LOGO VNBET
LUẬN A-TÌ-ĐẠT-MA CÂU-XÁ
Tôn giả Thế Thân tạo
Tam tạng pháp sư Huyền Trang dịch
 
Quyển I: Phẩm 1 Phân biệt giới 1
 
                      Kính lễ như thị như lý sư,
                       Bậc dứt trừ phiền não vô trí,
                       Cứu chúng sinh khỏi bùn sinh tử.
             Con nay nói luận Đối Pháp Tạng,
                       Tịnh tuệ, tùy hành là Đối pháp,
                       Cùng các tuệ luận được như vậy.
                         Nếu lìa trạch pháp định vô dư,
                         Diệt được các hoặc, phương tiện tốt.
                         Vì hoặc thế gian trôi biển hữu,
                          Do đó có Đối pháp Phật nói.
 
*
Pháp hữu lậu, vô lậu
Duy Đạo đế vô vi.
Các lậu kia tăng dần,
Nên gọi là hữu lậu,
Vô lậu là Đạo đế
Và ba pháp vô vi
Là hư không hai diệt.
Trong đó không, vô ngại,
Trạch diệt là trói buộc.
Do trói buộc thành khác,
Rốt ráo ngại sẽ sinh

 
Nên gọi phi trạch diệt.
Lại các pháp hữu vi,
Gồm năm uẩn là sắc …
Cũng gọi thế lộ, ngôn,
Y, hữu ly, hữu sự,
Hữu lậu là thủ uẩn.
Cũng gọi là hữu tránh
Và khổ tập thế gian,
Kiến xứ cùng tam hữu.
Sắc gồm có năm căn
Năm cảnh và vô biểu
 
 

* Trang 618 *
device


Thức y vào tịnh sắc,
Có năm căn là nhãn …
Sắc có hai hoặc hai mốt.
Thanh thì chỉ có tám.
Vị: sáu hương bốn loại.
Xúc: mười một làm tính.
Chư Phật xuất thế vui,
Diễn thuyết vui chính pháp,
Tăng chúng hòa hợp vui,
Đồng tu vui tinh tiến.
Nào loạn tâm, vô tâm,
Theo dòng tịnh, bất tịnh,
Tùy đại chủng lưu chuyển,
Tính không gọi vô biểu.
Đại chủng có bốn giới
Là đất, nước, lửa, gió.
Thành các nghiệp như trì …
Tính cứng, ướt, nóng, động.
Đất là hiển hình sắc,
Theo ý nghĩ đặt tên.
Nước, lửa đều như thế
Và gió cũng như vậy.
Kẻ tham dục tìm đến,
Thường đem long mong cầu.
Dục tâm mà không đạt,
Sầu đau như tên bắn.
Trong đây căn và cảnh
Kể có mười xứ, giới
Thụ lãnh tùy theo xúc
Tưởng lấy tượng làm thể
Ngoài bốn là hành uẩn.
Như vậy thụ … ba thứ
Và vô biểu vô vi
Là pháp xứ, pháp giới.
Thức là liễu biệt riêng,
Do đó gọi ý xứ.
Nên biết bảy tâm giới,
Sáu thức thành ý căn.
Do sáu thức làm thể
Liên tục diệt là ý,
Chỗ nương của thức sáu
Nên gọi mười tám giới.
Tóm thu tất cả pháp
Do một uẩn, xứ, giới
Cùng tính chất thu giữ,
Khác tính chất cách ly.
Như cảnh, thức đồng nhau,
Tuy hai giới một thể.
Nhưng để cho rạch ròi,
Nhãn, nhĩ … đều sinh hai.
Tụ, sinh môn, chủng tộc
Là nghĩa uẩn, xứ, giới.
Ngu căn lạc đều ba
Nên nói uẩn, xứ, giới.
Nhân tránh căn, sinh tử.
Và thứ lớp làm nhân
 

 

* Trang 619 *
device

Nên trong tâm sở pháp,
Thụ, tưởng chia hai uẩn.
Uẩn không gồm vô vị,
Vì nghĩa không tương ứng.
Tùy theo thô, nhiễm, khí,
Giới biệt thứ lớp lập.
Năm cảnh trước là hiện,
Bốn cảnh là sở tạo.
Các dụng nhanh, rõ, xa,
Hay tùy chỗ thứ lớp,
Là sai biệt tối thắng
Gồm nhiều pháp tăng thượng.
Nên một xứ là sắc,
Cũng gọi là pháp xứ.
Đức Mâu-ni nói uẩn.
Quyển II. Phẩm 1: Phân biệt giới 2
Một hữu kiến là sắc,
Mười hữu sắc có đối.
Trừ sắc, thanh còn tám
Vô ký ba thứ kia
Là xứ tâm dục sinh
Thứ khác ngại không khởi
Nên biết là hữu đối.
Khác hữu đối: Vô đối
Thuộc Dục giới mười tám
Thuộc sắc giới mười bốn Ý:
Số đến tám mươi ngàn
Lấy thể nó gọi tên
Sắc này gồm hành uẩn.
Các pháp uẩn được nói
Như các luận thuyết kia.
Hoặc nói là tùy uẩn
Như thật hành đối trị.
Như vậy các uẩn khác
Đều tùy chỗ tương ưng
Như đã nói ở trước
Cần xét rõ tự tướng.
Không giới là trống hở.
Nói phô là sáng tối.
Thức giới: Thức hữu lậu.
Hữu tình sinh sở y.
Trừ hương, vị hai thức
Vô sắc là ba sau
Ý pháp thông ý thức.
Ngoài ra là hữu lậu.
Năm thức có tầm, từ,
Bas au, ngoài ba không
Nói năm, không phân biệt
Do tùy niệm so lường
Vì ý địa tán tuệ.
Các niệm làm thể.

 

* Trang 620 *
device

Bảy tâm pháp giới nửa                                                        M
Có sở duyên, ngoài: không
Tám giới trước và thanh
Không chấp thụ, ngoài: hai.
Trong xúc giới có hai
Ngoài chín sắc tạo nên.
Pháp một phần cũng vậy,
Mười sắc tích tập được
Chỉ có ngoài bốn giới
Có năng tích sở tích
Cũng goi là sở thiêu
Hay được gọi năng thiêu.
Trong năm đó là thục.
Thanh, không dị thục sinh,
Tám vô ngại đẳng lưu
Là tính dị thục sinh.
Ngoài ba, chỉ có pháp
Sát – na chỉ bas au.
Nhãn cùng nhãn thức giới
Riêng đều được không cùng
Trong mười hai là nhãn…
Sắc … sáu là ngoài.
Do khéo điều phục ngã,
Người trí được sinh thiên.
Nên khéo léo điều phục tâm.
Tâm điều phục : an vui
Pháp đồng phần hai thứ
Tự nghiệp : tác bất tác.
Mười lăm phải đoạn trừ
Ba sau thông tám giới
Bất nhiễm không sáu đường
Sắc định chẳng kiến đoạn
Nhãn pháp giới một phần.
Tám thứ gọi là kiến
Năm thức tuệ câu sinh
Vì không kiến không độ
Nhãn kiến sắc đồng phần
Nó không thể y thức
Truyền nói không thể quán
Vì nó ngăn các sắc
Hoặc hai, nhãn cùng lúc
Vì tháy sắc rõ ràng
Nhãn, nhĩ, ý căn cảnh
Không đến ba trái nhau
Nên biết ba là tỹ …
Chỉ chấp cảnh đẳng lượng.
Sau chỉ  y quá khứ
Hoặc năm thức cùng y.
Theo căn thành thức khác
Nên nhãn … gọi là y.
Nó và không cùng nhân
Nên theo căn gọi thức.
Nhãn chẳng duwois nơi thân
Sắc thức chẳng trên nhãn
Sắc nơi thức tất cả
Hai nơi thân cũng vậy

* Trang 621 *
device

Và nhãn , nhĩ cũng thế.                                  
Ba kiế tiếp tự nó
Thân thức từ bậc dưới
Thường pháp giới vô vị
Pháp một phần là căn
Cùng nội giới mười hai.

Quyển III Phẩm 2 : Phân biệt căn 1

Truyền thuyết năm, lấy bốn.
Bốn căn có hai loại
Trong năm tám nhiễm tịnh
Riêng rẽ làm tăng thượng.
Tâm dắt dẫn thế gian
Tâm nhiếp thụ tất cả.
Như vậy tâm : một pháp
Đều tùy hành tự tại
Rõ tự cảnh tăng thượng
Đều lập nơi sáu căn.
Từ thân lập hai căn
Tính năm nữ tăng trưởng
Trong đồng trụ tạp nhiễm
Vì thanh tịnh tăng thượng
Nên biết mạng năm thụ
Như tín … lập thành căn
Chưa, sẽ và đã biết.
Biết các căn cũng vậy
Và sau khi đắc đạo
Được Niết – bàn tăng thượng
Tâm sở theo đây khác.
Trụ đây là tạp nhiễm,
Tư lương đây là tịnh.
Do đây mà lập căn
Hoặc lưu chuyển sở y
Và sinh, trụ, thụ dụng
Lập mười bốn thứ trước
Hoàn diệt sau cũng vậy.
Thân không ưu là khổ.
Khổ mà ưu thành vui.
Và ba định tâm ưa
Các thứ gọi là hỷ.
Tâm không ưa là ưu.
Trung, xả, hai không khác.
Kiến tu và vô học
Y chín lập ba căn.
Duy vô lậu ba sau,
Hữu sắc, mạng, ưu khổ
Chỉ hữu lậu không hai.
Ngoài ra là chín căn.
Chỉ mạng là dị thục.
Ưu và tám sau : khác
Sắc ý cùng bốn thụ
Mỗi mỗi đều thông hai,

* Trang 622 *
device

Phạm hạnh diệu thành lập.
Thánh đạo  đã khéo tu
Thọ hết thì hoan hỷ
Giống như hết các bệnh.
Ưu, định có dị thục,
Tám bước, ba sau : không.
Ý và các thụ, tín …
Mỗi mỗi đều thông hai.
Chỉ thiện … tám căn sau
Ưu thông thiện, bất thiện.
Ý cùng thụ .. ba thứ
Tám trước là vô ký
Dục, Sắc, Vô sắc giới
Thứ tự trừ ba sau
Gồm nam, nữ, ưu khổ
Và trừ sắc hỷ lạc.
Ý ba thụ thông ba,
Ưu kiến tu sở đoạn.
Chín là tu sở đoạn.
Năm tu không ba phi
Dục thai, noãn, thấp sinh
Mới được hai dị thục.
Hóa sinh sáu  bảy tám.
Sắc sáu trên là mạng
Chính tử diệt các căn.
Vô sắc : ba. Sắc : tám.
Dục gấp mười chín tám.
Hoãn bốn thiện, thêm năm.
Chín đắc biên hai quả.
Bảy tám chín có hai.
Mười một A – la – hán
Y nhất dung hữu thuyết
Thành tựu mang ý xả
Đều định thành tựu ba.
Nếu thành tựu thân lạc
Đều định thành tựu bốn.
Thành nhãn nhỉ … và hỷ
Đều định thành năm căn.
Nếu thành tựu căn khổ
Sẽ định thành tựu bảy.
Nếu thành ưu, nam, nữ
Thì tín … đều thành tám
Hai vô lậu: mười một.
Sơ vô lậu : mười ba.
Rất ít : tám vô thiện
Thành thụ thân mạng ý.
Ngu sinh Vô sắc giới
Thành thiện mạng ý xả.
Nhiều nhất thành mười chín
Hai hình trừ ba tịnh.
Bậc thánh chưa y dục
Trừ hai tịnh, một hình.

* Trang 623 *
device

Quyển IV Phẩm 2 : Phân biệt căn 2

Dục vi tụ vô thanh
Vô căn có tám việc.
Có thân căn : chín việc,
Mười việc : các căn khác.
Tâm, tâm sở đầy đủ,
Hoặc được các hành tướng.
Tâm sở lại có năm
Đại địa pháp đều khác.
Thụ, tưởng, tư, xúc, dục,
Tuệ niệm cùng tác ý,
Thắng giải tam-ma-địa
Biến khắp tất cả tâm.
Tín và bất phóng dật,
Khinh an, xả, tàm, quí
Hai căn và bất hại.
Cần thì gồm thiện tâm
Si, dật, đĩa, bất tín
Hôn, trạo chỉ có nhiễm,
Chỉ gồm tâm bất thiện,
Vô tàm và vô quí,
Phẫn, phú, xan, tật, não,
Hai, hận, siểm, cuống, kiêu
Các loại như thế là
Tiểu phiền não địa pháp,
Dục có tầm từ nên
Ở trong thiện tâm phẩm.
Hai mươi hai tám sở
Có khi thêm ác tác.
Nếu không cùng bất thiện
Thì chỉ còn hai mươi.
Phẫn, hận …, bốn phiền não
Ác tác hai mươi mốt,
Hữu phú có mười tám.
Võ phú chỉ mười hai,
Thùy miên biến khắp cả.
Nếu có đều thêm một
Sơ định trừ bất thiện
Và ác tác, thùy miên.
Trung định lại trừ tầm.
Trên thì trừ cả từ …
Vô tàm quí không nặng,
Đối với tội chẳng sợ.
Ái kính là tín, tàm.
Chỉ có ở Dục và Sắc.
Tầm, từ có thô tế.
Mạn : đối tha mà khởi.
Kiêu : nhiễm của tự mình.
Cao kỳ không tự xét.
Tâm, ý, thức : một thể.
Tâm, tâm sở có y,
Có duyên, có hành tướng
Tương ưng có năm nghĩa

 

* Trang 624 *
device

Tâm bất tương ưng hành,
Đắc, phi đắc, đồng phần,
Vô tưởng hai định, mạng,
Các loại tướng, danh, thân.
Đắc là được thành tựu.
Phi đắc trái với đây.
Đắc, phi đắc chỉ ở
Tự tương tục hai diệt.
Pháp ba đời đều ba
Chỉ thiện cùng với thiện.
Hữu hệ là tự giới.
Vô hệ thông cả bốn.
Phi học, vô học: ba.
Phi sở đoạn hai thứ
Cùng vô ký đều khởi,
Trừ hai biến hóa khắp
Hữu phú Sắc cũng vậy,
Dục, Sắc không khởi trước.
Phi đắc, tịnh, vô ký
Đời trước, sau đều ba
Ba cõi không hệ ba
Là thánh đạo phi đắc.
Gọi là dị sinh tính,
Đắc pháp đổi bậc: xả

Quyển V Phẩm 2 : Phân biệt căn 3


Đồng phân và hữu tình …
Vô tưởng trong vô tưởng.
Tâm, tâm sỏ pháp diệt
Quả dị thục rất nhiều.
Như vậy vô tưởng định,
Sau tĩnh lự cầu thoát,
Chỉ thiện thuận thụ sinh
Chỉ thánh được một đời.
Diệt tận định cũng vậy
Là tĩnh trụ Hữu đỉnh
Thiện hai thụ bất định.
Thánh còn phải gia hạnh
Được thành Phật không trước
Vì ba mươi bốn niệm
Hai định y Dục, Sắc.
Diệt định người mới đầu
Mạng căn thể tức thọ.
Giữ được noãn và thức.
Thọ, noãn cùng với thức
Ba pháp khi xả thân
Như cây không tri giác.
Tướng là các hữu vi
Tính sinh, trụ, dị, diệt.
Do đó cá đời đời
Ở trong tám mươi mốt
Tương tục khởi đầu : Sinh.
 
 
 
 



* Trang 625 *
device

Diệt là giai đoạn cuối.
Giữa tùy chuyển là Trụ.
Trụ, Dị : trước sau khác.
Vốn không nay có : Sinh,
Tượng tục tùy chuyển : Trụ.
Trụ trước khác Trụ sau : Dị.
Tương tục dứt là Diệt.
Vì các pháp sát-na
Không trụ  nên có diệt,
Nếu có tự nhiên diệt,
Chấp có trụ : phi lý.
Tức trước dị bất thành.
Trước dị không một pháp
Cho nên trong một pháp
Dị không thể thành lập.

Sinh : năng sinh, sở sinh.
Chẳng lìa nhân duyên: hợp
Nên đã gọi là thân ...
Tưởng, nói rõ tổng thuyết
Phương thú địa quang ngôn
Kim cương nhãn thiên thủy.
Ở đây có chín nghĩa.
Người trí lập cú thanh.
Gồm hữu tình Dục, Sắc.
Đẳng lưu tính vô ký.
Đồng phần cũng như vậy.
Gồm Vô sắc dị thục.
Tướng đắc thông ba loại:
 
Phi đắc, định, đẳng lưu.
Quyển VI Phẩm 2: Phân biệt căn 4
Năng tác và câu hữu
Đồng loại với tương ưng.
Biến hành gồm dị thục
Nhân chỉ có sáu thứ.
Trừ tự là năng tác,
Câu hữu : quả của nhau
Như đại tướng sở tướng
Tâm tùy chuyển theo tâm
Tâm sở hai luật nghi
Và các tướng của tâm
Là pháp tâm tùy chuyển
Do lúc quả là thiện ...
Đồng loại nhân tương tự
Tự bộ địa tiền sinh
Đạo chuyển dần chín địa.
Chỉ có thắng là quả
Gia hạnh sinh cũng vậy
Chỗ làm nên văn, tư ...
Tương ưng nhân quyết định
Tâm, tâm sở cùng y
 

* Trang 626 *
device

Biến hành là biến trước,
Là đồng địa nhiễm nhân.
Dị thục nhân bất thiện
Và thiện là hữu lậu.
Biến hành cùng đồng loại
Hai đời, ba đời : ba.
Quả hữu vi thoát hệ,
Vô vi vô nhân quả.
Sau, nhân quả dị thục.
Trước, nhân tăng thượng quả.
Đồng loại, biến, đẳng lưu
Đều tương ưng sĩ dụng.
Dị thục : vô ký pháp.
Hữu tình hữu ký sinh.
Đẳng lưu giống tự nhân,
Thoát tuệ do tuệ hết.
Nếu nhân đó lực sinh
Thì quả là sĩ dụng.
Trừ trước hữu vi pháp,
Hữu vi tăng thượng quả
Năm thủ quả hiện tại
Hai và quả cũng vậy,
Quá, hiện cùng hai nhân
Một cùng chỉ quá khứ.
Nhiễm ô dị thục sinh
Các sơ thánh như thứ
Trừ dị thục, biến: hai
Và đồng lại dư sinh.
Đây là tâm, tâm sở
Ngoài ra trừ tương ưng.
Quyển VII Phẩm 2: Phân biệt căn 5
Nói có bốn thứ duyên :
Nhân duyên năm nhân tính.
Đẳng vô gián chẳng sau
Tâm, tâm sở đã sinh.
Sở duyên tất cả pháp.
Tăng thượng tức năng tác.
Hai nhân nơi chính diệt.
Ba nhân nơi chính sinh.
Còn hai duyên trái nhau
Mà phát sinh tác dụng
Tâm, tâm sở cùng y
Hai định chỉ do ba.
Còn lại hai duyên sinh
Vì phi thiên thứ đẳng
Do hiểm lợi năng thiêu
Thường bách hại khá sợ
Thích ăn máu, thịt, tủy
Nên tên Lỗ-đạt-la.
Lớn là lớn hai nhân
Là năm thứ sở tạo
 

* Trang 627 *
device

Tạo là tạo ba thứ
Là đại chỉ một nhân.
Dục giới có bốn tâm :
Thiện, ác, phú, vô phú.
Sắc, Vô sắc trừ ác.
Vô lậu có hai tâm,
Dục giới thiện sinh chín.
Đó lại từ tám sinh.
Nhiễm từ mười sinh bốn
Ngoài ra sinh năm bảy.
Sắc thiện sinh mười một.
Đó cũng từ chín sinh.
Hữu phú từ tám sinh.
Đó cũng sinh nơi sáu.
Vô phú từ ba sinh.
Đây lại sinh ra sáu.
Hữu phú sinh từ bảy.
Vô phú thì như Sắc.
Học từ bốn sinh năm.
Còn từ năm sinh bốn.
Mười hai là hai mươi.
Tức thiện tâm ba cõi.
Chia gia hạnh sinh đắc.
Dục vô phú chia bốn.
Dị thục thành nghi lộ.
Công xảo xứ thông quả.
Sắc giới trừ công xảo.
Số còn, như trước nói.
Nhiễm tâm trong ba cõi
Đắc sáu sáu hai thứ.
Sắc thiện tam học bốn.
Ngoài ra tự có thể.
Tuệ là nói nhiễm tâm.
Khi hiện thì có chín.
Trong thiện tấm đắc sáu.
Vô ký chỉ cô ký
Do thác sinh nhập định
Và khi lìa khoải nhiễm
Tiếp thiện vị đắc tâm
Vì chẳng phải thành trước.

Quyển VIII Phẩm 3: Phân biệt thế gian 1

Địa ngục, bàng sinh, quỉ
Người và trời lục đục
Là Dục giới hai mươi
Do địa ngục châu khác.
Trên đây mười bảy xứ
Là ở trong Sắc giới.
Ba tĩnh lự đều ba.
Tĩnh lự thứ tư: tám.
Vô sắc giới vô xứ
Do sinh có bốn thứ
 

* Trang 628 *
device

Y đồng phần và mạng
Kiến cho tâm ... tương tục
Diệu cảnh ở đời không thật dục.
Thật dục là người phân biệt tham.
Diệu cảnh xưa nay trụ thế gian,
Người trí ở trong đã trừ dục.
Nếu đời diệu cảnh không thật dục,
Nói dục là người phân biệt tham.
Nên gọi tì-khưu: người thuc dịch
Vì khởi ác phân biệt tầm, từ.
Nếu đời diệu cảnh là thật dục,
Nói dục chẳng người phân biệt tham,
Nên gọi thầy người: người thụ dục
Vì thường quán khả ý diệu sắc.
Trong đó như địa ngục ...
Tư gọi là năm thú.
Duy vô phú vô ký
Hữu tình trong chẳng có
Thân khác và tưởng khác.
Thân khác đồng một tưởng
Chuyển thân này tưởng một.
Gồm Vô sắc dưới ba
Nên thức trụ có bảy.
Ngoài khác, có tổn hoại.
Nên biết gồm Hữu đỉnh
Và Vô tưởng hữu tình
Là chín, hữu tình ở.
Ngoài khác chẳng thích trụ.
Phải biết bốn thức trụ
Bốn uẩn duy tự địa.
Nói riêng thức chẳng trụ
Gồm hữu lậu bốn câu
Trong có bốn loài sinh
Hữu tình như là noãn ...
Người bàng sinh đủ bốn
Địa ngục và chư thiên
Trung hữu duy hóa sinh
Qui gồm thai và hóa.
Ngã đêm sinh năm con.
Sinh rồi đều ăn hết.
Ngày sinh năm cũng vậy

* Trang 629 *
device

Trong hai hữu tử, sinh,
Năm uẩn là trung hữu
Nơi chưa đến sẽ đến.
Trung hữu chẳng phải sinh
Tương tục như cây lúa
Tiếp tục sinh không ngớt
Tượng thật hữu bất thành,
Bất dẳng nên phi thí.
Gồm nhất xứ vô  nhị
Phi tương tục nhị sinh.
Nói hữu kiện đạt trái
Và năm bảy kinh nên
Gộp hết chúng thánh hiền.
Bốn tĩnh lự đều mười
Ba vô sắc đều bảy.
Chỉ sáu là phi tưởng.
Tái sinh ngươi nay quá thịnh vị,
Đến suy sắp gần Diệm ma vương.
Muốn qua đường trước không hành lý,
Cầu trung gian chẳng chỗ nương
 
*
 
Quyển IX Phẩm 3: Phân biệt thế gian 2

Đây một nghiệp dắt dẫn
Như là hình bản hữu.
Bản hữu là trước chết
Đang sống sát-na sau
Là đại tượng tỉnh xú
Chên đàn rừng Diệu viên.
Tiểu tương, hai con khỉ
Tranh nhau áo Quảng kiên
Bạch tượng đoan nghiêm tướng
Sáu ngà đủ bốn chân
Chính tri vào bụng mẹ,
Ngủ như tiên trong rừng
Đồng Tịnh thiên nhãn thấy,
Nghiệp thông đủ các căn
Vô đối không thể chuyển
Ân hương hoa không lâu
Tâm điên đỏa cảnh dục.
Thấp, hóa đắm nhiễm hương.
Thiên thủ tượng tam hoành
Địa ngục đầu trở xuống.
Điên đảo dọa địa ngục.
Chân trên mà đầu dưới.
Do hủy bảng chư tiên
Thích vắng lặng khổ hạnh.


 

* Trang 630 *
device

Một khi nhập chính trị,
Hai ba gồm trụ xuất.
Bốn trong tất cả vị
Và noãn thường vô tri.
Ba loại trước nhập thai
Là Luân vương hai Phật
Nghiệp trí đều hơn cả.
Sau là bốn loài sinh
Chỉ các uẩn vô ngã,
Nghiệp phiền não tạo nên
Do vì có tương tục.
Nhập thai như đèn thắp,
Theo thứ lớp tăng trưởng
Do hoặc nghiệp nối nhau
Chuyển đến bao đời khác
Như vòng tròn không mối.
Mới đầu: yết-thích-lam
Tiếp sinh át-bộ-đàm.
Từ đây sinh bế-thi
Bế-thi sinh kiều-nam
Rồi bát-la-xa-khư,
Sau đến tóc, lông , móng
Và sắc căn, hình tướng
Cứ lần lượt chuyển tăng.
Các duyên khởi như vậy.
Mười hai chi, ba thời:
Trước và sau đều hai
Giữa tám cứ đầy đủ.
Túc hoặc vị vô minh.
Các túc nghiệp là hành
Thức kết sinh ra uẩn
Sáu xứ trước danh sắc
Tùng sinh nhãn các căn.
Ba hòa trước sáu xứ.
Ba này thụ nhân khác
Chưa biết rõ gọi xúc.
Thụ trước nơi dâm ái
Tham tư đủ dâm ái
Vì được các cảnh giới.
Chạy tìm khắp là thủ.
Hữu chính là năng tạo
Khiến có nghiệp quả hữu.
Kết làm hữu là sinh.
Cho đến chịu lão, tử
Truyền cho lập vị nói
Từ thắng lập tên chi
Ở trước sau và giữa
Khiến người ngu mê hoặc.
Ba phiền não hai nghiệp
Bảy việc cũng gọi quả.
Lược quả và lược nhân,
Do trung sánh được hai.
Từ hoặc sinh hoặc nghiệp.
Từ nghiệp sinh nơi sự
Từ sư, sự hoặc sinh.
Hữu chi lý là thế.

* Trang 631 *
device

Trung này, chính ý nói
Nhân khởi quả đã sinh.
Đến duyên nếu khởi trước,
Phi hữu không ứng lý.
Nếu đủ thì hoại rồi
Nên lý phải nói trước.
Như phi hữu mà khởi
Đến duyên cũng như vậy.
Sinh đã khởi vô cùng
Hoặc trước hữu phi hữu
Đều đã nói hữu rồi.
Tối đến đèn đã tắt
Và miệng mở đã ngủ
Ngủ rồi miệng phải ngậm

Quyển X Phẩm 3: Phân biệt thế gian 3

Minh sở trị vô minh
Như chẳng phải chân thật
Vì vậy nói là kết ...
Chẳng phải ác tuệ kiến
Vì cũng kiến tương ứng
Nên nói năng nhiễm tuệ
Gọi vô sắc bốn uẩn,
Sáu bá uc cùng sinh.
Năm tương ưng hữu đối
Với thứ sáu đều tăng.
Minh, vô minh không hai
Vô lậu, nhiễm ô khác.
Ái, nhuế hai tương ưng
Lạc ... là thuận ba thụ.
Từ đây sinh sáu thụ.
Năm xúc: thân, Ngoài: tâm
Đây lại thành mười tám.
Do ý gần hành dị.
Dục duyên dục mười tám.
Sắc mười hai, trên ba.
Hai duyên, Dục mười hai.
Tám tự hai: Vô sắc.
Hai sau duyên sáu dục.
Bốn tự duyên một trên.
Sơ Vô sắc cận phân.
Duyên sắc bốn tự một.
Bốn gốc và ba bên
Chỉ một duyên tự cảnh.
Mười tám là hữu lậu.
Những thứ khác sẽ nói.
Trong đây nói phiền não
Như giống cũng như rồng.
Như rễ nhánh cỏ cây
Và cũng như cám gạo.
Nghiệp như có cám gạo
Như thảo dược, như hoa

* Trang 632 *
device

Và các quả dị thục
Như thành thức ăn uống
ở trong ba thứ hữu,
Sinh hữu là nhiễm ô
Do tựa địa phiền não.
Ngoài ba, Vô sắc ba
Hữu tình do thực trụ.
Đoàn dục thể có ba
Phi sắc không tách ích
Vì tự căn giải thoát
Xúc, tư, thức: ba thực
Hữu lậu thông ba cõi.
Ý thành và cầu sinh
Trong hương thực dấy khởi,
Hai trước giúp đời này

Quyển X Phẩm 3: Phân biệt thế gian 3

An lập khí thế gian
Phong luân ở dưới cùng,
Lượng ấy rộng vô số,
Dày mười sáu lac-xoa.
Tiếp đến thủy luân sâu
Mười một ức hai vạn,
Nưới dưới tám lạc xoa
Còn ngưng kết thành vàng.
Đường kính vòng nước vàng
Rộng mười hai lạc-xoa.
Sở y và năng y.
Hai sau là sữ có
Lần lượt dẫn khởi lên.
Dứt thiện căn và nối
Lìa nhiễm lùi sinh tử.
Chỉ ở trong ý thức
Sinh tử do xả thị.
Phi định hai vô tâm.
Hai vô ký Niết-bàn
Chết dần đủ các tâm,
Cuối cùng  ú thức diệt.
Dưới chẳng sinh nhân, thiện
Đoạn dứt mạt-na-thủy...
Chính tà bất định tu
Thánh tạp các vô gián
Ba ngàn bốn trăm rưỡi,
Chu vi gấp ba lần,
Tô-me-lô ở giữa.
Rồi du-kiện-dạt-la,
Núi Y-sa-đà-la,
Núi cát-địa-lạc-ca,
Tô đạt le-xá-na,
An-thấp-phược-yết-noa
Núi Tì-na-đát-ca,
Núi di-dân-đạt-la.

* Trang 633 *
device

Ở ngoài các đại châu
Có núi Thiết Luân Vi.
Bảy núi trước bằng vàng,
Tô-mê-lô tứ bảo
Nước vào đều tám vạn
Diệu Cao ra cũng vậy.
Còn tám nửa trở xuống,
Rộng đều bằng Diệu Cao.
Trong núi có tám biển.
Bảy trước gọi là trong.
Trước tiên rộng tám vạn.
Bốn bên đều gấp ba.
Còn sáu nửa hơi hẹp.
Thứ tám gọi là ngoài.
Ba lạc-xoa hai vạn.
Hai ngàn du-thiện-na
ở trong tướng đại châu.
Nam thiệm-bộ như xe,
Ba bên đều hai ngàn.
Phía Nam có ba rưỡi.
Đông  Tì-đề-ha châu
Hình dáng như bán nguyệt.
Ba bên như Thiệm-bộ.
Phía Đông ba trăm rưỡi.
Tây Cù-đà ni châu
Hình dáng tròn vành vạnh.
Kính hai ngàn năm trăm,
Chu vi gấp ba lần.
Bắc-câulô-tắc vuông.
Mỗi mặt đều hai ngàn.
Giữa châu lại có tám.
Bên bốn châu đều hai.
Phía bắc núi Cửu Hắc,
Núi Tuyết Hương Túy: trong
Ao Vô Nhiệt rộng lớn
Năm mươi du-thiện-bộ.
Dưới đây hơn hai vạn
Sâu rộng vô như gián.
Bảy trên Na-lặc-ca.
Tám tăng thành mười sáu
Là phân nhơ thây chết,
Sông kiếm đao tua tủa,
Đều ở tại bốn phương.
Còn tám địa ngục lạnh,
Tám Nại-lạc-ca đây,
Ta nói thật khó vượt.
Lấy sắt nóng làm đất,
Chung quanh có vách sắt,
Bốn mặt có bốn cửa
Có khóa sắt đóng lại.
Khéo chia ra bố trí
Mỗi mỗi có mười sáu.
Mấy trăm du-thiện-na
Kẻ tạo ác đầy trong,
Chung quanh bị vây hãm,
Lửa mạnh cháy hừng hực,

* Trang 634 *
device

Lòng thường ôm độc ác
Chứa nhóm các nghiệp dữ,
Thấy người khổ mừng vui,
Chết làm ma ngục tốt.
Thắng này mê-lô nửa
Năm mươi mốt năm mươi.
Nửa đếm mặt trời lăn,
Trời sáng ở bốn châu.
Mùa mưa tháng thứ hai,
Sau chín đêm tăng dần.
Lạnh thứ tư cũng vậy.
Đêm giảm chuyển thành ngày,
Ngày đêm thêm trói buộc.
Khi đường Bắc đi Nam,
Gần mặt trời bóng lấp,
Nên thấy mặt trăng khuyết.
Núi Diệu Cao bốn lớp
Đều cách nhau mười ngàn
Bốn bên mười sáu ngàn,
Độ tám bốn hai ngàn.
Nắm tay và níu tóc,
Bon Đại vương Hằng Kiêu,
Ở bốn cấp như vậy.
Cũng ở bảy núi khác,
Đỉnh Diệu Cao tám vạn.
Ở trời Ba mươi ba
Bốn góc bốn núi cao
Chỗ ở Kim Cương Thủ.
Cung giữa tên Thiện Kiến
Rộng vạn du-thiện-na,
Cao một rưỡi thành vàng
Trang sức đất dịu êm.
Gữa có điện Thù Thắng
Rộng ngàn du-thiện-na.
Ngoài: bốn vườn đẹp đẽ
Nhiều xe cộ đông vui
Bốn phía có ao tốt
Đều cách nhau hai mươi.
Đông-bắc có đại thụ
Tây-nam: Thiện pháp đường
Hoa thơm ngược gió chẳng nghe hương,
Huống chi  chồi nhánh ấy chuyện thường.
Công đức hương thơm người Thiện sĩ,
Cho dù ngược gió tỏa mười phương.
Trên là trời Hữu sắc,
Cung điện trụ hư không
Hưởng lục dục thỏa thích
Nắm ta cười: giao hoan.
Ban đầu năm đến mười
Trang phục sắc viên mãn.

* Trang 635 *
device

Dục sinh ba nhân thiên.    
Lạc sinh ba chín chỗ.
Như kia bỏ lượng dưới,
Bỏ số trên cũng vậy.
Dưới không thăng xem trên,
Bốn đại châu nhật nguyệt,
Cõi Dục Tô-mê-lô.
Phạm Thế đều một ngàn,
Là một tiểu thiên giới.
Gấp ngàn tiểu thiên này
Gọi là một trung thiên.
Ngàn trung là một đại,
Đều đồng một thành hoại.
Số đo người Thiệm-bộ:
Ba khuỷu rưỡi bốn khuỷu.
Người Đông, Tây, Bắc châu
Theo tuần tự tăng dần.
Dục thiên: câu-lô-xá,
Bốn phân một một tăng.
Sắc thiên: du-thiện-na
Bốn đầu tăng nửa nửa
Trên đay tăng bội bội
Duy vo vân giảm ba.
Bắc châu định ngàn năm,
Tây,Đông giảm nửa nửa.
Châu nàu thọ bất định
Mười sau, mới đầu ít.
Cõi người năm mươi năm.
Dưới trời một ngày đêm.
Do đây thọ năm trăm
Trên năm bội bội tăng.
Sắc giới không ngày đêm,
Kiếp số và thân lượng,
Vô sắc đầu hai vạn
Sau hai hai tăng.
Trời Thiểu Quang trên dưới
Nửa đại toàn làm kiếp
Đẳng hoạt đẳng thượng sáu
Như thứ là Dục thiên.
Thọ là một ngày đêm
Thọ lượng cũng như kia.
Cực nóng nửa trung kiếp,
Vô Gián toàn trung kiếp,
Bàng sinh cực một trung,
Quỉ nguyệt nhật năm trăm.
An-bộ-đà thọ lượng
Như một bà-ha-ma.
Trăm năm trừ một hết
Sau sau bội hai mươi.
Các xứ có trung yểu
Trừ Bắc Câu-lô châu.

* Trang 636 *
device

Quyển XII Phẩm 3: Phân biệt thế gian 5

Cực vi tự sát – na
Danh sắc thì cực thiểu
Cực vi vi kim thủy,
Thỏ, dê, bò, bụi bay
Kiến, rệp mạch chỉ tiết
Sau sau tăng gấp bảy.
Hai mươi bốn khuỷu tay
Bốn khuỷu là cung lượng
Năm trăm câu-lô-xá
Đây tám du-thiện-na
Trăm hai mươi sát-na
Là một dát-sát-na.
Lạp phước đây sáu mươi.
Đây ba mươi tu du.
Đây ba mươi ngày đêm.
Ba mươi ngày đêm: tháng,
Mười hai tháng là năm.
Ở trung nửa giảm đêm.
Trong lúc mưa lạnh, nóng.
Một tháng rưỡi trôi qua,
Phần còn lại nửa tháng.
Người trí biết giảm đêm.
Nên biết có bốn kiếp
Là hoại thành trung đại.
Hoại chẳng sinh từ ngục,
Đến ngoại khí đều hết
Thành kiếp khởi từ gió
Đến địa ngục mới sinh,
Trung kiếp từ vô lượng,
Giảm đến thọ chỉ mười
Rồi tăng giảm mười tám
Sau tăng đến tám vạn
Như vậy thành rồi trụ
Là trung hai mươi kiếp.
Thành hoại, hoại rồi không,
Thời gian bằng trụ kiếp.
Tám mươi trung đại kiếp.
Đại kiếp ba vô số.
Hạ sĩ cần phương tiện,
Hằng cầu tự thân vui.
Trung sĩ cầu diệt khổ.
Vì y phi khổ vui.
Thượng sĩ hằng cần cầu
Mình khổ người an vui.
Khổ người vĩnh viễn diệt,
Vì coi người là mình.
Giảm tám vạn đến trăm
Chư Phật hiện thế gian
Khi Độc giác tăng giảm
Lân giác dụ trăm kiếp,
Luân vương trên tám vạn.
Kim, ngân, đồng, thiết luân,


 

* Trang 637 *
device

Một hai ba bốn châu,
Nghịch thứ riêng như Phật,
Tha nghinh tự vãng phục.
Tranh trận thắng không thua,
Chẳng đúng tướng viên minh
Cho nên không bằng Phật.
Kiếp đầu như Sắc thiên
Sau dần tăng tham đắm.
Sa đọa giặc cướp khởi
Để phòng vệ cố thủ,
Nghiệp đạo tăng, thọ giảm
Mười ba tai nạn đến
Đao binh, bệnh tật, đói
Bảy ngày tháng năm hết.
Tam tai hỏa, thủy, phong
Trên ba định cao tột
Lần lượt đến nội tai,
Vì bốn đều hoạt động
Như đồ đựng vô thường
Cùng hữu tình sinh diệt
Nên bảy hỏa một thủy
Bảy thủy hỏa rồi phong

Quyển XIII Phẩm 4: Phân biệt nghiệp 1

Thế gian do nghiệp sinh,
Tư và tư sở tác.
Tư tức là ý nghiệp,
Sở tác là thân, ngữ.
Thân, ngữ hai nghiệp này
Y tính biểu, vô biểu.
Thân biểu nhiều hình thức,
Phi hành động làm thể.
Bởi các pháp hữu vi
Cứ mỗi sát-na hết.
Vì không nhân ứng không,
Sinh nhân ứng năng diệt,
Hình cũng chẳng thật có,
Ứng hai căn mà thành.

Vô biệt là rất nhỏ,
Nên ngôn ngữ là thanh
Nói sắc ba vô lậu
Vì là tăng phi tác.
Đây tạo nên đại chủng.
Khác với biểu sở y
Sau dục, niệm: vô biểu
Nương theo đại chủng sinh
Hữu lậu tự tha có,
Vô lậu tùy chỗ sinh
Vô biểu, vô chấp thụ,
Số hữu tình đẳng lưu
Có thụ sinh dị đại.
Định sinh y trưởng dưỡng


 

* Trang 638 *
device

Không thụ không dị đại.
Biểu là tính đẳng lưu,
Thuộc thân có chấp thụ.
Vô biểu, ký .... cái,
Bất thiện là ở Dục
Vô biểu khắp Dục, Sắc.
Biểu có từ hai thứ
Dục vô, hữu phú biểu
Do vì không đẳng khởi.
Thắng nghĩa khéo giải thoát.
Tự tính làm, quí căn
Tương ưng kia tương ứng.
Đẳng khởi sắc nghiệp thảy
Đây gọi là bất  thiện.
Thắng vô ký hai thường
Đẳng khởi có hai loại.
Nhân và sát-na nó
Nên biết theo thứ lớp
Tên chuyển là tùy chuyển.
Kiến đoan là thức chuyển
Tùy chuyển chỉ năm thức.
Tu, đoạn, ý thông hai
Chẳng vô lậu dị thục.
Tính thiện ... là do chuyển.
Tùy chuyển đều đủ ba.
Mâu-ni thiện cũng vậy
Vô ký tùy hoặc thiện.
Đi na – già tại định.
Đứng na-già tại định
Ngồi na – già tại định.
Nằm na-già tại định.

Quyển XIV Phẩm 4: Phân biệt nghiệp 2

Vô biểu ba luật nghi
Không luật nghi chẳng hai.
Luật nghi biệt giải thoát,
Tĩnh lự và đạo sinh.
Sơ luật nghi tám thứ.
Thật thể chỉ có bốn.
Hình chuyển nên khác tên,
Riêng biệt không trái nhau.
Thụ lìa năm tám mươi
Tất cả chỗ nên lìa,
Lập cận sự, cận trụ,
Cần sách và bí – sô,
Đều được tên Thi – la.
Diệu hạnh nghiệp luật nghi,
Mới đầu biểu, vô biểu,
Tên Biệt giải nghiệp đạo
Tám thành biệt giải thoát
Được bậc thánh tĩnh lự.

* Trang 639 *
device

Thành tĩnh lự đạo sinh.
Hai sau tùy tâm chuyển,
Chưa đén chns Vô Gián,
Dứt hai tên câu sinh.
Hay thay thân luật nghi.
Hay thay ngữ luật nghi.
Hay thay ý luật nghi.
Hay thay khắp luật nghi.
Chánh tri, chính niệm hợp
Là ý căn luật nghi.
Trụ biệt giải vô biểu
Chưa xả hằng thành: hiện.
Sát-na sau thành: qua.
Không luật nghi cũng vậy,
Được tĩnh lự luật nghi.
Hằng thành đến quá, vị,
Tháng trước trừ quá khứ.
Trụ trong định đạo thành.
Trong tụ có vô biểu
Mới thành, trong sau hai
Trụ luật không luật nghi
Khởi nhiễm tịnh vô biểu.
Trong sơ thành sau hai
Đến không còn nhiễm tịnh.
Biểu chính khi tác thành,
Thảnh rồi: quá (khứ) chẳng vị (lai).
Hữu phú và vô phú
Chỉ thành tựu hiện tại
Ác hành ác giới nghiệp.
Nghiệp đạo không luật nghi
Thành biểu, phi vô biểu
Trong trụ liệt tư tác,
Xả vị (lai) sinh biểu thánh
Thành vô biểu, phi biểu
Khi sinh được định địa
Thánh ấy được đạo sinh.
Biệt giải thoát luật nghi,
Được ấy do giáo huấn.
Biệt giải thoát luật nghi,
Tron đời suốt ngày đêm
Ác giới không ngày đêm
Chẳng phải như thiện thụ.
Cận trụ ở ban ngày
Hạ tọa theo thầy học,
Theo giáo huấn đầy đủ.
Lìa nghiêm sức ngày đêm,
Do đây mà nuôi lớn.
Tự tha thiện tịnh tâm.
Cho nên Bạc-già-phạm
Gội đây là nuôi lớn.
Giới cấm không buông lung.
Bốn một ba lần lượt.
Để phòng các tính tội
Thất niệm và kiêu, dật
Các Cận trụ cũng có.
Chẳng thụ tam qui không

* Trang 640 *
device

Xưng Cận sự phát giới,
Nói như các Bí-sô
Nếu đầy đủ luật nghi
Thì đâu nói một phần,
Là nói liệu giữ được
Hạ, trung, thượng tùy tâm.
Qui y thành Thật, Tang
Vô học hai thứ pháp
Và niết-bàn, trạch diệt
Là đủ ba qui y.
Nhiều người sợ bức bách
Nên qui y chư sơn.
Vườn tược và núi rừng,
Hay cô độc dưới cây.
Qui y này chẳng tốt,
Qui y này chẳng quí.
Không nhân đây qui y,
Sao giải thoát các khổ.
Nếu có qui y Phật
Và qui y pháp tăng,
Ở trong bốn thánh đế
Thường dùng tuệ quán sát
Biết khổ, biết khổ tập,
Biết vĩnh siêu các khổ,
Biết tám con đường thánh,
Đến niết-bàn an ổn,
Qui y này tốt nhất,
Qui y này quí nhất.
Nếu nhân đây qui y
Sẽ giải thoát các khổ,
Tà hạnh rất đáng trách.
Xa lìa không nên làm.
Được luật nghi quyết giữ,
Không tiếp nối lỗi lầm,
Không nói lời dối láo
Rằng vượt các học xứ.
Đề phòng việc rượu chè
Là hành hộ luật nghi.

Quyển XV Phẩm 4: Phân biệt nghiệp 3

Từ tất cả hai hiện
Dược Dục giới  luật nghi
Từ căn bản thường hằng
Được tĩnh lự vô lậu.
Luật từ các hữu tình.,
Chi nhân nói bất định
Không luật từ tất cả
Hữu tình chi không nhân.
Được các không luật nghi
Do tác và thệ thụ.
Được sở dư vô biểu
Do điền thụ trọng hành

* Trang 641 *
device

Xả biệt giải đều phục
Do đó xả mạng chung
Và hai hình câu sinh
Đoạn thiện căn đêm hết.
Có thuyết nói phạm trọng,
Các thuyết nói pháp diệt.
Gia-thấp-di-la nói
Phạm hai như phụ tài.
Xả định sinh thiện pháp
Do thay bậc thoái lui,
Xả thánh do đắc quả.
Luyện căn và thoái thất,
Xả ác giới cho chết.
Đắc giới hai hình sinh.
Xả trung do thụ thế.
Tác sự do căn đứt,
Xả Dục phi Sắc thiện,
Do căn dứt sinh lên.
Do đối trị đạo sinh.
Xả các nhiễm phi Sắc
Trừ bỏ người ác giới,
Hai hoàng môn hai hình,
Luật nghi cũng ở trời,
Chỉ người đủ ba thứ.
Sinh trời Dục, Sắc Giới.
Có tĩnh lự luật nghi
Vô lậu và vô sắc
Trừ trung định vô tưởng.
 An, bất an, phi nghiệp
Là thiện, ác, vô ký.
Phúc, phi phúc, bất động,
Dục thiện nghiệp là phúc
Bất thiện là phi phúc.
Thượng giới thiện: bất động.
Ước ở nơi tự địa,
Vì nghiệp quả không động.
Thuân lạc, khổ chẳng hai.
Thiện đến ba thuận lạc.
Các bất thiện thuận khổ.
Thượng thiện thuận không hai.
Các thuyết có hạ thiện
Do trung chiêu dị thục.
Lại nữa ba nghiệp đây
Chẳng do tiền, hậu thục.
Thuận thụ có năm thứ
Là tự tính tương ứng
Và sở duyên dị thục.
Vì hiện tiền sai biệt
Nên có định, bất định.
Định ba, thuận hiện tại …
Có thuyết nói năm nghiệp.
Thầy khác nói bốn câu.
Bốn thiện đều câu tác,
Dẫn đồng phần có ba.
Các xứ tạo bốn thứ.
Địa ngục, thiện trừ hiện (tại)

* Trang 642 *
device

Giữ chặt nơi ly nhiễm.
Dị sinh không tạo sinh.
Thánh không tạo sau sinh.
Và dục có đỉnh thoái.
Trong dục có năng tạo.
Hai mươi hai thứ nghiệp
Đều thuận thi hiện tại.
Như đồng phần là một.
Do trọng hoặc, tịnh tâm
Cùng với hằng sở tạo
Do nơi công đức khởi.
Hại cha mẹ nghiệp định
Do điền ý thù thắng
Và định chiêu dị thục
Đắc nghiệp bậc vĩnh ly.
Định chiêu quả hiện pháp
Nơi Phật, thượng thủ tăng
Và diệt định, vô tranh
Từ, từ kiến tu đạo.
Nghiệp tổn ích tức thụ.
Các thiện nghiệp vô tầm
Chỉ có hoặc tâm thụ.
Ác là hoặc thân thụ.
Là khác nghiệp hoặc thụ.
Tâm cuồng là ý thức
Do nghiệp dị thục sinh
Và bố, hại, vi, ưu
Trừ Bắc châu tai Dục.
Nói khúc: nghiệp uế trược
Y siểm, sân, tham sinh.

Quyển XVI Phẩm 4: Phân biệt nghiệp 4

Y hắc hắc … khác nhau
Nên có bốn thứ nghiệp
Ác Sắc, Dục giới thiện
Có thể hết vô lậu.
Nên biết theo thứ lớp
Tên hắc, bạch đều sai.
Bốn pháp nhẫn ly dục,
Tám trước đều vô gián.
Mười hai vô lậu tư
Đều là thuần hắc nghiệp
Ly dục bốn tĩnh lự
Thứ chin vô gián tư
Một hết tạp thuần bạch.
Bốn khiến thuần bạch hết.
Có thuyết thục địa ngục,
Còn dục nghiệp hắc tạp
Có thuyết dục kiến diệt
Còn dục nghiệp có hắc.
Vô học thân ngữ nghiệp
Tức ý ba Mâu – ni

* Trang 643 *
device

Nên biết ba thanh tịnh
Tức là ba diệu hạnh.
Ác nghiệp thân, ngữ, ý
Tức là ba ác hạnh.
Và tham, sân, tà kiến:
Ba diệu hạnh chuyển thành.
Nên nói mười nghiệp đạo
Nhiếp cả ác diệu hạnh.
Thô là tính của nó
Mà tạo thành thiện ác.
Ác sáu định vô biểu.
Nó tự tác dâm hai,
Thiện bảy, thụ, sinh hai,
Định sinh là vô biểu,.
Định, gia hạnh hữu biểu,
Vô biểu có hoặc không,
Khởi rồi thì khác trước,
Gia hạnh ba căn khởi
Vì vô gián kia sinh.
Tham … ba căn sinh ra.
Như người vì bỡn cợt,
Đối nữ vương cầu hôn
Và cứu mạng cứu của
Đói gạt nói vô tội.
Thiện ở trong ba vị
Do ba thiện căn khởi
Sát, thô ngữ, sân nhuế,
Cứu cánh đều do sân.
Trộm, tà hạnh và tham,
Cứu cánh đều do tham.
Tà kiến, si, cứu cánh
Gây ra đều cả ba.
Hữu tình đủ danh sắc,
Danh thân các xứ khởi.
Cùng chết và chết trước
Vì vô căn y biệt.
Quân … và như đồng sự
Đều thành như tác giả.
Sát sinh do cố ý,
Nghĩ khác hoặc giết lầm,
Thọ, noãn cùng với thức,
Ba pháp lúc xả thân,
Xả thân thì ngã đổ,
Như cây không tri giác.
Vật chẳng cho mà lấy,
Trộm lấy làm của mình,
Dục tà hạnh bốn thứ,
Làm việc không nên làm.
Phát ngôn nhiễm, dị tưởng,
Lời giải nghĩa hư dối
Do nhãn nhĩ ý thức
Và ba cái sở chứng
Như thứ tự tên gọi
Là thấy, nghe, hay biết.
Nhiễm tâm hai lời nói
Nên nói lời ly gián.

* Trang 644 *
device

Phỉ ái: lời thô ác.
Các nhiễm: lời tạp uế,
Còn nói ba nhiễm khác
Như nịnh, ca, tà luận.
Ái dục tham của người,
Sân giận ghét người khác,
Khởi kiến chấp thiện ác,
Là tà kiến nghiệp đạo.

Quyển XVII Phẩm 4: Phân biệt nghiệp 5

Trong đây ba là đạo
Bảy nghiệp cũng là đạo.
Chỉ tà kiến đoạn thiện,
Sở đoạn dục sinh đắc.
Bác tất cả nhân quả
Tiệm đoạn hai đều xả.
Người nam nữ ba châu
Kiến hành đoạn phi đắc.
Tiếp thiện, nghi có kiến
Mau hiện trừ thứ nghịch.
Nghiệp đọa tư đều chuyển.
Bất thiện một đến tám.
Tổng các thiện đến mười,
Riêng giá một tám năm.
Bất thiện trong địa ngục
Thô, tạp, sân thông hai.
Tham tà kiến thành tựu,
Bắc châu rồi ba sau.
Tạp ngữ thông hiện, thành.
Trừ Dục mười thông hai.
Thiện trong tất cả xứ,
Ba sau thông hiện, thành.
Trời Vô sắc, vô tưởng,
Bảy trước chỉ thành tựu.
Trừ xứ thông thành, hiện.
Trừ địa ngục Bắc châu
Đều chiêu quả dị thục.
Quả đẳng lưu, tăng thượng
Đây khiến người thụ khổ,
Vì đoạn mạng hại uy.
Tham sinh thân ngữ nghiệp,
Vì tà mạng khó trừ.
Giữ mạng tư tham sinh,
Trái kinh nên phi lý,
Tục tà kiến khó trừ
Do thường chấp dị kiến.
Đạo tà mạng khó hộ
Do tư cụ thuộc tha.
Đoạn đọa nghiệp hữu lậu,
Đầy đủ có năm quả.
Nghiệp vô lậu có bốn
Là chỉ trừ dị thục

* Trang 645 *
device

Các thiện ác hữu lậu
Cũng bốn, trừ lìa, buộc,
Các vô lậu vô ký,
Ba trừ trước đã trừ.
Thiện … những gì trong thiện
Trước có bốn hai ba,
Giữa có hai ba bốn,
Sau quả hai ba ba,
Quá (khứ) trong ba đều bốn,
Hiện (tại) trong vị (lai) cũng vậy.
Hiện trong hiện hai quả,
Vị trong vị quả: ba,
Đồng bậc có bốn quả,
Khác bậc hai hoặc ba.
Học trong ba đều ba,
Vô học một ba hai.
Phi học phí vô học
Có hai hai năm quả.
Kiến và sở đoạn nghiệp …
Mỗi mỗi đều trong ba.
Trước có ba bốn một,
Giữa: hai bốn ba quả,
Sau có một hai bốn,
Theo thứ lớp nên biết,
Nghiệp nhiễm không nên làm,
Có nói cũng hư hỏng.
Nghiệp nên làm khác đây,
Đều trái nhau thứ ba.
Một nghiệp dẫn một sinh.
 Nhiều nghiệp làm đầy đủ.
Hai vô tâm: định, đắc
Đều không thể dẫn dắt.
Ba chướng: nghiệp vô gián
Và số hành phiền não,
Cùng tất cả ác thú.
Bắc châu, trời Vô tưởng,
Ba châu có vô gián
Chẳng do quấy động khác
Ít ơn, ít hổ thẹn,
Chướng khác thông năm nẻo.

Quyển XVIII Phẩm 4: Phân biệt nghiệp 6

Trong năm vô gián này
Bốn thân, một ngữ nghiệp.
Ba sát một cuống ngữ,
Một sát sinh gia hạnh
Phá tăng, không hòa hợp,
Tâm bất tương ưng hành,
Vô phú vô ký tính,
Do phá tăng mà thành
Đây là tội hư cuống.

* Trang 646 *
device

Xong một kiếp vô gián,
Tùy tội tăng khổ tăng.
Bí – số thấy tịnh hạnh
Phá dị xứ ngu phu
Khi chịu thầy khác đạo
Là phá bất kinh túc.
Chín chỗ Thiệm – bộ châu …
Mới phá pháp luân tăng,
Duy phá yết – ma tăng,
Thông ba châu tám chỗ …
Sơ hậu một cặp trước,
Phật diệt chưa kết giới.
Nơi sáu vị như vậy
Không phá pháp luân tăng.
Phá bỏ ruộng ân đức,
Thay hình cũng thành nghịch.
Mẹ là nhân máu kia
Lầm thì không có hoặc.
Cố làm Phật chảy máu,
Hại hậu vô học vô.
Tạo nghịch định gia hạnh,
Không lìa nhiễm đắc quả,
Phá tăng hư cuống ngữ,
Lớn nhất trong các tội.
Cảm đệ nhất hữu tư,
Ẩu lớn trong thế thiện.
Ô mẫu, vô học ni,
Giết trụ định bồ - tát
Và bậc thánh hữu học,
Đoạt mất hòa hợp tăng
Phá hoại chùa tháp miếu
Thì cùng với vô gián,
Làm cho nhân bất hoàn,
Chướng ngại nghiệp vô học
Tu theo nghiệp diệu tướng
Bồ - tát được định danh.
Sinh nhà lành hào quí,
Nam tử, niệm kiên cố.
Thiệm – bộ, nam đối Phật.
Phật tư tư sở thành.
Hơn trăm kiếp mới tu
Trang nghiêm đủ trăm phúc.
Trong ba vô số kiếp
Đều cúng dường bảy vạn,
Lại tuần tự cúng dường
Năm sáu bảy ngàn Phật.
Đủ ba vô số kiếp,
Nghịch thứ gặp Thắng Quan,
Nhiên Đăng, Bảo Kế Phật.
Mới đầu là Thích – ca,
Do từ bi khắp thí,
Tổn hại thân không giận.
Ca ngợi sa số Phật,
Rồi vô thượng bồ - đề,
Sáu ba – la - mật – đa.
Trong bốn vị như thế.

* Trang 647 *
device

Mộ hai rồi một hai
Tuần tự tu viên mãn.
Cõi này trời đất chốn đa văn,
                    Rời bỏ cung trời mười phương không
                    Trượng phu, bò chúa, sa – môn  đại,
                    Khắp nơi rừng núi chẳng ai bằng.    
Thí, giới, tu ba loại
Đều tùy theo sở ứng.
Sự, danh, thụ, phúc nghiệp
Sai biệt như nghiệp đạo.
Do đây xả là thí,
Gọi là cung, là ích.
Thân ngữ và năng phát.
Đây chiêu quả đại phú,
Nếu người dung tịnh tâm,
Bớt mình tu bố thí.
Sát –na thiện uẩn này
Đều dùng làm bố thí.
Lợi ích mình và người.
Không làm hai hạnh thí
Do chủ, tài, điền, dị.
Quả bố thí khác nhau,
Chủ và dị do tín …
Tu bố thí bình đẳng.
Được tôn trọng quảng ái
Ứng thời khó đoạt quả.
Tài và dị do sắc …
Được tên tốt diệu sắc,
Chúng ái nhu nhuyến thân
Cũng có khi lạc xúc,
Điền dị do bị khổ.
Ân đức có sai biệt,
Thoát hơn bậc bồ - tát.
Đệ bát thí tối thắng,
Phụ mẫu bệnh pháp sư,
Sau cùng sinh bồ - tát.
Dầu không chứng bậc thánh,
Quả thí cũng vô lượng.
Sau khởi điền căn bản,
Gia hạnh tư ý lạc,
Do đây có dưới trên.
Nghiệp thành cũng dưới trên,
Do thẩm tư viên mãn.
Không ác tác đối trị.
Có bạn dị thục nên
Nghiệp này gọi tăng trưởng.
Chế nhiều xả loại phúc
Như từ và vô thụ …
Ác điền có ái quả,

* Trang 648 *
device

Lìa phạm giới và giá
Tên giới đều có hai.
Phi pham giới nhân hoại,
Y trị và diệt tịnh …
Đẳng dẫn thiện là tu,
Vì năng huân tập tâm.
Giới tu thắng thứ lớp,
Cảm sinh thiên giải thoát,
Cảm kiếp sinh cõi trời
Là một lượng Phạm phúc.
Người có tin chính kiến,
Người tu mười thắng hạnh,
Liền được sinh Phạm phúc,
Cảm kiếp vui cõi trời.
Quả báo không đảo ngược.
Pháp thí là như thật,
Không bị các nhiễm trước.
Thuận phúc thuận giải thoát,
Thuận quyết trạch chia ba,
Cảm ái quả niết – bàn,
Thánh đạo thiện thứ lớp.
Như lý mà khởi nghiệp
Ba nghiệp và năng phát,
Thứ lớp làm thư ấn,
Toán, văn, số tự thể,
Thiện vô lậu là diệu,
Nhiễm hữu tội là liệt.
Thiện hữu vi nên tập,
Giải thoát là vô thượng.

Quyển XIX Phẩm 5: Phân biệt tùy miên 1

Tùy miên có căn bản
Là sáu thứ khác nhau,
Là tham sân và mạn,
Vô mình, kiến với ngi.
Sáu do tham dị bảy.
Trên tham có hai cõi,
Vì chuyển đổi bên trong,
Nên ngăn che giải thoát.
Sáu do kiến dị mười.
Dị là có thân kiến,
Biên, chấp kiến, tà kiến,
Kiến thủ, giới cấm thủ.
Sáu hành bộ giới khác,
Thành ra chin mười tám.
Đoạn dục, kiến và khổ …
Mười bảy bảy tám bốn.
Lần lữa thảy đều lìa
Ba hai kiến kiến nghi.
Sắc, Vô sắc trừ sân.
Ngoài ra như muốn nói
Nhẫn sở hại tùy miên,
Hữu đỉnh chỉ kiến đoạn

 

* Trang 649 *
device

Ngoài ra kiến tu đoạn,
Trí sở hại chỉ tu.
Ngã, ngã sở, đoạn, thường,
Bát vô liệt là thắng.
Phi nhân đạo vọng gọi,
Là năm kiến tự thể.
Ở trời Đại Tự Tại …
Phi nhân vọng chấp nhân,
Theo thường, ngã đảo sinh
Nên chỉ thấy khổ đoạn.
Bốn điên đảo tự thể
Là tùy nơi ba kiến
Chỉ đảo làm tăng thêm.
Tưởng tâm tùy kiến lực,
Do có tưởng loạn đảo
Nên tâm ngươi bốc cháy.
Xa lìa các tưởng rồi,
Tham dứt tâm liền tịnh.
Mạn bảy chín theo ba
Đều thông kiến, tu, đoạn.
Thánh là như sát triền …
Có tu đoạn bất hành.
Mạn giống như ngã mạn,
Bất thiện trong ác tác.
Bậc thánh mà không khởi
Là bởi kiến nghi tăng.
Kiến khổ tập sở đoạn
Các kiến nghi tương ứng
Và bất cộng vô minh.
Biến hành tự giới địa.
Ở trong trừ hai kiến
Còn chin năng thượng duyên
Trừ được các tùy hành,
Cũng gồm biến hành nhiếp.
Diệt đạo sở đoạn
Tương ứng tà kiến nghi,
Và bất cộng vô minh.
Sáu năng duyên vô lậu
Ở trong duyên mà diệt,
Chỉ duyên tự địa diệt.
Duyên đạo sáu chín địa
Do biệt trị làm nhân,
Tham, sân, mạn, hai thủ
Cùng duyên phi vô lậu.
Nên lìa cảnh phi oán
Vì tĩnh tịnh thắng tính
Chưa đoan biến tùy mien
Nơi tự địa tất cả.
Chẳng biến nơi tự bộ
Vì sở duyên tùy tăng,
Phi vô lậu thượng duyên
Không nhiếp vì có khác.
Tùy nơi pháp tương ưng,
Tương ưng nên tùy tăng.
Trên hai cõi tùy miên,
Cùng Dục, thân, biên kiến

* Trang 650 *
device

Kia đều si, vô ký.
Đây thảy đều bất thiện.
Vô ký bốn có ba,
Vô ký ái, si, tuệ.
Vì không ngoài hai cao,
Ngoài mới lập bốn thứ.
Trung ái kiến mạn si.
Vì ba định đều si
Nên quyết phải phân biệt
Lại thêm xá trí ký
Như tử sinh thù thăng,
Và ngã uẩn nhất dị …'

Quyển XX Phẩm 5: Phân biệt tùy miên 2

Nếu ở trong việc này
Chưa đoạn tham sân mạn,
Quá hiện nếu đã khởi,
Vị lai ý biến hành.
Năm khả sinh tự thế,
Bất sinh cũng biến hành.
Còn quá, vị biến hành,
Hiện chính duyên năng hệ.
Cũng nói hữu ba đời,
Vì quả cảnh hai hữu.
Vì nói hữu ba đời,
Nên nói nhất thiết hữu.
Trong đây có bốn thứ
Loại tướng vị đãi dị.
Đệ tam ước tác dụng
Là tồi thiện trên đời.
Vì sao ngại dùng gì?
Không đời khác liền hoại.
Có ai chưa sinh diệt.
Pháp này tính rất sâu.
Pháp này thể bằng hữu.
Mà nói tính phi thường,
Tính thể lại không khác.
Đây là tự tại tác,
Nơi kiến, khổ đã đoạn.
Còn biến hành tùy miên
Các phẩm trước đã đoạn.
Duyên khác do đây buộc,
Kiến khổ tập tu đoạn
Như Dục giới rang buộc.
Tự giới ba, Sắc một,
Thức vô lậu sở hành.
Sắc tự dưới đều ba
Trên một cảnh tịnh thức.
Vô sắc thông ba cõi
Đều duyên ba tịnh thức.
Kiến diệt đạo sở đoạn
Đều tăng tự thức hành.

* Trang 651 *
device

Trong ba cõi vô lậu
Sau cảnh ba tịnh thức
Kiến khổ tập tu đoạn,
Dục, Sắc, Vô sắc buộc.
Nên biết như thứ lớp
Năm tám mười thức duyên,
Kiến diệt đạo sở đoạn
Đều tăng tự thức duyên.
Nên biết pháp vô lậu
Làm cảnh của mười thức.
Hữu tùy miên tâm hai
Là hữu nhiễm vô nhiễm.
Hữu nhiễm tâm thông hai.
Vô nhiễm chỉ tùy tăng.
Vô minh, nghi, tà, thân,
Biên kiến, giới, kiến thủ,
Tham, mạn, sân thứ lớp,
Do trước dẫn sau sinh.
Do chưa đoạn tùy miên
Và tùy ứng cảnh hiện.
Phi lý tác ý khởi,
Nếu có đủ nhân duyên,
Dục phiền não triền phược.
Trừ si là Dục lậu,
Hữu lậu trên hai cõi,
Chỉ phiền não, trừ si.
Đồng vô ký nội môn
Định địa nên hợp nhất.
Vô minh gốc các hữu,
Nên làm riêng một lậu.
Bạo lưu, ách cũng vậy,
Biệt lập vì kiến nhạy.
Vì kiến không thuận trụ.
Độc lập khác với lậu.
Dục, hữu, ách và si.
Kiến chia hai là thủ.
Vô minh không biệt lập
Vì không phải năng thủ.
Vi tế hai tùy tăng:
Tùy trục và tùy phược.
Trụ, lưu, phiêu hợp chấp
Là các nghĩa tùy miên.

Quyển XXI Phẩm 5: Phân biệt tùy miên 3

Do các kết sai biệt,
Lại nói có năm thứ
Kết chin vật và thủ …
Lập kiến, thủ hai kết.
Do hai chỉ bất thiện
Và khởi lên tự tại,
Trong triền chỉ tật, xan
Kiến lập làm hai kế

 

* Trang 652 *
device

Hoặc hai số hành nên
Là nhân của tiện bần.
Biến hiển và tùy hoặc,
Não với loạn hai bọ,
Lại chia năm thuận dưới
Do hai không siêu dục,
Do dưới lại có ba,
Nhiếp môn căn nên ba.
Hoặc không dục phát đến
Đường mê và nẻo nghi
Hay ngăn nẻo giải thoát
Nên chỉ nói đoạn ba.
Thuân trên cũng chia năm.
Sắc, Vô sắc hai tham,
Trạo cử, mạn, vô minh,
Khiến không thể siêu vượt.
Ba phược do ba thụ,
Tùy miên trước đã nói.
Ngoài ra tùy phiền não,
Nhiễm tâm sở thành uẩn,
Triền tám, vô tàm quí,
Tật, xan và hối miên,
Cùng trạo cử, hôn trầm,
Hoặc mười thêm phần, phú.
Vô tàm, xan, trạo cử,
Đều từ tham sinh ra.
Vô tàm, quí, hôn trầm,
Từ vô minh sinh khởi.
Tật, phẫn từ sân khởi.
Hối, từ nghi, phú, tranh,
Phiền não cấu sáu não.
Hại, hận, siểm, cuống, kiêu.
Cuống, kiêu từ tham sinh.
Hại, hận từ sân khởi.
Não từ kiến thủ khởi.
Siểm từ các kiến sinh.
Triền, vô tàm quí, miên,
Hôn, trạo, kiến, tu đoạn.
Và các phiền não cấu,
Tự tại nên chỉ tu,
Dục ba hai, các ác.
Thượng giới đều vô ký.
Siểm, cuống Dục sơ định,
Ba ba cõi và dục,
Kiếm đoạn trừ mạn, miên.
Tự tại tùy phiền não
Đều duy ý địa khởi.
Ngoài thông y sáu thức.
Dục giới các phiền não,
Tham, hỷ, lạc, tương ưng.
Sân, ưu, khổ, si khắp,
Tà kiến ưu và hỷ,
Nghi, ưu và năm hỷ,
Tất cả xả tương ưng.
Bậc trên đều tùy ứng,
Khắp tự thức các thụ.

* Trang 653 *
device

Trong các tùy phiền não,
Tật, hối, phẫn và não,
Hại, hận, ưu đều khởi.
Xan, hỷ, thụ tương ưng,
Siểm, cuống và miên, phú,
Thông ưu, hỷ đều khởi.
Kiêu, hỷ, lạc đều xả,
Ngoài bốn khắp tương ưng,
Cái năm chỉ tại dục.
Vì như thực trị đồng,
Tuy hai lập một cái
Chướng uẩn nên có năm.
Biến tri là sở duyên,
Vì đoạn trừ năng duyên,
Vì đoạn trừ sở duyên,
Khởi đối trị nên đoạn.
Đối trị có bốn thứ:
Là đoạn, trì, viễn, yếm.
Nên biết từ sở duyên,
Kiến đoạn được các hoặc,
Viễn thì có bốn loại,
Là khi tương trị xứ,
Như là đại thi – la,
Phương khác và hai đời …
Các hoặc không đoạn nữa.
Ly hệ hai lần được,
Là trị sinh đắc quả.
Trong sáu thời luyện căn,
Đoạn biến tri có chin.
Dục, hai đầu, đoạn một,
Hai đều một thành ba.
Thương giới ba cũng vậy.
Ngoài thuận dưới chia năm.
Sắc tất cả đoạn ba.
Trong đó quả nhẫn sáu.
Và ba là quả trí.
Chưa đến quả tất cả
Căn bản năm hoặc tám.
Vô sắc quả có một.
Ba căn bản cũng vậy.
Quả tục hai, thánh chin.
Pháp trí ba, loại hai.
Quả pháp trí phẩm sáu.
Quả loại trí phẩm năm.
Đắc vô lậu đoạn đắc,
Và khuyết đệ nhất hữu.
Diệt hai nhân vượt cõi,
Nên lập chin biến tri.
Không trụ kiến đế vị.
Hoặc thành một đến năm.
Tu thành sáu một ahi.
Vô học chỉ thành một,
Vì vượt cõi đắc quả.
Hai xứ tập biến tri.
Xả một hai năm sáu,
Đắc cũng vậy trừ năm.

 

* Trang 654 *
device

Quyển XXII Phẩm 6: Phân biệt hiền thánh 1

Đã nói phiền não đoạn
Là do tu kiến dế.
Kiến đạo duy vô lậu,
Tu đạo thông cả hai.
Đế có bốn đã nói,
Là khổ, tập, diệt, đạo.
Tự thể nó cũng vậy,
Lần lượt tùy hiện quán.
Khổ do ba khổ hợp,
Như sở ứng tất cả,
Khả ý, phi khả ý,
Còn hành pháp hữu lậu,
Như đặt một sợi long
Vào tay, người chẳng biết.
Nhưng nếu cho vào mắt,
Ắt xốn xang khó chịu.
Người ngu như bàn tay,
Sợi lông chẳng biết đau.
Kẻ trí như tròng mắt,
Sợi lông sợ vô cùng,
Vì là nhân các khổ,
Vì chứa nhóm các khổ,
Khổ ít cho là vui,
Nhưng thật ra là khổ.
Chư Phật chính biến giác,
Biết các hành phi thường,
Và hữu vi biến hoại,
Nên nói thụ là khổ.
Kia giác phá liền không
Tuệ chiết trừ cũng vậy,
Như nước bình thế tục.
Khác đây là thắng nghĩa.
Sắp đến chỗ kiến đế,
Hãy trụ giới siêng tu.
Văn tư tu làm thành,
Gọi là câu nghĩa cảnh.
Đủ thân tâm xa lìa
Không gì bằng đại dục.
Nói đã được, chưa được,
Cầu nhiều là không chi.
Trị tướng khác giới ba,
Vô lậu, vô tham tính,
Bốn thánh chủng cũng vậy.
Trước ba duy hỷ túc,
Ba đời đủ nghiệp sau,
Là trị bốn ái sinh,
Ngã sở, ngã sự dục,
Vì tạm dứt vĩnh trừ,
Vào tu cân hai cửa:
Bất tịnh quán, tức nệm.
Người tham tầm tăng thượng.
Theo thứ lớp nên tu.


 

* Trang 655 *
device

Vì trị chung bốn tham,
Lại biện quán cốt tỏa,
Rộng đến biển lại lược,
Là vị mới tập nghiệp.
Trừ chân đến đầu nửa,
Gọi là đã thục tu.
Buộc tâm tại giữa mày
Là vị siêu tác ý.
Vô tham tính thập địa,
Duyên người cõi Dục, Sắc.
Bất tịnh tự thế duyên,
Hữu lậu thông hai đắc.
Tức niệm tuệ: ngũ địa,
Duyên phong y dục thân.
Hai đắc, thật không ngoài,
Có sáu là các số …
Trì tức niệm nên biết,
Có sáu thứ khác tướng,
Là sơ tùy chỉ quán
Chuyển tịnh tướng sai biệt,
Thở ra vào theo thân,
Y hai sai biệt chuyển.
Tình số phi chấp thụ.
Đẳng lưu phi hạ duyên.

Quyển XXIII Phẩm 6: Phân biệt hiền thánh 2

Y đã tu thành chỉ,
Là quán tu niệm trụ
Dùng tự tướng cộng tướng,
Quán thân thụ tâm pháp.
Tự tính văn … các tuệ,
Các tướng tạp sở duyên,
Nói thứ lớp tùy sinh,
Trị đảo duy có bốn.
Kia nơi pháp niệm trụ,
Quán chung bốn sở duyên,
Tu phi thường là khổ,
Không, phi ngã hành tướng,
Từ đây sinh noãn pháp.
Quán đủ bốn thánh đế,
Tu mười sáu hành tướng,
Tiếp sinh đỉnh cũng vậy.
Như thế hai thiện căn,
Đều sơ pháp sau bốn.
Tiếp nhẫn chỉ pháp niện.
Hạ, trung phẩm đồng đỉnh.
Thượng là quán dục khổ.
Một hành một sát -na.
Thế đệ nhất cũng vậy,
Đều tuệ năm, trừ đắc.
Đây thuận quyết trạch phần,
Bốn đều do tu thành.

* Trang 656 *
device

Sáu địa hai hặc bảy,
Y Dục giới thân chin.
Ba nữ, nam được hai
Nữ thứ tư cũng vậy.
Thánh do mất địa xả,
Dị sinh do mạng chung.
Đầu hai cũng thoái xả.
Y bản ắt kiến đế,
Xả rồi đắc phi tiên.
Hai xả tính phi đắc.
Noãn ắt đến niết – bàn.
Đỉnh chung không đoạn thiện.
Nhẫn không đọa nẻo ác.
Đệ nhất nhập ly sinh.
Chuyển chủng tính Thanh văn,
Hai thành Phật còn ba
Lân giác Phật không chuyển,
Vì nhất tọa thành giác,
Trước thuận giải thoát phần,
Mau ba sinh giải thoát.
Văn, tư thành ba nghiệp,
Phát triển người ba châu.
Thế đệ nhất vô gián,
Tức duyên Dục giới khổ,
Sinh vô lậu pháp nhẫn,
Nhẫn rồi sinh pháp trí.
Tiếp duyên các giới khổ.
Duyên tập diệt đạo đế,
Bốn sinh khác cũng vậy.
Như vậy mười sáu tâm
Là thánh đế hiện quán.
Đây gồm chung ba thứ,
Là kiến duyên sự biệt,
Đều cùng thế đệ nhất
Đồng y nơi nhất địa.
Nhẫn trí như thứ lớp,
Vô gián giải thoát đạo,
Mười lăm trước kiến đạo,
Vị kiến vị tầng kiến.
Gọi tùy tín pháp hành
Do căn vó độn lợi.
Đều tu hoặc đoạn một.
Đến năm hướng sơ quả.
Đoạn tiếp ba hướng hai,
Ly tám địa hướng ba,
Đến tâm thứ mười sáu.
Tùy ba hướng quả trụ
Tên là tín, giải, kiến
Cũng do có độn, lợi.
Trong các quả chứng đắc,
Chưa đắc thắng quả đạo,
Nên chưa khỏi thắng đạo,
Gọi quả trụ, phi hướng
Mỗi địa mất đức chín.

* Trang 657 *
device

Sinh loại nhẫn loại trí,
Chưa đoạn, tu đoạn mất,
Hạ, trung, thượng đều ba
Quả trụ cực bảy nghịch
Ngu thì tội nhỏ cũng đọa ác,
                  Tri thì tội lớn cũng thoát khổ.
                  Như cục sắt nhỏ chìm xuống nước
                  Còn bát sắt lớn cũng nổi được
 
 Quyển XXIV Phẩm 6: Phân biệt hiền thánh 3

Đoạn dục ba bốn phẩm,
Ba hai sinh Gia gia.
Đoạn đến năm: Hai hướng.
Đoạn sáu quả Nhất lai.
Đoạn bảy hay tám phẩm,
Nhất sinh gọi nhất gian,
Đây tức Đệ tam hướng.
Đoạn chin: quả Bất hoàn.
Trong đây sinh hữu hành.
Vô hành Bát-niết-bàn.
Thượng lưu nếu tạp tu,
Đến được Sắc cứu cánh,
Vượt nửa, vượt khắp cả.
Ngoài đến được Hữu đỉnh.
Hành Vô sắc có bốn,
Trụ đây Bát – niết – bàn.
Hành Sắc giới có chín,
Là mỗi ba chia ba.
Nên thành riêng ba chín
Lập bảy đến Thiện sĩ,
Do thượng lưu không khác.
Thiện ác hành bất hành
Vì hữu văn vô hoàn.
Trải Dục giới sinh thánh
Không sinh qua cõi khác.
Đây và vãng thượng sinh,
Vô gián căn và thoái,
Trước tạp tu thứ tu,
Thành do nhất niệm tạp.
Vì thụ sinh hiện lạc
Và ngăn phiền não thoái,
Do tạp tu năm phẩm,
Có sinh năm Tịnh cư
Đắc Diệt định, Bất hoàn,
Chuyển gọi là thân chứng.
Trong tu hoặc thượng giới




 

* Trang 658 *
device

Nghiệp hoặc gốc và nhánh,
Đến Hữu đỉnh tám phẩm
Đều A-la-hán hướng.
Thứ chin Vô gián đạo
Là Kim cương dụ định.
Được hết Câu cận trí
Thành ứng quả vô học.
Hữu đỉnh do vô lậu
Ngoài do hai ly nhiễm.
Thánh hai ly, tám tu,
Đều hai ly mà được.
Vô lậu chưa đến đạo,
Ly được tất cả bậc.
Ngoài tám ly từ trên.
Hữu lậu ly trở xuống.
Cận phần ly hạ nhiễm.
Ba đầu sau giải thoát.
Căn bản hay Cận phần,
Bậc trên chỉ căn bản.
Thế vô gián giải thoát,
Thứ tự duyên dưới trên.
Tác thô khổ chướng hành
Và tĩnh diệu ly ba.
Sau Bất động tận trí,
Ất khởi Vô sinh trí.
Ngoài tận hay chính kiến
Đoạn sơ định một phẩm
Đây ưng quả đều có.
Tính sa – môn tịnh đạo,
Quả hữu vi, vô vi.
Đây có tám mươi chin.
Giải thoát đạo và diệt,
Năm nhân lập bốn quả.
Xả tằng được thắng đạo.
Đoạn tập được tám trí,
Đốn tu mười sáu hạnh.
Thế đạo sở đắc đoạn.
Vì thánh sở đắc tạp,
Vì vô lậu đắc trì
Cũng gọi quả sa-môn.
Nói là tính sa-môn,
Cũng gọi bà-la-môn,
Cũng gọi là Phạm luân,
Vì chân Phạm chuyển thành.
Ở trong chỉ kiến đạo.
Gọi tên là Pháp luân,
Do nhanh như bánh xe.
Lại có đủ trục xe.
Ba y dục bas au,
Do trên không kiến đạo,
Không nghe, không duyên dưới
Và trải qua không chán.

* Trang 659 *
device

Quyển XXV Phẩm 6: Phân biệt hiền thánh 4

A-la-hán có sáu,
Là Thoái đến Bất động.
Trước năm tin giải sinh.
Gọi chung: Thời giải thoát,
Sau: Bâta thời giải thoát.
Từ trước kiến đến sinh,
Đã có tiên chủng tính.
Sau do luyện căn được.
Bốn từ chủng tính thoái.
Năm từ quả phi tiên.
Học dị sinh cũng sáu.
Luyên căn phi kiến đạo.
Nên biết Thoái có ba.
Đã, chưa được thụ dụng.
Phật chỉ có sau rốt.
Lợi trung hậu độn ba
Tất cả từ quả thoái,
Ắt được chẳng mạng chung.
Quả trụ sở bất vi,
Tàm tăng nên bất tác.
Luyên căn vị vô học,
Chín vô gián giải thoát.
Tập lâu nên học một,
Vô lậu y người ba,
Vô học y chín địa.
Xả quả thắng quả đạo,
Vì chỉ được quả đạo.
Bảy Thanh văn hai Phật,
Sai khác do chin căn.
Gia hạnh căn diệt định.
Giải thoát nên thành bảy.
Việc này riêng có sau,
Vì ba đạo đều hai,
Đều do được diệt định.
Ngoài là Tuệ giải thoát.
Hữu học gọi là mãn.
Do căn quả định ba.
Vô học được gọi mãn
Chỉ do căn định hai.
Nên biết tất cả đạo
Lược nói chỉ có bốn
Là gia hạnh, vô gián,
Giải thoát, thắng tiến đạo.
Thông hành có bốn thứ.
Lạc y bản tĩnh lự.
Khổ y các địa khác.
Chậm nhanh độn lợi căn.
Giác phần ba mươi bảy
Gọi là bốn niệm trụ …
Giác là tận vô sinh.


 

* Trang 660 *
device

Hữu học chỉ y sáu.
Thật sự đây có mười
Là tuệ, cần, định, tín,
Niệm, hỷ, xả, khinh an
Và giới, tầm làm thể.
Bốn niệm trụ chính đoan
Thần túc tùy tăng thượng.
Nói là tuệ, cần, định,
Thật các gia hạnh thiện.
Sơ nghiệp thuận quyết trạch
Và tu kiến đạo vị
Các niệm trụ … bảy phẩm
Nên biết thứ lớp tăng,
Thất giác, bát đạo chi,
Nhất hướng là vô lậu.
Ba bốn năm căn lực
Đều thông cả hai thứ.
Sơ tĩnh lự tất cả
Chưa đến, trừ hỷ căn.
Hai tĩnh lự trừ tầm,
Trong ba bốn trừ hai,
Trước ba Vô sắc địa,
Trừ giới trước hai thứ.
Ở Dục giới Hữu đỉnh,
Trừ Giác và Đạo chi.
Chứng tịnh có bốn thứ
Thuận đây nên gọi phần.
Là Phật, Pháp, Tăng, Giới.
Kiến ba được giới Pháp,
Kiến đạo và Phật Tăng.
Pháp là toàn ba đế.
Bồ - tát, Độc giác đạo.
Tín, giới hai làm thể.
Bốn đều là vô lậu.
Hữu học các trói buộc
Không chính thoát trí chi,
Giải thoát là vô vi,
Là thắng giải hoặc diệt,
Hữu vi vô học chi
Tức hai giải thoát uẩn,
Chính tri như giác thuyết,
Là tận vô sinh trí
Đạo chỉ chính diệt vị
Khiến kia đoan được chứng.
Vô vi nói ba cõi,
Lìa cõi chỉ lìa tham.
Đoạn cõi đoạn các kết.
Diệt cõi diệt việc kia,
Chán duyên khổ tập tuệ.
Lìa duyên bốn năng đoạn,
Tương đối có rộng hẹp,
Nên ứng thành bốn câu,

* Trang 661 *
device

Quyển XXVI Phẩm 7: Phân biệt trí 1

Thánh tuệ nhẫn phi trí,
Tận vô sinh phi kiến.
Và hai hữu lậu tuệ
Đều trí sáu kiến tính.
Trí mười gồm có hai
Hữu lậu và vô lậu.
Hữu lậu gọi Thế tục,
Vô lậu gọi Pháp loại.
Thế tục khắp là cảnh.
Pháp trí và Loại trí.
Như Dục các cõi trên
Các khổ đế … là cảnh.
Pháp loại do cảnh khác.
Lập các khổ … bốn tên,
Đều thông tận vô sinh.
Đầu tiên loại khổ tập.
Pháp loại đạo thế tục
Hữu thành tha tâm trí.
Ở vị thắng địa căn
Chẳng biết đời trước sau.
Pháp loại chẳng biết nhau
Thanh Văn, Lân Dụ Phật.
Lại như trì kiến đạo,
Hai ba niệm tất cả.
Trí ở bốn thánh đế,
Biết ngã và đã biết …
Không nên lại biết nữa …
Rồi đến tận vô sinh
Do tự tính đối trị.
Hành tướng cảnh hành tướng
Gia Hạnh luận rõ nhân
Cho nên lập mười trí
Duyên diệt đạo pháp trí.
Ở trong tu đạo vị,
Gồm trị thượng tu đoạn.
Loại không thể trị dục,
Pháp trí và loại trí
Đều mười sáu hành tướng.
Thế tục đây và khác
Tứ đế trí đều bốn.
Tha tâm trí vô lậu,
Chỉ bốn là duyên đạo.
Hữu lậu tự tướng duyên,
Đều chỉ duyên một việc.
Tận vô sinh mười bốn,
Là ly không phi ngã.
Tịnh vô việt mười sáu,
Vì các thuyết có luận,
Hành tướng thật mười sáu.
Thế này chỉ là tuệ.
Năng hành có sở duyên,
Sở hành các pháp hữu.


 

* Trang 662 *
device

Tính dục ba chin thiện,
Y tha tất cả tục.
Tha tâm trí có bốn,
Pháp sáu, còn mười chin.
Hiện khởi sở y thân
Tha tâm y Dục, Sắc.
Pháp trí chỉ y Dục,
Còn tám thông ba cõi.
Các trí nhiếp niệm trụ.
Diệt trí là sau cùng.
Tha tâm trí sau ba,
Còn tám trí thông bốn.
Các trí duyên lẫn nhau.
Pháp loại đạo đều chin.
Khổ tập trí đều hai.
Bốn đều mười diệt phi.
Sở duyên gồm có mười
Là vô lậu ba cõi.
Vô vi đều có hai.
Tục duyên mười pháp năm
Loại bảy khổ tập sáu.
Diệt duyên nhất đạo hai.
Tha tâm trí duyên ba.
Tận vô sinh đều chin.
Tục trí trừ tự phẩm
Tổng duyên tất cả pháp,
Là phi ngã hành tướng,
Chỉ văn, tư làm thành.
Dị sinh thánh kiến đạo,
Sơ niệm định thành một.
Hai định thành ba trí.
Sau bốn một một tăng.
Tu đạo định thành bảy.
Ly dục tăng tha tâm,
Vô học độn lợi căn,
Định thành chin thành mười.
Kiến đạo nhẫn trí khởi,
Tức kia vị lai tu.
Ba loại trí gồm tu
Hiện quán biên tục trí.
Bất sinh tự hạ địa,
Khổ tập bốn diệt sau.
Tự đế hành tướng cảnh,
Chỉ gia hạnh mới được,
Tu đạo sát-na đầu,
Tu sáu hay bảy trí,
Đoạn bát địa vô gián,
Và hữu dục các đạo.
Hữu đỉnh tám giải thoát
Đều tu ở bảy trí.
Trên vô gián các đạo,
Như thứ tu sáu tám.
Vô học sát-na đầu,
Tu chin hay tu mười,
Vì căn độn lợi khác
Thắng tiến đạo cũng vậy.

* Trang 663 *
device

Luyện căn vô gián đạo,
Học sáu, vô học bảy,
Các học sáu, bảy, tám.
Ứng tám chin, tất cả
Tạp tu thông vô gián
Học bảy ứng tám chin
Các đạo học tu tám,
Ứng chin hay tất cả.
Thánh khởi các công đức
Và dị sinh các vị
Sở tu trí nhiều ít
Nên tư duy như lý.
Các đạo y đây được.
Tu địa này hữu lậu
Vì lìa được khởi đay.
Tu dưới đây vô lậu
Chỉ mới tận biến tu.
Cửu địa đức hữu lậu,
Sinh thượng không tu hạ.
Từng sở đắc phi tu.
Lập được tu tập tu
Y thiện pháp hữu vi,
Y các pháp hữu lậu
Lập trị tu khiển tu.

Quyển XXVII Phẩm 7:  Phân biệt trí 2

Mười tám pháp bất cộng
Là Phật và Thập lực …
Lực xứ phi xứ mười.
Nghiệp tám trừ diệt đạo.
Định căn giải giới chin.
Đến khắp chin hay mười.
Xư trụ tử sinh tục
Hết sáu hay mười trí.
Xưa trụ tử sinh trí,
Y tĩnh lự các thông.
Thiêm-bộ nam Phật thân
Vì ở cảnh vô ngại.
Thân sức na-la-diên,
Hay mỗi mỗi đều thế.
Tượng và … mười bảy tăng,
Đây xúc xứ là tính.
Bốn vô úy tiếp theo,
Đầu mười hai bảy lực.
Ba niệm trụ niệm tuệ,
Duyên thuận nghịch đều cảnh.
Đại bi chỉ tục trí,
Tư lương hành tướng cảnh,
Vì bình đẳng thượng phẩm
Dị bi do tám nhân.
Nếu nơi phúc điền Phật
Trồng được phần ít thiện

* Trang 664 *
device

Mới đến được thắng thiện,
Sau ắt được niết – bàn.
Lại có các pháp Phật.
Cùng các thánh dị sinh
Là Vô tránh nguyện trí.
Các đức vô ngại giải.
Vô tránh thế tục trí,
Sau tĩnh lự bất động.
Ba châu duyên chưa sinh,
Dục giới có sự hoặc.
Nguyện trí năng biến duyên
Như các thuyết vô tránh.
Vô ngại giải có bốn
Là pháp nghĩa từ biện.
Danh nghĩa ngôn thuyết đạo.
Vô thoái trí là tính,
Pháp, từ là tục trí.
Năm hai địa làm y.
Nghĩa mười sáu biện chin
Đều y tất cả địa.
Chỉ được ắt đủ bốn
Như các thuyết vô tránh.
Sáu y được biên tế,
Biên tế sáu sau định.
Biến thuận đến cứu cánh.
Phật được các gia hạnh.
Thông sáu là thần cảnh.
Thiên nhãn, nhĩ, tha tâm.
Túc trụ Lậu tận thông,
Nhiếp giải thoát đạo tuệ.
Bốn tục, tha tâm năm.
Lậu tận thông như lực.
Năm y bốn tĩnh lự,
Từ hạ địa làm cảnh.
Thanh Văn, Lân Dụ, Phật
Hai ba ngàn vô số
Chưa từng do gia hạnh,
Từng tu được ly nhiễm.
Niệm trụ đầu ba thân.
Tha tâm ba ngoài bốn.
Thiên nhãn, nhĩ, vô ký,
Các bốn thông là thiện.
Đệ ngũ hai sáu minh,
Vì trị tam tế ngu.
Sau chân là hai giả.
Học hữu ám phi minh.
Đệ nhất bốn sáu đạo.
Giáo giới đạo là tôn.
Do định thông mà thành,
Vì dẫn quả lợi lạc.
Thần thể là đẳng trì,
Cảnh hai là thành hóa
Hành ba ý thế Phật.
Vận tân thắng giải thông,
Hóa hai là Dục, Sắc
Bốn hai ngoại xứ tính,

* Trang 665 *
device

Đây đều có hai thứ,
Tựa như thân tự tha.
Năng hóa tâm mười bốn.
Định quả hai đến năm.
Như sở y định được,
Từ tịnh tự sinh hai.
Hóa sự do tự địa.
Ngữ thông do tự hạ.
Hóa thân cùng hóa chủ
Nói ra đều phi Phật.
Trước lập nguyện lưu thân.
Sau khởi các tâm ngữ.
Hữu tử lưu kiên thể,
Các thuyết không nghĩa lưu.
Trước nhiều nhất tâm hóa.
Thành mãn đây trái nhau.
Nhiếp tu đắc vô ký.
Các đắc thông ba tính.
Khi một hóa chủ nói,
Các hóa khác đều nói.
Một hóa chủ im lặng,
Các hóa khác cũng vậy.
Thiên nhãn, nhĩ là căn,
Tức định địa tịnh sắc,
Hằng đồng phân không khuyết.
Thủ ngăn che tế viễn …
Nhục nhãn ở các phương
Bị ngăn tế viễn sắc.
Công dụng vô năng kiến
Không trái thiên nhãn kiến.
Thần cảnh năm tu sinh
Vì chú dược nghiệp thành.
Thu tâm tu sinh chú,
Lại thêm chiêm tướng thành.
Bat u sinh nghiệp thành,
Trừ tu đều ba tính,
Người chỉ vô sinh đắc,
Địa ngục sở năng tri.

Quyển XXVIII Phẩm 8: Phân biệt định 1

Tĩnh lự bốn đều hai
Ở trong sinh đã nói.
Định là thiện một cảnh,
Cùng bạn tính năm uẩn.
Trước đủ từ, hỷ, lạc.
Sau dần lìa chi trước,
Vô sắc cũng như vậy.
Bốn uẩn lìa hạ địa,
Và thượng ba cận phần
Đều gọi trừ sắc tưởng.
Vô sắc là Vô sắc.
Sau sắc theo tâm khởi

* Trang 666 *
device

Không là vô biên … ba
Từ gia hạnh lập tên.
Phi tưởng phi phi tưởng,
Muội liệt nên lập tên.
Căn bản này đến tám,
Trước bảy đều có ba,
Là vị tịnh vô lậu.
Sau vị tịnh hai thứ.
Vị là ái tương ưng.
Tịnh là thế gian thiện.
Đây tức sở vị trước,
Vô lậu là xuất thế.
Tĩnh lự trước năm chi,
Tầm, từ, hỷ, lạc, định.
Đệ nhị có bốn chi,
Nội tịnh hỷ lạc định.
Đệ tam đủ năm chi:
Xả, niệm, tuệ, lạc, định.
Đệ tứ có bốn chi,
Trong Xả, niệm, thụ, định.
Đây thật sự mười một,
Trước hai lạc khinh an.
Nội tịnh tức tín căn,
Hỷ tức là hỷ thụ.
Nhiễm là từ ban đầu
Vô hỷ lạc nội tịnh,
Chín niệm tuệ xả niệm,
Các thuyết không an xả.
Đệ tứ tên bất động,
Vì lìa tám tai hoạn.
Tám đó là tầm từ,
Bốn thụ thở ra vào.
Sinh tĩnh lự từ đầu
Có hỷ lạc xả thụ
Và hỷ xả lạc xả
Duy xả thụ như thứ.
Sinh thượng ba tĩnh lự
Khởi ba thức biểu tâm,
Đều trước nhiếp tĩnh lự.
Duy vô phú vô ký,
Toàn bất thành mà được.
Tịnh do lìa nhiễm ính.
Vô lậu do lìa nhiễm.
Nhiễm do sinh và thoái.
Vô lậu thứ sinh thiện,
Thượng hạ đến đệ tam.
Tịnh thứ sinh cũng vậy,
Gồm sinh tự địa nhiễm.
Nhiễm sinh tự tịnh nhiễm
Và hạ một địa tịnh
Tử tịnh sinh tất cả.
Nhiễm sinh tự hạ nhiễm
Tịnh định có bốn thứ
Là tức thuận thoái phần.
Thuận trụ thuận thắng tiến
Nhiếp thuận quyết trạch phần

* Trang 667 *
device

Như thứ thuận phiền não.
Tự thượng địa vô lậu
Hỗ tương vọng như thứ
Sinh hai ba ba một.
Hai loại định thuận nghịch
Đều gián thứ và siêu.
Đến gián siêu là thành.
Ba châu lợi vô học
Các định y tự hạ,
Vì phi thượng vô dụng
Duy sinh thánh Hữu đỉnh,
Khởi hạ hết các hoặc,
Vì định duyên tự buộc.
Tịnh vô lậu duyên khắp
Căn bản thiện Vô sắc,
Không duyên lạ hữu lậu.
Vô lậu hay đoạn hoặc
Và các tịnh cận phần.
Cận phần tám xả tịnh
Trước cũng thánh hoặc ba,
Giữa tĩnh lự vô tầm,
Đủ ba duy xả thụ.
Trước, dưới có tầm từ
Giữa có từ, trên không.
Không là không phi ngã,
Vô tướng là diệt bốn,
Vô nguyện thì có mười.
Tương ưng hành tướng đế,
Đây thông tịnh vô lậu.
Vô lậu ba giải thoát,
Trùng hai duyên vô học,
Thủ không phi thường tướng,
Sau duyên định vô tướng
Phi trạch diệt là tĩnh.
Người hữu lậu bất thời
Lìa thượng bảy cận phần
Vì được hiện pháp lạc,
Tu các thiện tĩnh lự,
Vì được thắng tri kiến,
Tu tịnh thiên nhãn thông,
Vì được tuệ phan biệt,
Tu các thiện gia hạnh,
Vì được hết các lậu,
Tu định Kim cương dụ.

Quyển XXIX Phẩm 8: Phân biệt định 2

Vô lượng có bốn thứ,
Vì đối trị các sân …
Từ bi tính không sân
Hỷ hỷ xả không tham.
Đây hành tướng như thứ
Cho vui và vớt khổ


 

* Trang 668 *
device

An ủi loài hữu tình.
Duyên Dục giới hữu tình
Hỷ trước hai tĩnh lự.
Ngoài sáu hay năm mươi
Không thể đoạn các hoặc,
Người khởi định thành ba,
Giải thoát có tám thứ.
Trước ba, tính vô tham,
Hai hai một một định.
Bốn định thiện Vô sắc,
Diệt thụ tưởng giải thoát.
Vi vi vô gián sinh
Do tự địa tịnh tâm
Và hạ vô lậu xuất.
Ba cảnh dục thấy được,
Bốn cảnh loại phẩm đạo.
Tự thượng khổ tập diệt
Phi trạch diệt, hư không.
Hai như sơ giải thoát,
Thứ hai như đệ nhị,
Sau bốn như đệ tam.
Biến xứ có mười thứ.
Tám như tịnh giải thoát.
Sau hai tịnh Vô sắc,
Duyên tự địa bốn uẩn.
Diệt định như biện trước.
Ngoài đều thông hai đắc.
Vô sắc y ba cõi.
Ngoài ra người khởi đến,
Hai cõi do nghiệp nhân.
Hay khởi định Vô sắc.
Sắc giới khởi tĩnh lự
Cũng đều do pháp lực
Chính pháp Phật có hai
Là giáo chứng là thể,
Hữu trì thuyết hành giả
Đây tiện trụ thế gian.
Ca – thấp – di –la: nghị lý thành
                    Ta vào thành đó giảng Đối pháp.
                    Thiếu hụt ít nhiều là lỗi ta,
                    Phán pháp chính lý: Đức Mâu – ni.
                    Đại sư mắt đời lâu đã khép,
                    Thật là người chứng hầu vắng bỏng.
                    Chân lý chẳng thấy, không người lập.
                    Do nghèo suy tư, loạn thánh giáo,

* Trang 669 *
device

Tự giác đã qui thắng tịch tĩnh.
                    Người trì giáo pháp mất đã nhiều,
                    Đời không nương tựa, hết cái đức.
                    Không kềm chế hoặc tùy ý chuyển.
                    Chính pháp thọ mạng Đức Như Lai,
                    Lần lượt cuốn trôi chìm mất hút.
                    Đến khi các lực phiền não tăng,
                    Nên cầu giải thoát chớ phóng dật.
 
                  Phẩm 9: Phá ngã chấp 1
Ngươi đọa vào ác kiến,
Nơi không hành tụ hội.
Hữu tình vọng chấp hữu
Người trí đạt phi hữu.
Tức như các chi tiết,
Giả lập là cái xe,
Thế tục lập hữu tình,
Nên biết do các uẩn,
Bà – thì – lợi lắng nghe,
Giải được các pháp kết,
Là y tâm nên nhiễm,
Cũng y tâm nên tịnh.
Tính ta thật vô ngã,
Điên đảo nên chấp có,
Vô ngã không hữu tình.
Duy hữu có pháp nhân,
Là mười hai chi hữu.
Thâu nhiếp uẩn xứ giới.
Xét kỹ đây tất cả,
Không bổ-đặc-già-la.
Đã quán trong là không,
Thì quán ngoài cũng không.
Người hay tu quán không.
Cũng đều không thể được,
Do tương mục mà có.
Như lửa đốt tất cả.
Như vậy tất cả trí
Chẳng do mau biết khắp
Nếu chư Phật quá khứ
Và chư Phật vị lai
Cũng chư Phật hiện tại
Nhập diệt chúng sinh lo.

 

* Trang 670 *
device

Quyển XXX Phẩm 9: Phá ngã chấp 2

Quán bị kiến làm hại
Và phá các thiện nghiệp.
Nên Phật nói chính pháp
Như độc hổ hàm tử.
Chấp chân ngã là có
Thì bị kiến thương tổn.
Cho tục ngã là không
Liền hoại giống thiện nghiệp.
Do mạng thật là không
Phật chẳng nói một, khác.
Sợ cho không giả ngã,
Cũng chẳng nói đều không
Là trong uẩn tương tục
Là có mạng nghiệp quả.
Nếu nói là không mạng,
Kia cho đây là không,
Chẳng nói trong các uẩn
Là có mạng giả danh.
Người phát hỏi do quán
Không sức hiểu chân không
Như vậy quán phiệp-sa
Vì ý lạc sai biệt.
Kia hỏi ngã có không.
Phật chẳng đáp có không.
Nơi một vòng khổng tước,
Tất cả chủng nhân tướng,
Chẳng phải cảnh giới trí,
Duy nhất thiết trí biết
Nghiệp cực trọng, cận khởi,
Số tập tiền sở tác,
Tiền tiền tiền hậu thục
Luân chuyển nơi sinh tử.
Nghiệp này huân tập này,
Đến đây thời và quả,
Tất cả mọi định lý,
Lìa Phật không thể biết.
Đã khéo nói tịnh nhân đạo này,
                    Là chân pháp tịnh lời Phật dạy.
                    Nên bỏ mê mờ ngoài các chấp
                    Ác kiến tạo ra, cầu tuệ nhãn.
                    Đây cung niết – bàn con đường rộng.
                    Ngàn thánh ung dung không tính ngã.
                    Ánh sáng chiếu soi lời chư Phật.


 

* Trang 671 *
device

                    Tuy mở mắt rồi còn chưa thấy.             
                    Ở lãnh vực này đã lược nói,
                    Để cho người trí mở cửa tuệ.
                    Ngõ hầu sức mình được kham năng,
                    Ngộ khắp sở tri thành thắng nghiệp.

                              (Mùa chư Tăng an cư 2005- Nguyên Hồng dịch)

* Trang 672 *
device

 
Đại cương Luận Câu Xá