làm bộ A hàm Ưu-ba-đề-xá (Ưu-ba-đề-xá cóhai  nghĩa là luận hay luận nghĩa). Nhưng bộ luận đó ra đời thì gặp bác học thuyết của ngài Long Thọ thịnh hành quá nên bộ luật này ẩn đi, không truyền bá được. Đó là một loại giải thích nghĩa Kinh hay như bộ Trí độ luận của Ngài Long Thọ là một bộ phận giải thích tiểu phẩm Bát-nhã. Đó cũng là giải thích nghĩa Kinh.]

3. Thời kỳ 3 : Luận thư tiến tới độc lập. Thời kỳ này Luận thư không còn bàn giải nghĩa kinh mà lấy tất cả đề mục của các kinh tập hợp lại rồi phân loại một cách tường tận và theo mọi tiêu chuẩn để phân biệt tính chất các đề mục ấy, nội dung dần dần bao hàm các vấn đề sự thật độc lập hẳn với kinh luật. Đó là thời kỳ xuất hiện bảy bộ luận của Phật giáo Nam phương và Đại Tỳ-bà-sa luận của Hữu bộ, Thành Thật luận của Kinh bộ.
[Thành thật luật của Kinh bộ. Tỷ dụ như Câu-xá luận này cũng không dính dáng gì tới Kinh hết. Nó lấy đạo lý Tứ đế của Kinh để diễn dịch ra thành luận. Hoặc như trung quán luận cũng không dính gì Kinh hết. Thập nhị môn luận, Thành duy Thức luận cũng không dính gì kinh hết, nó chỉ lấy cái ý trong Kinh mà lập ra luận riêng hoặc là lấy một câu Kinh,hoặc lấy ý trong Kinh để lập thành một bộ luận độc lập với Kinh,không dính gì kinh hết, khác với trên là giải thích từng câu Kinh, Kinh nói sao thì giải thích vậy. Kinh có 10 câu thì giải thích 10 câu, Kinh có 50 câu thì giải thích 50 câu... Đó là luận giải thích Kinh. Bây giờ không giải thích theo kiểu đó nữa, mà chỉ lấy ý hay lấy từng đề mục ra làm luận riêng như Câu-xá luận hay Đại Tỳ-bà-sa-luận, Phát trí luận v.v...]

4. Thời kỳ 4 : Là thời kỳ Luận thư cương yếu. Các luận thư A-tỳ-đạt-ma phát huy giáo nghĩa của các bộ phái 

* Trang 74 *
device

khi đã phát triển thì mắc phải cái nạn quá nhiều, đua nhau mà làm luận, làm quá nhiều. Khi đã làm quá nhiều thì khó học hỏi nổi, nên đòi hỏi phải có các luận thư toát yếu. Bộ luận thư toát yếu ra đời đầu tiên là bộ A-tỳ-đàm Tâm Luận của Pháp Thắng (Đạt-ma-thi-la), đến Tạp A-tỳ-đàm Tâm Luận của Pháp Cứu, học trò Pháp Thắng, rồi đến Câu-xá luận  của ngài Thế Thân, Thanh Tịnh Đạo luận của ngài Phật Âm, luận A-tỳ-đạt-ma Nghĩa Tập của ngài A-nậu-lâu-đà. Hai bộ sau này thuộc Thượng tọa bộ Tích Lan.
[ Thượng tọa bộ Tích Lan gọi là A-tỳ-đạt-ma Thắng pháp tập yếu  luận tực tân Thượng tọa bộ. Thượng tọa bộ nằm này ở Ấn Độ thì khác. Còn khi qua Tích lan thì nó biến đổi khác cho nên ta gọi là tân Thượng tọa bộ. Nói chung, thời kỳ thứ tư gọi là thời kỳ của luận tóm tắt hay luận cương yếu. Thời kỳ thứ ba là luận mở rộng, độc lập với Kinh. Thời kỳ thứ hai là luận giải thích Kinh. Thời lỳ thứ nhật là luận chỉ sắp đặt Kinh lại cho có thứ tự, chứ không thêm gì cả. Rõ ràng như vậy. Trong 4 thời kỳ này ta tóm tắt lại làm 2 thứ luận là : Thích luận và Tôn luận.
Thích luận : là học Kinh nào đem ra giải thích kinh đó, dựa theo Kinh đó mà giải thích thành luận. Ví dụ như Lăng Nghiêm Kinh sớ - sớ có nghĩa luận. Đó là thích luận hay Lăng Già sớ sao, đó gọi là luận. Lăng già giải thích, Kim cang giải lục đó là Thích luận. Còn loại Tôn luận là lấy ý nghĩa trong Kinh mà làm ra bộ luận riêng. Ví dụ như trung luận, Thập nhị môn luận hay Bách luận, nó không dính gì Kinh hết. Nó chỉ lấy ý của Kinh mà làm ra thôi, cũng như Câu-xá luận , như Đại Tỳ-ba-sa luận, Phát trí luận nó không có hình thức giải thích Kinh nữa, mà nó tôn ý trong Kinh ra làm bộ luận riêng, gọi là

* Trang 75 *
device

Tôn luận. Học như vậy để khi đọc vào trong Tạng Kinh sẽ thấy điều đó.]
Tóm lại, phương pháp xử lý vấn đề của các A-tỳ-đạt-ma là trước hết nó hoàn toàn phụ thuộc vào kinh, chỉ có kinh là có quyền chứng tuyệt đối. Rồi dần dần từ việc giải thích từng mỗi câu kinh tiến lên thuyết minh toàn thể tư tưởng được gói ghém trong các câu kinh, trong sự tiến bộ đó nó đã nảy sinh ra thái độ phê phán tư tưởng trong kinh, cho đến khi không còn bị kinh chi phối, thậm chí không tôn trọng kinh bằng luận. Luận Đại Tỳ-bà-sa cuốn 51 nói: "Nếu cứ khư khư chấp chặt từng câu kinh mà không đạt quan chân lý của nó thì người ấy là "Trước văn Sa-môn". Đó là thái độ của Hữu bộ lấy A-tỳ-đạt-ma làm trung tâm. Và theo ngài Chân Đế thì Kê Dẫn Bộ còn cho rằng: "Kinh luật chẳng qua chỉ là phương tiện, còn đệ nhất nghĩa đế chính thật nằm trong A-tỳ-đạt-ma".
[Họ cho A-tỳ-đạt-ma mới nói tới cái ý nghĩa sâu xa. Cả Hữu bộ và Thượng tọa bộ cũng có thái độ mà thôi. Ngay như Tích Lan, Miến Điện cũng có thái chấp chặt cho rằng chỉ có A-tỳ-đạt-ma mới là quan trọng. Hòa thượng Minh Châu đã từng du học ở Tích Lan và Ấn Độ, đôi khi Hòa Thượng cũng phải ưu tư về quan điểm cố chấp này. Các anh em cũng biết Hòa thượng khi giảng kinh cũng rất dè dặt, ít triển khai rộng vì sợ đi quá xa Kinh. Thái độ của các nhà A-tỳ-đạt-ma thì rất rõ ràng. Câu Kinh đáng giảng 5 câu thì họ giảng đúng 5 câu thôi, còn nếu giảng thêm 6,7 câu thì họ không dám. Ở Miến Điện hay Tích Lan họ rất tôn trọng luận, còn Kinh họ coi nhẹ hơn luận. Hòa thượng Minh Châu nói chuyện với tôi nhiều khi Hòa thượng cũng không đồng tình với thái độ đó.]      

* Trang 76 *
device

Như vậy A-tỳ-đạt-ma đã có chỗ đặc sắc không giống khế kinh. Chẳng hạn, ở khế kinh chú trọng giá trị tu chứng thực tiễn theo chủ trương "chuyển mê khai ngộ" cho nên những điều gì không thiết thực giúp cho việc chuyển mê khai ngộ thì đức Phật bỏ qua không nói đến. [Đọc kinh tạng Pali (Nikaya) thì chúng ta gặp điều này rất nhiều.] Trong những Pháp môn Ngài dạy để chuyển mê khai ngộ, Ngài chỉ dạy những điều vừa đủ hiểu để tu hành, nhưng đến A-tỳ-đạt-ma thì chuyển sang chú trọng nghiên cứu vấn đề sự thật. Thay vì xử lý các vấn đề tu dưỡng trước, thì A-tỳ-đạt-ma lại lo thuyết minh một cách tinh tế về sự thật liên quan đến nhân sinh vũ trụ trước rồi sau mới đề cập vấn đề tu dưỡng. Chủ ý các luận sư A-tỳ-đạt-ma tuy không coi thường vấn đề tu dưỡng nhưng muốn xác lập lý tưởng tu dưỡng thì trước phải xác định sự thật.   
[chủ ý của họ là như vậy, nên họ lại làm khác đi.]
Sau hết, nhìn vào phạm vi phân chia các vấn đề cứu xét sự bất đồng giữa mới và cũ. Lúc đầu A-tỳ-đạt-ma chỉ luận cứu những đề mục đặc thù như thiền định, trí tuệ... Nhưng trong quá trình tiến bộ liên tục nó đã lấy việc thuyết minh các đề mục đó một cách hệ thống làm nhiệm vụ và để tránh khó khăn nó lại chia các vấn đề đó ra từng bộ môn (chư môn phân biệt). Do đó mới có nhiều luận thư, và sau cùng để tiện việc học hỏi lại có các luận thư cương yếu ra đời.

D. Các Luận thư của Thượng tọa bộ
1. Pháp Tụ Luận (Dhamma Sanghani)  

* Trang 77 *
device

2. Phân Biệt Luận (Vibhanga)
3. Giới Thuyết Luận (Dhatu Katha)
4. Nhân Thi Thiết Luận (Pudgala Pannati)
5. Song Đối Luận (Yamaka)
6. Pháp Trí Luận (Patthana)
7. Thuyết Sự Luận (Kathavasthu)
Ngoài bảy luận thư cơ bản này còn có các luận thư được sáng tác tiếp theo:
- Thanh Tịnh Đạo Luận (visudhimagga) của ngài Phật Âm thế kỷ V TL, có giá trị như một bộ bách khoa toàn thư Phật giáo, tính chất tương đương Câu-xá Luận đối với Hữu bộ. Đây là sách tiêu chuẩn của tân Thượng tọa bộ.
- Trường Tập Kinh Chú Sớ (Sumangala Vilasini) sách giải thích Trường Tập Kinh (Trường Bộ Kinh).
- Attha Salina, sách chú thích bộ Luận Pháp Tụ.
- Ngũ Thư Thuật Nghĩa (Panca-Pakarana At- thokattha): Năm sách Chú sớ Đối pháp tạng.
Sau ngài Phật Âm có nhiều tác phẩm ra đời, trong đó có giá trị nhất là bộ A-tỳ-đạt-ma Nghĩa Tập Luận (Abhidharmattha Sangaha; H.T Minh Châu dịch Thắng Pháp Tập Yếu) này do ngài A-nậu-lâu-đà (Anuruddha) viết thế kỷ VIII T.L. Đây là bộ sách ngắn gọn toát yếu giáo nghĩa Phật giáo, làm sách chỉ nam của Phật giáo Nam phương, với những giải thích xác đáng rõ ràng giáo nghĩa của Thượng tọa bộ nên nhiều nơi đã dùng nó thay cho Thanh Tịnh Đạo Luận.                                                                          

* Trang 78 *
device

Đ. Các Luận thư của Hữu bộ

1. Pháp Uẩn Túc Luận (Dharma Skandha): 12 cuốn, do Đại-Mục-kiền-liên (Mahamogalyayana), có thuyết nói do Xá-lợi-phất viết lúc Phật tại thế.
2. Tập Dị Môn Túc Luận (Sangti paryaya pada) do Xá-lợi-phất viết lúc Phật tại thế. (20 cuốn)
3. Thi Thiết Túc Luận (Prajnapti): Do Ca-chiên-diên (Kaiyaya) viết lúc Phật tại thế, chưa dịch ra Hán văn.
4. Thức Thân Túc Luận (Vijnanakaya): 16 cuốn do Đề-bà-thiết-ma (Devasarman) viết sau Phật Niết-bàn 100 năm.
5. Phẩm Loại Túc Luận (Ptrakarama): 18 cuốn do Thế Hữu viết sau Phật Niết-bàn 300 năm, cũng dịch là Chúng Sự Phần A-tỳ-đàm Luận.
6. Giới Thân Túc Luận (Dhatukaya): 3 cuốn do Thế Hữu viết sau Phật Niết-bàn 300 năm(1)
7. Phát Trí Luận (Janna Prasthana, A-tỳ-đàm Bát-kiền-độ Luận): 20 cuốn do Ca-chiên-diên tử (Katyayaniputra - Ca-na-diễn-ni tử) viết sau Phật Niết-bàn 300 năm.
Bảy bộ luận này, bộ Phát Trí gọi là Thân Luận, còn sáu bộ kia gọi là Túc Luận, vì nó là chỗ dựa cho luận Phát Trí được thành, và vì nghĩa lý chứa đựng trong nó ít ỏi không bằng nghĩa lý trong Phát Trí Luận rộng hơn.
 

(1) Có trước Đại Tỳ Bà Sa. Có giá trị nhất trong các luận khác thời đó. Sau đệ tử thấy nhiều mới gom lại thành Giới ThânTúc Luận
 

* Trang 79 *
device

Trong đó ba bộ viết ra lúc đức Phật còn tại thế, bốn bộ viết ra sau khi Phật Niết-bàn. Ngoài bảy bộ luận cơ bản này, Hữu bộ còn có các luận thư để quảng diễn nghĩa lý các bộ trên như:
- Luận Đại Tỳ-bà-sa (Mahavibhasa) 200 cuốn, là kết quả của Đại hội Kiết tập lần thứ tư vào giữa thế kỷ II T.L tại Ca-thấp-di-la (Kasmir, Kế Tân) do các ngài Thế Hữu, Diệu Âm, Giác Thiên, Pháp Cứu, Hiếp Tôn Giả chủ trì với sự ủng hộ tận lực của vua Ca-nị-sắc-ca (Kaniska). Bộ này quảng diễn giáo nghĩa của luận Phát Trí.
- A-tỳ-đàm Tâm Luận (Abhidharmahridaya) do Pháp Thắng (Đạt-ma-thi-la) tạo vào thế kỷ VI sau Phật Niết-bàn (đầu thế kỷ III T.L), toát yếu Đại Tỳ-bà-sa Luận.
- Tạp A-tỳ-đàm Tâm Luận (Samyutara Abhidhar-mahridaya) do đệ tử của ngài Pháp Thắng là Pháp Cứu (Tăng-già-bạt-ma) tạo vào thế kỷ VII sau Phật diệt độ (đầu thế kỷ IV T.L) nhằm làm rõ nghĩa trong A-tỳ-đàm Tâm Luận, vì cho A-tỳ-đàm Tâm Luận quá giản lược.
- Câu-xá Luận (Abhidharma Kosa) do Thế Thân (Vasubhandhu) tạo vào 900 năm sau Phật diệt độ (đầu thế kỷ V T.L), 30 cuốn.
 - Thuận Chính Lý Luận: 80 cuốn, do Chúng Hiền đồng thời Thế Thân tạo, nhằm bác lại Câu-xá.
 - Hiển Tông Luận: 40 cuốn do Chúng Hiền tạo, nhằm nêu bật tông nghĩa của Hữu bộ.
- Kinh Lượng Bộ - Có Thành Thật Luận 20 cuốn.

* Trang 80 *
device

E. Các Luận thư do ai nói

Theo ngài Phật Âm trong Nam phương Phật giáo thì cho rằng, sau khi thành đạo, đức Phật ngồi tư duy dưới cội Bồ-đề, và về sau trong các buổi thuyết pháp cho thân mẫu trên cung trời Đao-lợi, chính đức Phật đã nói sáu bộ luận đầu trong số bảy luận thư thuộc Thượng tọa bộ. Sáu luận thư này đã được hình thành tại Đại hội Kiết tập lần thứ ba, còn bộ Luận Sự thứ bảy do Mục-kiền-liên tử Đế-tu làm ra khoảng 200 năm sau Phật Niết-bàn, nhưng cũng do lời Phật chú ký mà làm, nên về quan hệ vẫn được xem như do chính Phật nói. Trái lại, về phía Bắc phương Phật giáo thì cho rằng các luận thư A-tì-đàm không phải do Phật nói mà là do các đệ tử Phật nói trong các thời gian khác nhau, hoặc trong lúc Phật tại thế, hoặc sau khi Phật Niết-bàn. Quan điểm của Bắc phương sát với sự thật hơn.
[Có chỗ này hơi khác một chút: chúng ta thấy các Luận của Thượng tọa bộ sao không thấy để tên tác giả, còn Luận thư của Hữu bộ thì có tên tác giả. Đó là hai chỗ khác nhau vì hai quan điểm khác nhau. Bên Thượng tọa bộ cho rằng các Luận thư, các Luận tạng đều là do Phật nói, đều do Phật dạy hết. còn bên Hữu bộ thì có hai ý kiến. Ý kiến của Tá-bà-đa cũng cho là Phật nói hoặc Phật huyền ký mà nói. Nhưng ý kiến của Ngài Thế Thân thì không tin như vậy, cho nên trong này ngài có những câu như: “truyền ngôn Phật thuyết” – ta truyền lại cho rằng đó là do Phật nói. Khi ngài dùng chữ “truyền” như vậy là vì ngài không tin hẳn đó là lời Phật dạy. Thượng tọa bộ cũng có 7 luận thư. Nhưng trong 7 luận thư của

* Trang 81 *
device

Thượng tọa bộ không thấy để tên tác giả là vì lẽ đó. Bên Hữu bộ có tên tác giả là vì Hữu bộ cho rằng, đó là do các vị đệ tử của Phật nói , nên khác nhau là ở chỗ đó.]
*

* Trang 82 *
device

 
Đại cương Luận Câu Xá