LOGO VNBET
Khái quát về

LUẬN CÂU XÁ


Trước khi học Luận Câu-Xá, tôi muốn định hỏi quí vị một câu: Câu gì các vị có biết không? Các vị muốn làm người hữu học hay người vô học? Có người nói hữu học có người nói vô học nên tôi đàng giải thích luận này.
Hôm nay tôi muốn nói cho các vị biết một cách tổng quát về hệ thống giáo lý từ Nguyên thủy của Tiểu thừa, rồi đến Đại thừa. Trong cách nói tổng quát này tất nhiên cũng có Luận Câu-Xá ở trong đó để chúng ta hiểu thêm về Câu-Xá nó ở vị trí nào và nó tương quan ra sao trong nền giáo lý của Phật đà.
Bây giờ tôi viết chữ Hán trên bảng, nếu ai viết được thì tốt, còn ai không viết kịp thì thôi, đành viết chữ Việt vậy, vì tôi rành chữ Hán hơn, Mà chính các vị cũng cần trau dồi thêm chứ Hán, nếu không giỏi chữ Hán thì đến lúc các vị ra khỏi trường, coi như vốn liếng chữ nghĩa trả lại cho thầy, thì không gì tệ cho bằng. Tôi nói vậy là bởi kinh sách của Phật chứa đựng trong các tạng Pàli, Sanskrit, và nhất là Tam tạng Hán. Sau này Anh văn, Pháp văn, Đức văn, Nhật văn v.v... người ta cũng có nghiên cứu phiên dịch, nhưng những sách vở đó mình có đọc cũng chỉ là đọc cái ngọn mà thôi. Đó là những thức ăn mà người ta đã nhai rồi, mình có ăn cũng chỉ là ăn cơm nhai lại, chứ không ăn được cơm nguyên chất bới    

* Trang 11 *
device

từ trong nồi ra. Giả sử có ai khen ngon thì cái đó cũng lạc lẽo lắm, chi bằng mình tìm cho được loại cơm nguyên chất bới ra mà ăn, đó là loại cơm gốc ăn thì mới thú vị hơn. Đọc sách kinh cũng vậy, nếu chứ Hán mà thông thì cũng giống như ăn cơm gốc vậy.
Nói tóm lại là phải hiểu cái văn ngữ Pàli, văn ngữ Hán v.v... Đó là loại ngôn ngữ mà bây giờ kinh sách Tam tạng có đầy đủ cả, nó chứa đựng trong các tạng đó, nhất là Hán tạng. Còn tạng Sanskrit thì cũng rât quí nhưng ít ai học thông và viết thạo được vì nó khó đọc quá.
Một số các vị trong đây thấy tôi dạy thế này lại cho là cổ hủ, mất thì giờ, chữ Hán khó viết, khó đọc chi bằng dạy thẳng Việt văn, nói xuôi xuôi sởi lởi cho mau hiểu. Nếu thế thì sau này các vị sẽ không có cái vốn để nghiên cứu và đọc tụng kinh sách đâu.
*

Bây giờ chúng ta đặt vấn đề phiên dịch Tam tạng sang tiếng Việt Nam. Tam tạng thì nhiều vô cùng, nhưng sức chúng tôi và các vị trong hiện hữu đã, đang và sẽ phiên dịch bất quá chỉ vài ba bộ mà thôi chứ không sao dịch cho nhiều được. Như vậy thì tương lại ai là người chịu trách nhiệm về dịch đó? Lẽ tất nhiên là các vị chứ không ai khác. Do vậy tôi khuyên các vị nên chịu khó học tập chăm chỉ một chút để sau này có ích cho đạo, có lợi cho mình, cho đời và cho xã hội nói chung.

* Trang 12 *
device

Đến đây chúng tôi đi sâu vào nội dung để giới thiệu bài giảng mà chúng ta đang học.
Muốn biết một cách tổng quát về toàn bộ hệ thống giáo lý Phật giáo thì phải hiểu rõ về Phật pháp đại hệ. Phật pháp đại hệ là hệ thống lớn của Phật pháp. Trước hết là nguyên thủy Phật giáo, và thứ đến là bộ phái Tiểu thừa Phật giáo, và thứ đến là bộ phái Tiểu thừa Phật giáo.
Trong bộ phái Phật giáo có 2 bộ chính, đó là Thượng tọa bộ (Sthavira hoặc Mahàsthavira) và Đại chúng bộ lại chia làm 18 bộ; cả 18 bộ này cộng với 2 bộ chính thành ra 20 bộ.
Trưởng lão bộ (hay Thượng tọa bộ): Tuyết sơn trú bộ, Nhất thiết hữu bộ, Độc tử bộ, Pháp thượng bộ, Hiền trụ bộ, Mật lâm sơn trú bộ, Hóa địa bộ, Pháp tạng bộ, Ẩm quang bộ, Thiện tuế bộ, Kinh lượng bộ, Thuyết chuyển chấp bộ.
Đại chúng bộ: Nhất thuyết bộ, Xuất thế bộ, Khôi sơn bộ,, Đa văn bộ, Thi thiết bộ, Chế đa bộ, Chính lượng bộ, Đông sơn trú bộ, Tây sơn trú bộ.
Nói “đại hệ” tức là nói Thượng tọa và Đại chúng mà thôi, còn các bộ con thì nằm trong lòng các bộ mẹ rồi. Nói bộ mẹ là chỉ cho Thuyết Xuất thế bộ chi tục vọng chơn thật, quá vị vô thể; và thuyết Nhất Thiết hữu bộ chi chư pháp như huyễn. Hai học thuyết này, nhìn chung, nó có ảnh hưởng lớn đến học thuyết của ngài Long Thọ (Nàgàrjuna) về sau. Đó là Long Thọ đích vô tướng giai không luận, thứ hai là tâm tính bổn tịnh. Chính chủ trương này đã có ảnh           

* Trang 13 *
device

hưởng lớn đến giáo lý Pháp giới Viên giác học của giáo lý Phật giáo Đại thừa sau này.
Trong Tiểu thừa có 20 bộ phái (như vừa nêu trên), có 2 bộ phái mẹ là xuất thế bộ (Lokottaravàdina) và Nhất thiết hữu bộ (Sarvàstivàda). Xuất thế bộ chủ trương quá vị vô thể (các pháp quá khứ và vị lại không có thật thể), vì cho rằng tục vọng chơn thật (thế tục là hư vọng, còn chân đế mới là chân thật). Và Nhất thiết hữu bộ thì chủ trương chư pháp như huyễn.
Hai học thuyết này có ảnh hưởng lớn tới học thuyết Vô tướng gia không của ngài Long Thọ về sau. Từ đó chúng ta biết được diễn tiến về cội nguồn tư tưởng của Phật giáo là có gốc rễ chứ không phải từ hư không mà sinh ra cái giáo nghĩa Đại thừa hay Tiểu thừa bộ phái.
Trong Đại chúng bộ, như đã nói ngoài chủ trương tâm tánh bổn tịnh mà nó có ảnh hưởng lớn đến học thuyết Viên giác học của Phật giáo Đại thừa sau này. Cũng trong Đại chúng bộ này còn có chủ trương là căn bản thức mà Thượng tọa bộ gọi nó là hưu phần thức hay kiết sanh thức. Hữu bộ được xem là con đẻ của Thượng tọa bộ, chia thế giới thành 5 vị, 75 pháp, với chủ trương tam thế thật hữu, pháp thế bằng hữu (ba đời: quá khứ, hiện tại và vị lai là thật có, pháp thể thường có). Hóa địa bộ (Mahì‘shàsaka) thí chủ trương cùng sanh tử uẩn ; nó tương đương như hữu phần thức (của Thượng tọa bộ); và chủ trương nhất uẩn vị của kinh lượng bộ (Sautràntika) thì cũng tương đương như cùng sanh tử uẩn (của Hóa địa bộ).

* Trang 14 *
device

Tựu trung, những giáo thuyết như căn bản thức, 5 vi 75 pháp, cùng sanh tử uẩn đều có ảnh hưởng lớn đến thuyết A-lại-gia duyên khởi của ngài Vô Trước (Asanga).
Trên đây là nét đại cương để chúng ta thấy được hệ thốn giáo lý của Phật giáo nó diễn tiến như thế nào, nó câu móc với nhau ra sao, và nó tương quan với nhau như thế nào.
Đấy là một chặng đường lịch sử trên cái lịch sử Phật giáo Ấn Độ. Sau đức Phật diệt độ khoảng 100 năm, Tăng chúng ở Ấn Độ chia ra ( cũng sống chung quanh sông Hằng) nhưng chia ra hai bộ phận. Bộ phận phía Tây và bộ phận phía Đông. Bộ phận phía Tây là của Trưởng lão Da Xá và bộ phận phía Đông là của chúng Tỷ-kheo Bạt Kỳ.
 Một hôm ngài Da Xá đi qua xứ Bạt Kỳ, thấy chúng Tỷ-kheo bên trong ngày thuyết giới có đặt một cái bát. Trong bát đó đổ nước và tín đồ đi lễ thì khuyên họ cúng tiền bỏ vào cái bát đó. Ngài Da Xá thấy việc làm của chúng Bạt Kỳ là phạm luật (bất tróc trì sai tượng, vì khi đã xuất gia là bỏ hết tất cả), nhưng giờ đây họ bầy ra chuyện quyên giáo cúng tiền. Ngài khuyên họ không nên làm việc đó... Nhưng bọn họ ngỡ rằng: chắc ngài cũng có ý muốn chia chác gì đây chăng, nên họ mới đem tiền đến chia cho ngài, nhưng ngài từ chối không nhận.
Từ đó ngài thấy chúng này có một sự cố chấp về việc nhận tiền, nhưng nói cũng không được, khuyên họ cũng

* Trang 15 *
device

không nghe. Ngài liền đi nói với các ngài cư sĩ để họ biết việc làm như trên là không đúng. Khi nói xong, chúng Tỷ-kheo Bạt Kỳ, đa số là người gốc Bạt Kỳ, họ liền kết tội ngài là đem tội của Chúng Tăng nói xấu ra ngoài hàng cư sĩ, nên họ làm phép Yết-ma hạ ý, bắt ngài đi đến các nhà cư sĩ để xin lỗi và nói lời cải chính, phủ nhận lời mà ngài vừa nói với họ. Trong khi chúng Bạt Kỳ buộc tội ngài như vậy và bắt ngài đi xin lỗi thì họ cũng cử một vị Tỷ-kheo đi theo để giám sát. Đi tới đâu ngài cũng nói rằng: cái việc tôi nói với các vị về việc cúng tiền đó là sai trái, nhưng xét ra các vị cũng nên nghĩ lại, nó không sai. Nó sai nhưng thật ra cũng không sai. Vị Tỷ-kheo đi theo giám sát đó tưởng ngài đi để cải chính xin lỗi, lại không ngờ ngài càng nói càng khẳng định và buộc tội hơn nữa. Như vậy thật là quá đáng, và họ buộc thêm tội cho ngài là người cố chấp, không biết nhận lỗi nên họ mới làm phép Yết-ma đơn đọa, và trục xuất ngài ra khỏi xứ, không cho ngài ở Bạt Kỷ nữa.
Trước tình hình đó, ngài liền đi vận động các vị Trưởng lão của hai phía trong chúng Tỷ-kheo Đông bộ và Tây bộ, họp lại làm một kiết tập gồm có 700 vị, và sau đó suy cử một vị làm chủ tọa, để nêu lên việc làm của chúng Bạt Kỷ là đúng luật hay không đúng luật. Chúng Bạt Kỳ đó không phải chỉ nhận tiền mà thôi, lại còn xướng thêm 9 điều nữa, cộng chung lại là 10 việc phi pháp (Thập sự phi pháp). Đó là 10 việc không đúng Pháp. 10 việc đó là những gì?
1. Giác diêm tịnh. Chữ tịnh trong này là được phép dùng mà không có lỗi nên gọi là tịnh. Trong luật chế rằng: đồ

* Trang 16 *
device

ăn gì ăn mà để cách đêm ăn lại thì không được. Giờ đây học cho rằng những thức ăn gì mà ăn không hết nhưng có ướp muối để cách đêm vẫn ăn được. Hoặc giả những đồ ăn đó chứa trong các sừng trâu mà để cách đêm vẫn được phép ăn không sai luật, nên gọi là Giác diêm tịnh.
2. Nhỉ chỉ tịnh. Tức là quá hai ngón tay. Phật chế quá ngọ bất thực, chỉ ăn đúng giờ ngọ và trước giờ ngọ thôi. Hễ quá ngọ là phi thời. Bây giờ họ nói quá ngọ hai ngón tay vẫn còn ăn được. (Hai ngón tay của bàn tay chứ không phải hai ngón tay đâu nhau). Quá ngọ hai ngón tay mà vẫn còn ăn được thì không có phạm luật.
3. Tha tụ lạc tịnh. Dù ở tụ lạc này ăn rồi nhưng còn trong giờ ngọ thì khi đến các tụ lạc khác vẫn có thể ăn được. Đó là trái với luật phế chế (ngọ trung nhất thực). Hễ ăn một chỗ xong đứng dậy là đúng quy luật. Bây giờ họ nói ăn rồi đứng dậy qua chỗ khác, nếu chưa quá ngọ thì vẫn ăn được, không phạm luật.
4. Trú xứ tịnh. Trong luật nói rằng Tăng chúng cùng ở trong một trú xứ, trong một địa giới thì chỉ có một nơi Bố-tát một nới thuyết giới mà thôi. Họ lại chủ trương có nhiều nơi Bố-tát mà vẫn được phép, không phạm luật.
5. Tán đồng tịnh. Nghĩa là trong một cuộc họp chúng, dầu số chúng Tăng họp ít hay dầu họp nhiều, nhưng chúng đó đã tán đồng một việc gì rồi thì việc đó vẫn được cho là đúng. Việc đó vẫ được chấp nhận không kể nhiều ít. Thí dụ trong chúng Tăng triệu tập cuộc họp chỉ có 20 người mà tán đống rồi thì vẫn hợp pháo. Đó là sai luật   

* Trang 17 *
device

6. Sổ tập tịnh. Mặc dầu đi tu, mặc dầu làm ông thầy xuất gia, nhưng cũng có những điều gì anh còn tập đang trong quen còn ở tại gia thì bây giờ vẫn được phép làm. Thí dụ: Lúc còn ở tại gia anh tập đánh đờn quen rồi , bây giờ dầu đi tu chăng nữa vẫn được phép đánh đờn. Lúc còn tại gia anh hút thuốc quen rồi, bây tuy đã đi tu nhưng anh vẫn được phép hút thuốc... Đó là sai luật.
7. Bất tán diêu tịnh. Trong luật Phật chế: Buổi chiều chỉ uống nước trong hay nước lọc. Tán diêu tịnh là sao? Nếu như buổi chiều muốn dùng nước sữa, nếu sữa đó có đóng một lớp rán trên bề mặt thì phải lắc cho tan thành nước thì mới được dùng. Bây giờ họ nói không cần lắc để ván như vậy uống cũng được, không phạm luật.
8. Ẩm xà lâu xi tịnh. Có thể uống những thứ người ta ngâm làm rượu nhưng mà chưa lên men, không phạm luật. Đó là sái luật.
9. Vô duyên tọa cụ tịnh. Thường thường Phật chế tọa cụ khi nào cũng có viền xung quanh hết. Bây giờ anh lại nói không cần viền vẫn được phép dùng như thường. Thứ đến, Phật chế tọa cụ ngang với tầm mức nào đó thôi. Tọa cụ chế ra chủ yếu để làm gì? Một là để hộ thân, hai là để hộ y, ba là để hộ cái giường cái chỏng của người khác. Vừa làm sao cho cái thân của mình nằm trên đó được. Mỗi lần làm là phải có viền. Bây giờ họ không cần viền vaanx được như thường. Đó là sái luật.
10. Kim ngân tịnh. Tức là được phép thu giữ tiền cúng dường của tín đồ (như đã nói trên).

* Trang 18 *
device

Đó là 10 điều do pháp Bạt Kỳ xướng. Ngài Da Xá triệu tập Tăng chúng hai bộ là đông bộ và tây bộ làm một cuộc kiết tập gồm 700 người. Sau cuộc kiết tập đó, Hội nghị đã kết luận: 10 điều mà phái Bạt Kỳ vừa xướng là 10 điều không đúng luật. Đó là 10 điều phi pháp (thật sự phi pháp).
Nhưng phái Bạt Kỳ vẫn giữ khư khư 10 điều mà họ vừa xướng cho là hợp pháp và thọ trì 10 điều đó nên đã tạo ra sự phân chia chúng Thỷ-kheo của Phật thành 2 bộ. Một bộ gọi là Thượng tọa theo ngài Da Xá và một bộ gọi là Đại chúng bộ theo chúng Bạt Kỳ.
Qua câu chuyện này thiết nghĩ chúng ta cũng nên rút ra bào học trong đó.
Trước hết nói về những điều của chúng Bạt Kỳ xướng lên.
Phải chăng chứng Bạt Kỳ đã lơi lỏng không muốn hành trì giới luật của Phật, có ý phóng túng, coi thường giới luật, giải đãi mà xướng lên những điều đó hay vì hoàn cảnh bên ngoài nó bắt buộc phải có một sự thay đổi trong việc hành trì giới luật của Phật. Phật cho phép bỏ những giới điều nhỏ nhặt. Khi xướng lên 10 điều luật như vậy học cũng có cái lý của họ, bởi vì trong cuộc Kiết tập lần thứ nhất, ngài A Nan có nhắc lại lời dạy của đức Phật, lời này có trong kinh A-hàm: khả cả tiểu tiểu giới, nghĩa là những giới luật sau này ta có thể bỏ đi các giới nhỏ nhặt. Khi ấy ngài Ca Diếp hỏi ngài A Nan rằng: Phật có dạy những giới nhỏ nhặt là giới gì không? Ngài A Nan nói Phật không nói mà tôi cũng quên hỏi Phật. Cho nên ngài Ca Diếp mới kết luận rằng: Thôi, những                    

* Trang 19 *
device

điều gì Phật đã chế thì cứ như thế mà tuân giữ, còn điều gì Phật chưa chế thì không được chế thêm.
Từ cuộc kiết tập thứ nhất, Tăng chúng vẫn giữ một vị thuần nhất tuân giữ nghiêm tịnh giới của Phật. Đến 100 năm sau chúng Bạt Kỳ mới xướng ra 10 điều này. Như vậy, trong 10 điều này phải chăng chúng Bạt Kỳ đã giải đãi, phóng túng, muốn buông lỏng về giới luật, không muốn tinh cần nữa mà xướng lên như vậy? Hay vì hoàn cảnh hoặc nghĩ Phật cho phép xả bỏ những giới nhỏ nhặt nên họ đã chế ra như vậy? Bởi xét cho cùng trong 250 giới của đức Phật chế, có 4 giới Ba-la-di, thập tam Tăng tàn, nhị Bất định thì nó là giới. Còn những học pháp về sau phần nhiều là oai nghi. Thí dụ như: Tề chỉnh trước nội y ân đương học, tề chỉnh trước ngoại y ân đương học... đó là nó về oai nghi – nên mặc áo trong cho nghiêm chỉnh, nên mặc áo ngoài cho nghiêm chỉnh đứng đắn – thì nó có phần về oai nghi hơn. Như vậy giới luật nó nhằm chỉ cái tội, cái tánh, còn oai nghi nó thuộc về già giới, túc là làm cho ông thấy được nghiêm túc để tránh sự cơ hiềm của thế gian.
Trong đời sống của một ông thầy xuất gia phải có 3 điều trọng yếu. Một là phải có chánh kiến, tức lòng tin tuyệt đối với chánh pháp, hiểu đúng chánh pháp, lấy chánh pháp làm lý tưởng cho mình, làm con đường giải thoát cho mình. Thứ hai là phải có tịnh giới, tức nhiên là phải giữ giới thanh tịnh. Thứ ba la fphair có oai nghi. Chúng ta đừng nghĩ mình có chánh kiến, có tịnh giới rồi thì không cần gì oai nghi. Điều đó không đúng. Nếu là ông thầy mà

* Trang 20 *
device

không giữ gìn oai nghi, đi lắc qua lắc lại, ngồi chỗ nào cũng gác chân lên ghế lên bàn v.v... thì không còn gì là oai nghi của ông thầy cả, vì vậy nó thiếu oai nghi. Có giới rồi nhưng đồng thời phải có oai nghi. Lẽ tất nhiên giới rộng hơn oai nghi. Phạm giới mới là trọng tội, còn phạm oai nghi thì có thể sám hối (khả sám hối), vì đó là tội nhỏ thôi. Nhưng nếu thiếu oai nghi thì cũng không thành ông thầy được. Nói tóm lại muốn làm một ông thầy Tỷ-kheo thì phải có chánh kiến, có giới, có oai nghi mà nhất là phải hòa hợp chúng. Nếu không có hòa hợp thì cũng không thành ông Tăng. Cho nê có lục hòa thì mới thành tăng. Vì thế cho nên mỗi kỳ Bố-tát, vị chủ trì thuyết giới, ông ta hỏi hai chuyện: Một là hỏi các vị trong đây có thanh tịnh không? Và hỏi hai là các vị có hòa hợp không? Hòa hợp, thanh tịnh thì mới thành tăng. Nếu không hòa hợp mà thanh tịnh thì cũng chưa đủ, vì thanh tịnh thì ai đâu ở đó, như một ốc đảo thì cũng không thành tăng. Tăng phải có 4 người trở lên, mà bây giờ anh ở riêng nói tôi tịnh giới, tôi không cần hòa hợp với ai hết thì cũng không thành tăng. Còn nói tôi hòa hợp với nhau lắm, nhưng hòa hợp với nhau mà để làm bậy thì cái hòa hợp đó có muốn thành tăng cũng không thành được. Hòa với nhau để mà nửa đêm xuống phố coi hát thì làm sao mà thành tăng được. Có người còn càn rằng, tôi đi 20 người chứ đi một hay hai người gì mà nói không thành tăng được? Bốn người trở lên thì đã thành tăng rồi. Ở đây 20 người thì sao không thành tăng được. Thành ra hòa hợp kiểu này thì nguy hiểm vô cùng.

* Trang 21 *
device

Nói tóm lại, để thành một ông tăng là phải có chánh kiến. Nếu ai đó phá kiến là tội rất nặng, trong luật cũng có nêu tội phá kiến này. Nếu anh phá kiến mà kêu không nghe thì sẽ bị mặc tẩn. Ngoài ra còn có tịnh giới, còn có oai nghi mà nhất là phải hòa hợp. Như vậy mới gọi là tăng.
Nhân tròn chúng Bạt Kỳ này, đối với giới họ đã có người xê dịch. Như trước đã nói một tinh thần giữ giới đã lơi lỏng, hai là vì hoàn cảnh bắt buộc. Ta biết rằng, ngày xưa, thời đức Phật ngài đi khất thực coi như là một truyền thống bắt buộc của Ấn Độ, chứ không phải của riêng ngài Đạt Ma. Bởi một người Ấn Độ theo Bà-la-môn giáo họ có qui định rằng: cuộc đời con người chia ra 4 thời kỳ. Thời kỳ thứ nhất gọi là Phạm Trí ky, tức là thời kỳ từ nhỏ đến 15 tuổi, phải đi theo một vị thầy để học kinh Vệ Đà, tu phạm hạnh. Thời kỳ thứ hai là tuổi thành niên là phải trở về nhà để lập gia đình kế thế tông đường, sinh con đẻ cái. Đến thời kỳ thứ ba là Lâm cư kỳ, tức là lên núi ở tu. Lâm cư kỳ xong rồi thì đến thời kỳ thứ tư là du hành kỳ, tức mang bình bát đi khất thực, không gia đình sống lang thang rày đây mai đó. Cách đi khất thực du hành như vậy đó là một tập quán của các sa môn ở Ấn Độ có từ xưa lắm rồi. Sa-môn ở đây là dùng chỉ chung cho người đi khất thực, cả bên Phật giáo lẫn ngoại đạo. Những người sa môn trong thời kỳ du hành họ đã thực hành lâu lắm rồi. Vì vậy trong thời kỳ đó ngài chế ra các nghi thức trong khi khất thực. Vì khất thực là một nghi lễ

* Trang 22 *
device

truyền thống rất được tôn trọng ở Ấn Độ chứ không phải của riêng một ai. Trong khi Phật ở bộ Nakàya nói rằng: có người cho đây là một hành vi hèn hạ, nhưng không phải vậy, đây là một hành vi cao thượng. Tuy nhiên, nó cũng lồng trong cái tập quán chung của Ấn Độ, nên việc khất thực trong thời đức Phật nó dễ, ai thấy ông thầy đem bình bát khât thực thì dân chúng liền mang đồ cúng cho ngay.
Nhưng khi qua một nước lạ, họ không biết khất thực là gì, thì đời nào họ bỏ bát cúng cho. Vô lẽ người đi khất thực mở miệng xin. Trong luật nói cứ tuần tự khất thực, đi nhà này qua nhà khác, không kể nhà giàu nghèo, ai cho thì tốt không cho thì thôi, đâu có thể nói cho tôi xin một bữa, không có chuyện đó vì luật không cho phép. Khi tới xứ lạ, sư cầm bình bát đứng lim rim như thế ở ngoài đường thì ai biết sư làm gì mà cho.
Rõ nét nhất là khi Phật giáo truyền qua Trung Hoa, tại sao trong thời Phật mặc y vàng, vì đó là theo phong tục của Ấn Độ. Nhung khi qua Trung Hoa không mặc y như vậy là bởi thời phong kiến ở Trung Hoa chưa cho phép. Các quan lễ bộ cho rằng muốn triều yết vua thì phải đội  mũ, phải mặc áo rộng, phải đủ lễ nghi như vậy. Giờ đây họ thấy các vị sư đến đất nước họ mà đều để đầu trọc thì họ thấy là lạ rồi, lại không đội mũ nữa, thì họ cho rằng người man di mọi rợ. Người Trung Hoa thì ăn bận kín đáo từ vua quan đến thứ dân ai ai cũng ăn bận như vậy. Đằng này các vị sư lại thoát áo ra để trần mình một bên vai lòi thịt ra, họ lại càng kinh ngạc hơn nữa.

* Trang 23 *
device

Họ trố mắt nhìn cho là mọi thứ từ đâu tới, văn hóa chưa có gì hết. Khi đi khất thực họ cho là quá tệ hơn nữa. Khi họ đã quan niệm như vậy rồi thì làm sao mà truyền đạo được, làm sao mà giảng đạo cho họ nghe. Vả lại họ cho các vị sư là người thua họ rồi, vì lẽ người Trung Hoa tự cho mình là trung tâm văn minh, còn xung quanh toàn là man di mọi rợ hết, không có văn hóa như họ.
Lúc Phật giáo từ Ấn Độ truyền qua Trung Hoa thì họ đã biết Ấn Độ là xứ nào đâu, lại càng không biết nên văn minh Ấn Độ là cái gì, nên các nhà sư từ Ấn Độ qua Trung Hoa đều phải thay đổi đôi chút hình thức cho phù hợp với phong tục tập quán ở đây. Từ đó để thấy tại sao ngay từ thời đức Phật mang y mặc áo như vậy, đi khất thực như vậy mà đến khi qua Trung Hoa, qua Việt Nam, qua Đại Hàn, qua Nhật Bổn, tức là những nước Đại thừa. Lại mặc áo như thế này, lại tự nấy lấy mà ăn. Tự nấu lấy mà ăn là sái với luật đi khất thực, là vì hoàn cảnh như vậy nên bắt buộc các sư phải hành sự như vậy. Nên khi đọc trong lịch sử Trung Hoa, thấy các ngài qua chưa đem giáo lý Phật qua truyền được là vậy. Có lúc các ngài phải hiện thần thông mới hàng phục được họ. Ví như ngài Khang Tăng Hội khi qua truyền giáo Phật bá tại Giang Nam thì Ngô Tôn Quyền không tin. Sau ngài cầu nguyện cho có xá lợi linh thiêng rơi xuống, ngài biểu ông ta lấy búa đập quả nhiên đập không vỡ. Khi đó Ngô Tôn Quyễn mới thất kinh, từ đó mới chinh phục được, chứ trước đó người Trung Hoa họ ôm cái óc tự phụ lắm, họ cho mình là thánh,là người có văn hóa, còn các sư nói chi được với họ mà nói.     

* Trang 24 *
device

Thành ra đó là đứng trên phương diện truyền giáo mà nói, do hoàn cảnh đòi hỏi, thì đâu biết chừng các vị tăng nơi ở xứ Bạt Kỳ này, khi Tăng chúng xuất gia còn ít thì đi khất thực dễ dàng, nhưng khi đi tu quá nhiều, dân chúng trong vùng lại thưa thớt thì làm sao mà nuôi cho nổi, bố thí cho vừa.
Vì vậy nếu xét lại những điều mà chúng Bạt Kỳ nêu ra ở đây so với luật là không đúng. Ngày xưa các ngài kết tội cho đó là 10 điều phi pháp, nhưng nếu bây giờ đem sao với chúng ta, thì chúng ta còn tệ hơn chúng Bạt Kỳ ngàn lần nhiều hơn. Chúng ta e có đến cả trăm sự phi pháp chứ không phải chỉ có 10 điều mà thôi.
Ngày xưa có người nói nhị chỉ thực, bây giờ không những thực mà còn la hét nữa, chứ không phải thực yên lặng đâu. Thực yên lặng nhiều khi có người cho là không vui. Còn thực mà có ca nhạc nữa thì quá hơn chúng Bạt Kỳ hàng trăm lần. Nếu bây giờ ngài Da Xá thì ngài cũng bỏ đi luôn chứ không khuyên đâu! Ngài thấy vậy chắc ngài nhắm mắt ngài đi một mạch luôn chứ việc khuyên là không được rồi.
Có điều này chúng ta cần phải biết ngài Da Xá là một nài cao tăng đại đức, trước những điều sai trái của chúng Bạt Kỳ, với thái độ của chúng Bạt Kỳ đối với ngài như vậy, nhưng ngài vẫn chấp nhận để cố vận động mở cho được một cuộc hội nghị tranh luận về 10 điều do chúng Bạt Kỳ vừa nêu là đúng luật hay sai luật. Giả sử nếu tinh thần ngài hơi yếu một chút, như khi họ đem tiền cho ngài, nếu ngài có lòng tham thì nói: thôi thôi được rồi, và

* Trang 25 *
device

ngài nhận tiền là hết chuyện. Đó là kiểu hối lộ của thế nhân. Nhưng đối với ngài, đó là tinh thần bảo vệ đạo pháp, kiên trì tuân thủ giới luật của Phật chế. Như chúng ta biết, ngày nay, trong mọi hoàn cảnh có lắm điều sai trái, nhưng nếu có tiền lo lót thì mọi chuyện sẽ qua hết. Nếu ngài Da Xá lúc đó họ chia tiền cho ngài, ngài chìa tay ra lấy thì đâu có chuyện xảy ra. Mà chưa biết chừng cũng không chia ra hai bộ và biết đâu, như thế mà lại hay cũng có! Có lẽ vì thái độ ngài quá cứng nên mới chia ra hai bộ cũng không chừng. Nếu bây giờ giả sử có chuyện xảy ra với mình, mình xí xóa hết thì sẽ không có hai bộ, khỏi chia bộ nào hết cũng không biết chừng! Có phải không?
Vì vậy, học bài học đó,cho nên trong cuộc sống của chúng ta, có những điều chấp nhận nhau nhưng cũng có những điều nên khuyên răn nhau, nên bàn bạc với nhau, chứ không phải điều gì cũng xuôi theo ai hết, ai làm gì đó cũng được. Không phải đâu. Nếu khi ấy ngài Da Xá thỏa hiệp và nói thôi thôi chia cho tôi một ít tiền là được, thì mạng mạch Phâtj pháp hôm nay sẽ đi về đâu? Đối với chúng ta, nếu chúng ta có thái độ như vậy thì chắc chắn cũng không hay ho gì. Đó là bào học cho chúng ta ngày nay khi dấn thân làm Phật sự.
Trên đây là câu chuyện của ngài Da Xá và 10 điều của chúng Bạt Kỳ, đó là đầu mối để chia ra hai phái Thượng tọa và Đại chúng booh.
Nhưng trong Dị bộ tôn luân luận có nêu ra một lý do khác. Lý do chia ra hai bộ phái Thượng tọa và Đại chúng       

* Trang 26 *
device

đầu tiên không phải 10 việc phi pháp mà do 5 việc của ông Đại Thiên (Đại Thiên ngũ sự).
Ông Đại Thiên này theo trong Tỳ bà sa luận quyển 99 cho rằng, việc ông đã phạm 3 tội nghịch, sau khi phạm 3 tội nghịch rồi, ông ăn năn quá, ân hận quá. Phạm lỡ rồi không biết làm sao cho hết tội. Ông nghe bên chúng Thích Ca có phép sám hối cho nên ông tìm tới. Khi tới ông nghe một vị Tỷ-kheo tụng bài kinh:
Nhược nhơn tạo trọng tội,
Tu thiền dĩ diệt trừ
Bỉ năng chiếu thế gian,
Như nguyệt xuất vân ế..
Đáy là câu trong kinh Pháp Cú.
Nếu người tạo trọng tội,
Biết tu thiền để dứt trọng tội đó,
Thì người đó sẽ soi sáng thế gian,
Như mặt trăng ra khỏi mấy che.
Khi nghe xong câu đó, ông thích quá, đúng nguyện vọng của mình rồi. Ông nghĩ mình đang tìm cách diệt trừ tội, mà bây giờ có câu kinh đó tức là mình đã tìm đúng nơi để diệt tội rồi. Khi đó ông liền phát tâm xin xuất gia, và ông là người hết sức thông minh. Tuy tạo trọng tội nhung thiện căn của ông chưa mất cho nên ông hiểu Phật pháp rất mau. Tam tạng giáo điển ông học và hiểu rất thông thạo, ai ai cũng tôn trọng ông hết. do chỗ trọng đó, nên ông tự cảm thấy rằng, ta đây đã chứng A-la-hán và ông nói với đệ tử là mình đã chứng quá A-la-hán rồi.            

* Trang 27 *
device

Một hôm nọ khi đang ngủ say, ông khởi nhiếp tâm và mộng tinh nên xuất bệnh tịnh. Liền sai đẹ tử di giặt đồ dơ. Đệ tử hỏi: Con nghe thầy đã chứng A-la-hán rồi mà sao còn có việc như thế này? Ông liền nói với đệ tử: Không phải, cái đó không phải chính tự ta đâu mà là do am quỷ nó dụ hoặc. (Dư sở dụ là do kẻ khác dụ chứ không phải tự mình).
Điều thứ hai cũng muốn cho đệ tử có cảm tưởng là họ đã chứng quả như: Sơ quả, Nhị quả, Tam quả v.v... vì đã tự cho mình là chứng A-la-hán rồi. Như vậy là thầy trò đều có chứng quả với nhau cho vui. Thầy, trò ai cũng chứng thánh hết. Nên thầy thọ ký cho trò là người này chứng Sơ quả, người kia chứng nhị quả... còn mình là A-la-hán quả.
Có đệ tử khác thưa: Thầy nói chúng con đã chứng Sơ quả, Nhị quả, Tam quả... rồi mà chúng con thấy mình u mê quá, không biết gì hết. Ông nói: Không, nó có hai cái không biết. Một cái không biết gọi là nhiễm ô vô tri và một cái không biết nữa gọi là bất nhiễm ô vô tri. Cái vô tri mà nhiễm ô thì các người đã chứng được rồi, còn cái vô tri mà nhiễm ô thì các người chưa chứng được.
Lại có các vị đệ tử khác thưa rằng: thầy nói chúng con đã chứng đến gần quả A-la-hán cả rồi, nhưng đối với giáo lý Tứ đế, chúng con thấy nó cứ ngờ ngợ, mơ mơ màng màng làm sao ấy, nên chúng con đâm ra nghi hoặc quá. Ông liền nói rằng: Các con nên diệt trừ hết phiền não, nghi hoặc thôi, còn cái thế gian nghi hoặc, pháp tướng thế

* Trang 28 *
device

gian làm sao biết hết được. Chưa được đâu các con à, đó là điều thứ ba.
Điều thứ tư đệ tử ỏi: Thầy đã bảo chúng con chứng quả cả nhưng chúng con lại không biết chúng con chứng quả? Ông nói: Chính ngài Xá Lợi Phất, ngài Mục Kiền Liên chờ Phật thọ ký rồi mới biết mình chứng quả, huống chi các người là hạng độn căn thì làm sao mà biết được.
Điều thứ năm là một bữa nọ ông ngủ, vì thiện căn của ông đương còn, nhưng 3 tội nghịch của ông cứ đeo bám ông, ám ảnh ông, cho nên khi ngủ bị mớ và la lên: khổ quá, khổ quá! Đệ tử hỏi: thưa thầy, thầy nói thầy đã chứng A-la-hán sao mà la khổ quá, khổ quá là sao vậy? Ông nói: Ta la khổ quá, khổ quá đó là tiếng hô Thánh đạt, chứ không phải thiệt khổ đâu. Năm điều đó ông đúc kết lại thành một bài kệ gọi là:
Dư sở dụ vô tri
Do sở tha linh nhập
Đạo nhân thanh cố khởi
Thị danh chơn Phật giáo
Sở dụ là do ma nó dụ dỗ nên ta bị bất tịnh chứ không phải chính ta. Vo tri là đệ tử nói con không biết chi cả. Ông nói: Có nhiễm ô vô tri và bất nhiễm ô vô tri. Đệ tử nói đối với Tứ đế con còn do dự. Ông nói: Các ông mới dứt trừ được phiền não hoặc. Tha linh nhập là nhờ người ta thọ ký cho ngươi, ngươi mới biết là ngươi đã chứng quả, như ngài Xá Lợi Phất, ngài Mục Kiền Liên chứng quả mà không tự biết được, chờ Phật thọ ký cho mới biết. Đạo              

* Trang 29 *
device

nhân thanh cố khổ là ông hô khổ thay, khổ thay, nhưng nhờ tiếng hô đó mới chứng đạt. Thị danh chơn Phật giáo, đó đích thị là chơn Phật giáo.
Số người theo ông đông đảo thành ra Đại chúng. Số người không theo 5 điều của ông thành ra chúng Thượng tọa. Đó là hai thuyết.
Tóm lại, một thuyết nói là do 10 sự phi pháp khởi đầu mà xuất hiện ra Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ, và một thuyết khác của trong Dị bộ tôn luân luận cho rằng, nó bắt nguồn từ cái thuyết nguc thiên này mà chia ra Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Ông Đại thiên này xuất gia theo phái Đại chúng chứ không phải xuất gia theo phái Thượng tọa. Cho nên các nhà bình luận sử đã nói rằng: Không phải là do 10 việc phi pháp mới là chính nhân phân chia Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ, còn 5 điều này của ông nó xuất hiện sau. Chẳng qua vì bên Thượng tọa bộ muốn chê Đại chúng bộ cho nên mới đem chuyện Đại thiên ngũ sự ra làm lý do để kết tội. Vì lý do đó mà phân chia ra làm Đại chúng bộ và Thượng tọa bộ. Tuy nhiên, mặc dầu sau này 5 việc của ông Đại Thiên có những điều xét ra không phải là sai hết.
Tóm lại, hai lý do mới vừa nêu là khởi sự cho việc phân chia Thượng tọa bộ và Đại  chúng bộ. Một bên nói là do 10 việc phi pháp của chúng Bạt Kỳ, một bên nói do 5 việc của ông Đại Thiên. Hai bên có 2 ý nghĩa khác nhau. Một bên nói do 10 việc phi pháp là nói về mặt giới luật. Một bên nói do 5 việc của ông Đại Thiên là nói về mặt lý luận, lý giải. Ở đây nói về mặt giáo lý thì có sự dị đồng này đối với lý tưởng La-hán. Bởi vì phái

* Trang 30 *
device

Thượng tọa bộ thì cho La-hán với Phật ngang nhau. Sự chứng ngộ của Phật và La-hán bằng nhau. Đọc trong kinh tạn Nikàya của Pàli chắc chúng ta cũng biết nhiều về quan điểm này. Tuy nhiên, nó chỉ có khác nhau ở chỗ là đức Phật, người đã phát minh ra đạo giải thoát, còn các vị La-hán chỉ theo đạo giải thoát của Phật đó mà tu. Cái khác nhau là khác ở chỗ này. Còn tu để chứng quả thì bằng nhay, giải thoát cũng bằng nhau.
Đại chúng bộ không chịu chuyện đó. Đại chúng bộ nói La-hán thua Phật. Chỉ chúng Phật mới hoàn toàn vô lậu, vô biên, còn La hán về điều này còn hạn chế, còn hạn hẹp. Do lý do này nên ông Đại Thiên xướng 5 thuyết đó chứ không phải không có lý do đâu. Hai vấn đề vừa nói, một bên nói 10 điều phi pháp là đứng trên giới luật  bất đồng mà nêu lý fo phân chia bộ thái Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Còn bên kia lấy 5 việc của ông Đại Thiên bất đồng là đứng trên phương diện giáo lý, lý tưởng phật giáo mà cho đó là lý do phân chia bộ phái. Hai sự khác nhau ấy đều có ý nghĩa về sau trong giới luật. trong các bộ cũng có sự di đồng như Ngũ bộ luật, Tứ phần luật, Ma ha tăng kỳ luật đều có sự khác nhau. Trong giáo lý giẵ Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ cũng có nhiều điểm khác nhau nhưng đây chỉ là nói về lý tưởng La-hán.
Lý tưởng La-hán của Thượng tọa bộ cho rằng la-hán bằng với Phật. Nhưng Đại chúng bộ không chấp nhận điều đó. Đại chúng cho rằng chỉ có phật mới viên mãn, vô lậu hoàn toàn, chứ       

* Trang 31 *
device

  La-hán còn những điều nhiễm cấu hiện tiền chưa được tự tại nên không bằng Phật.
Khi phân chia bộ phái thì trong đó còn đẻ ra nhiều chuyện khác nữa. Đó là chuyện gì? Là chuyện đối với vạn pháp và đối với hữu tình luân chuyển.
Đối với văn pháp thì có những bộ chủ trương tam thế thực hữu (3 đời có thực) như Tát-đà-đa bộ, hưu bộ, (Pháp thể bằng hữu, tam thế thực hữu). Có bộ chủ trương quá bộ vô thể, hiện tại thự hữu, tức pháp quá khứ và pháp vị lại không thực thể. Thuyết xuất chế bộ cho rằng tục vọng chân thật tức pháp gì nằm trong thế tục vọng, pháp gì nằm trong chân đế mới là chân thật, chứ không phải là thật hết cũng không phải là vọng hết. Đó là đối với các pháp, đối với pháp thể, đối với bản thân mà có kiến giải bất đồng như vậy . Thuyết nhất thế bộ nói: Chư pháp như huyễn, tức là đối với các pháp mà có cái nhìn khác nhau, không nói thật, không nói giả, không nói quá khứ, vị lai, hiện tại, nhưng nói chung một cái các pháp là như huyễn, vị lại cũng như huyễn. Hai thuyết này có ảnh hưởng lớn tới thuyết vô tướng giai không của ngài Long Thọ về sau này.
Như huyễn đi gần với không. Muốn quán không thì phải quán như huyễn. Như vậy, như huyễn ở đây là một dạng của không. Cho nên trong kinh Kim Cang nói: Nhất thế hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh.... Nếu hành giả không quán như mộng huyễn, bảo ảnh mà nói cái không thì không đi thấu được đâu, nói không liền không được đâu. Cho nên, từ cái pháp như huyễn đó mà nó ảnh hưởng

* Trang 32 *
device

tới cái thuyết Nhất thiết giáp giai không. Đó là đối với các pháp.
Giờ tôi nói về tâm. Tâm thì trong Đại chúng bộ chủ trương: tâm tánh bổn tịnh, chỉ vì khách trần phiền não làm cho ô nhiễm thôi, chứ thực tâm tánh của chúng sanh vốn là thanh tịnh. Cái tâm tính vốn thanh tịnh đó nó ảnh hưởng tới viên giác tính, Như lai tạng tâm về sau này của reong Đại thừa. Rồi còn một cái nữa là căn bản thức. Bởi Phật nói: Tất cả chúng sanh đều luân hồi sanh tử, nhưng trong kinh tạng Pàli (Nikàya) có một Tỷ -kheo hỏi rằng: Nếu vô ngã thì ai làm, ai thọ? Phật nói: Ngươi là đồ ngu, ngu chi ngu lắm vậy. Như Lai đã nói: Vô minh duyên hành, hành duyên thức… thế mà cứ theo ta hỏi hoài hỏi mãi, ai làm, ai thọ? Nhưng hiểu được không phải dễ đâu, vì đó là một lý nghĩa hết sức khó. Đó là ngài nói cái lý nguyên sinh, cái luân hồi luân chuyển sanh tử là duyên sinh. Nhưng ở đây với cái tri thức chấp hữu của chúng sinh, ưa có một cái gì đó đi từ chỗ này qua chỗ khác, chứ còn nguyên lý duyên sanh kiểu gì đó thì, dầu Ngài có la ngu thì cũng đành chịu thôi, chứ thật cái ngu này trong một lúc khó gỡ lắm. Cho nên họ đặt ra cái căn bản thức để luân chuyển từ kiếp này sang kiếp khác. Đến hữu bộ họ chủ trương có ngũ vị thập, ngũ pháp có 5 vị và 75 pháp. Duy thức chia có 5 vị và 100 pháp. Thượng tọa bộ lại chủ trương pháp thể bằng hữu. Pháp thể bằng hữu là gì? Là của hóa địa bộ mạt phái, trong đó có cái cũng sanh tử uẩn. Cùng sanh từ uẩn cũng y như căn bản thức. ở đây họ không nói thức nhưng nói uẩn. Vì sao? Bởi

* Trang 33 *
device

vì nói uẩn theo như lời Phật dạy, con người do ngũ uẩn tạo chứ không phải chỉ có thức không mà thôi. Chính con người là do ngũ uẩn kết hợp mà thành, vậy thì khi đang còn sống, cái ngũ uẩn là cái hiện tại, nhưng khi chết rồi thì cũng có một thứ ngũ uẩn kết hợp mà thành, vậy thì khi đang còn sống, cái ngũ uẩn là cái hiện tại, nhưng khi chết rồi thì cũng có một thứ ngũ uẩn, ngũ uẩn đó kéo dài đến cùng sanh tử cho đến lúc chứng quả A-la-hán thì thôi. (Cùng sanh tử uẩn là cùng tột con đường sanh tử). con đường sanh tử tới cái mức ngang đó, cái uẩn này cũng tới cái mức ngang đó mới hết. Đó là nói về chúng hữu tình. Còn kinh bộ thì nói nhất vị uẩn, nghĩa là có một thứ uẩn mà trước sau như một , nó luân chuyển từ kiếp nọ sang kiếp kia mà thành ra luân hồi sanh tử. Ba thuyế này nó có ảnh hưởng rất lớn tới cái thuyết A-lại-da duyên khởi của ngài Vô Trước về sau.
Tối nói như vậy để thấy sự tương quan giữa chúng để sau này các vị học về các bộ phái thì mới thấy, các bộ phái đó không phải từ dưới đất chui lên hay từ trên trời rơi xuống, mà bộ phái ấy chính là sự tìm tòi, sự lượm lặt, sự sưu tầm từ những lời dậy của đức Phật ở trong các kinh mà ra, nhất là kinh tạng Pàli. Tìm tòi sưu tầm lời dậy trong Nikàya mà biến chế ra mỗi người một cách tạo các bộ phái, chứ không ai đi ra ngoài kinh tạng Pàli, đi ra ngoài lời dạy của đức phật mà đẻ ra các bộ phái đó. Do chế nên, dầu có chia mấy thì chia nhưng cũng gọi đó là Phật giáo mà thôi chứ không thể gọi là cái gì khác. Đây là mọi sự tương quan giữa bộ phái và các giáo lý nghĩa lý Đại thừa.
Ta đã biết về Nguyên thủy Phật giáo rồi, Tiểu thừa Phật giáo rồi, nay tôi nói về Đại thừa Phật giáo.

* Trang 34 *
device

Bồ-tát nhân quả, Như Lai quả nhan gia hạnh nhập căn bản, căn bản khởi đắc ký lượng thời học tánh không tuệ duy thức tông, pháp giới viên giác tông. Như chúng ta biết ở Trung Hoa có 8 tông mà trừ Câu-Xá, trừ Thành Thật còn lại 6 tông Đại Thừa là gì? Nói một cách tổng quát là nó có 3 cái hệ thống.
 Trước hết là nói về Bồ-tát nhân quả. Tức Bồ-tát tu từ nhân mới đi tới quả. Còn Như Lai đi từ quả mới hiện ra nhân. Còn chúng sinh từ nhân đi tới quả. Nếu đảo ngược chữ Bồ-tát nhân quả còn Như Lai chữ quả nhân và vậy. Trong Bồ-tát nhân quả này có 2 phần. Một phần là tu gia hạnh căn bản trí, một phần khác là tu từ cane bản trí mà khởi ra hậu đắc trí. Căn bản trí tức là cái trí chính, chứng thực được thực tánh của vạn pháp, rồi từ cái trí thực chứng của táng vạn pháp đó mà khởi ra cái trí biết, cái thể lượng của vạn pháp, cho nên gọi là hậu đắc. Thành trí hậu đắc này có tính cách phân biệt, nhưng phân biệt của trí hậu đắc không đồng với sự phân biệt của vọng tâm, của người chưa chứng được căn bản trí. Chính các đức Phật ra hóa đọ chúng sanh là từ trí căn bản khởi lên hậu đắc trí để độ sanh.
Từ gia hạnh nhiếp căn bản là chủ trương giáo thuyết của tông pháp thánh không tuệ. Đại thừa có chia ra hai tông Không tông hay Pháp thánh tông. Khi nói cái không là nói cái gì không? Là nói vạn pháp là không. Mọi pháp ta thấy trước mắt thực chất chỉ là cái tướng của nó thôi, còn cái tánh của nó là không, cho nên gọi là phấp tánh.

* Trang 35 *
device

Nhưng muốn ngộ được pháp tánh đó lại phải nhờ không tuệ mới ngộ được. Nếu không nhờ không tuệ đem cái phân biệt tuệ: ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả,… thì không làm sao ngộ được pháp tánh đó. Cho nên để chung lại là pháp tánh tông. Thứ hái nữa là Pháp tướng duy thức tông. Tất cả vạn sự, vạn vật mà ta biết qua bằng thiện lượng, bằng tỉ lượng, bằng phân biệt lượng hay bằng thánh giáo lượng, những cái tướng đó đều gọi là pháp tướng hết, những pháp tướng đó đều dựa vào cái tâm phân biệt, cái thức phân biệt mới có cái tướng đó, chứ lìa ngoài cái thức phân biệt thì cái tướng đó không có. Vì vậy cho nên gọi là pháp tướng duy thức. Nghĩa là phải dựa vào nơi thức phân biệt mới có tướng đó, chứ lìa ngoài thức phân biệt thì không có pháp tướng đó.
Có người nói do thức tôi biến. Thế sao cái chợ Bến Thành người ta lập ra cả gần trăm năm nay, còn anh mới đẻ hôm qua mà nói thức anh biến được? Nếu anh mới đẻ ngày hôm qua mà anh biết chợ Bến Thành thì anh phải biết phân biệt chứ? Hay cái trường Cao cấp Vạn Hạnh của chúng ta mở đã 10 năm nay rồi, còn anh mới học hôm nay mà nói trường Cao cấp Vạn Hạnh này là do thức tôi biến. Biến làm sao được? Cái trường Cao cấp Vạn Hạnh đã mở 10 năm nay rồi là do thức của người khác biết, còn bây giờ anh nói trường Cao cấp Vạn Hạnh là do thức của anh biến, biến làm sao được. Tất nhiên cái chợ Bến Thành nó có với ai? Có với thức phân biệt chứ không phải với thức không phân biệt, vì thế nên gọi là vạn pháp duy thức. Nếu không hiểu nghĩa đó thì anh ngồi đây, anh nói anh có

* Trang 36 *
device

thể chế máy bay, sao trước anh không chế máy bay cho chúng ta coi thử? Nhưng nếu có máy bay mà tôi là cục đất thì tôi có biết bay hay không? Có thấy cái tướng máy bay không? Thành thử nên biết: Cái tướng đó có tướng của thức phân biệt. Vì là tướng của thức phân biệt cho nên anh ưa biến ra sao thì ra. Cùng một cái hoa nở mà anh này khen hoa này đẹp quá, còn anh kia chê hoa này xấu quá. Tại sao như thế? Đó là do thức phân biệt. Nhưng ở đây nói đến cái tướng chứ không nói đến cái tánh. Thành ra, tất cả những tướng gì mà đi ngang qua ta, biết bằng qua hiện tượng, qua tỉ lượng, qua phi lượng, qua thánh giáo lượng, tất cả những tướng đó đều do thức phân biệt mà có ra hết. Bởi chữ lượng đó là thức mà. Tỉ lượng là thức, hiện lượng cũng là thức, phi lượng cũng là thức đều do thức phân biệt mà có nên gọi là duy thức.
Bây giờ muốn tu trên phương diện pháp tánh là muốn ngộ cái lý pháp tánh không, tất nhiên phải bằng tự giác quán không mà đi tới. Bắt từ gia hạnh quán không mà đi: đó là quán như huyễn, quán mộng, quán như điển, như bào ảnh… rồi mới quán tới cái không tánh của nó. Khi ngộ được cái không tánh rồi tất nhiên là ngộ nhập được cái căn bản trí, ngộ được chân lý hành căn bản trí.
Còn về pháp tướng duy thức là từ căn bản trí khởi lên hậu đắc trí, tất cả trí hậu đắc, là cái trí phân biệt tất cả mọi sự mọi vật, nhưng cái trí phân biệt này nó không phải là cái phân biệt của vọng thức có tính nhiễm ái, có tính chấp ngã mà là cái trí phân biệt sau khi đã có trí căn bản rồi,

* Trang 37 *
device

thành ra đó là cái trí phân biệt mà vô phân biệt, đó là cái trí phân biệt thanh tịnh cho nên gọi là hậu đắc trí.
Khi muốn ngộ được cái lý duy thức là phải từ nơi cái trí căn bản mà khởi cái trí hậu đắc thì mới ngộ được lý duy thức. Trong duy thức có câu: Hiện tiền lập thiểu vật vị thị duy thức tánh. Nếu như anh thấy hiện tiền còn có một chút vật, anh nói rằng có cái thức thiệt, chính ngay khi anh nói có thức thiệt thì anh cũng còn phá chấp, chưa ngộ được lý duy thức. Cho nên cái lý duy thức nó khác hơn người ta nói duy tâm, duy vật là vậy. Duy thức, chính cái duy đó cũng duyên sanh chứ nó không tồn tại như một vật cố định, bất di bất dịch. Nên cái trí duy thức, pháp duy thức mà ngộ cho được cũng là nhờ trí hậu đắc, chứ không phải trí hậu đắc mà đem cái phân biệt thường, thì luôn luôn có cái pháp chấp nó dính liền, mắc vào là bởi chưa ngộ được trí hậu đắc. Chưa ngộ được thì cái mạt-na thức còn luôn luôn chấp A-lại-da thức làm ngã. Cái ngã tướng đó đương còn thì chưa rõ được lý thật tánh của vạn pháp duy thức. Thế cho nên phải đi từ căn bản ra hậu khởi. Đó là Bồ-tát đi từ nhân tới quả.
Đối với các vị bồ tát, một sát na tâm lý không thể biết cùng một lúc. Bồ-tát biết tướng rồi mới biết tánh. Khi biết tướng biết tánh xong thì mới đạt tới cái cảnh tướng tánh bất nhị trong một sát a tâm. Còn Như Lai trong một sát na tâm mà lý lượng đồng thời, tánh tướng bát nhị. Như lai trong một sát na tâm biết cả tánh, biết cả tướng cùng trong một sát na tâm nên gọi là lý lượng đồng thời (là cả như lý trí và như lượng trí cùng trong một sát na). Như lý trí

* Trang 38 *
device

là biết về tánh, pháp tánh. Như lượng trí là biết về pháp tướng, tánh tướng bất nhị, lý trí lý lượng đồng thời đó là đức Phật. Ta hiểu lý này như là lý trí. Lượng này là như lượng trí. Chữ như lý trí cũng tương tự như chữ căn bản, cái biết đúng như lý trí, như thật tính của nó. Còn như lượng trí là cái biết như thể lượng, các pháp vô biện, vô tận, đúng theo cái lượng của nó. To thì nói to, nhỏ thì nói nhỏ, trong thì nói trong, ngoài thì nói ngoài, trên thì nói trên, dưới thì nói dưới… đúng như cái lượng của nó nên gọi là như lượng trí.

Trong kinh giáo mà nói về Pháp giới viên giáo tông là nói về cái cảnh giới như lý trí, như lượng trí đó. Giờ 3 cái nghĩa thuyết này mà so qua với 8 cái Đại thừa ở bên Trung Hoa thì nó phù hợp cái nào với cái nào? Tông Pháp tướng, pháp tánh, không huệ tông, Thiền tông cũng là pháp tánh không huệ, Luật tông cũng là pháp tánh không huệ, bởi vì luật tông thì đi theo sự thực hành chứ không phải đi the sự phân biệt ngôn giáo. Rồi Thiên thai tông lại tôn thờ kinh Pháp Hoa. Mà kinh Pháp Hoa nói gì? Kinh này chủ trương khai thị ngộ thập Phật tri kiến, cũng là nói tới cái như lý trí, như lượng trí pháp giới viên giác tông. Rồi tông Hiền Thủ, tông Hoa Nghiêm – mà kinh Hoa Nghiêm lại chủ trương Phật pháp giới cũng là pháp giới viên giác tông. Rồi tịnh độ tông nói tự tánh Di Đà duy tâm tịnh độ, cũng là nói pháp giới viên giác tông. Chơn nhơn tông nói gì? Nói tất cả đều là Đại Nhật Như Lai, đều là Tì-lô-giá-na. Nếu hành giả quán được một pháp, tập trung tam

* Trang 39 *
device

mật tương ưng, tu nơi một pháp, trì nơi một pháp, thì tất thân thành Phật ngay lúc bấy giờ, ngộ được cái Đại Nhật Như Lai. Trong Thiền tông nói rằng mấy giáo thuyết khác chỉ đi theo ngôn từ văn phú gọi là nhặt lá lượm cành, phiền phức, lôi thôi. Thiền tông chủ trương bất lập văn tự, kiến tánh thành Phật. Cho nên tôn này tự xưng là tôn hạ, còn các thuyết khác gọ là giáo hạ. Luật tông nói mấy giáo thuyết khác, Phật coi lấy giáo mà thuyết lý chứ chưa thực hành. Thực hành mới đạt đạo nên họ nói các giáo khác là thuyên giáo, còn họ mới là chế giáo. Thiên thai tông thì lấy Pháp Hoa làm căn cứ. Chủ ý của Pháp Hoa là khai quyền hiển thật hội tam qui nhất, cho rằng chỉ có kinh Pháp Hoa mới là kinh thật giáo, ngoài ra đều là quyền giáo.
Ngài Hiền Thủ thì tôn kinh Hoa Nghiêm và cho rằng chính kinh này mới là bổn giáo, bởi vì phật nói đầu tiên. Nhưng vì chúng sanh vô minh quá không ngộ được, nên ngài mới khai thêm ngọn, khai thêm ngành thành ra mạt giáo. Tịnh độ tông thì cho rằng : Tu gì các pháp môn khác lăng nhăng, khó lắm. Họ chỉ chú lực niệm Phật, nhờ cái nguyện lực của đức Phật Di Dầ gọi là hoành xuất tam giới, là Ngài tiếp dẫn lên cõi cực lạc tức khắc. Hoành xuất tam giới chứ không phải thụ xuất tam giới, từ dưới lên trên, nó lâu lắm. Còn hoành xuất tam giới là đi ngang một cái vèo như đi phản lực, một lúc là tới thôi. Qua cõi Cực Lạc rồi thì không còn thối chuyển nữa. Nếu ai còn đới nghiệp vãn sanh thì ở trong đó mà tu cho đến khi nhập vô sanh, pháp nhẫn chứ không có đi trở lui cõi Ta bà nữa. Tu theo

* Trang 40 *
device

Tịnh độ pháp môn này gọi là Dị Hành, còn các pháp môn khác gọi là Nan hành. Chơn ngôn tông nói tất cả pháp đều là Đại Nhật Như Lai pháp thân. Nếu ai ngộ được cái đó thì chính ngay cái thân họ là thể nhập vào thế giới của Đại Nhật Như Lai.
Nói chung lại, Đại thừa là phải có 3 cái hệ này: Pháp tánh không huệ tông: Các kinh Bát-nhã, Trung luận, Thập nhị môn luận, Bách luận, Đại trí độ luận đều thuộc về pháp tánh không huệ tông. Pháp tướng duy thức tông gồm Du già sư địa luận, Hiển dương thánh giáo, Nhiếp đại thừa luận, Thành duy thức luận... trong đó còn có một số kinh nữa như kinh Lăng Già, kinh Mật Nghiêm. Rồi đến pháp giới viên giác tông gồm nhưng kinh Pháp Hoa , Lăng Nghiêm, Lăng Già, Viên Giác. Đó là tôi nói đại cương để biết 3 cái hệ thống này thuộc Đại thừa.
Pháp tánh không tuệ tông có khi gọi là pháp tông, có khi gọi là không tông. Trong bài này, pháp tánh và không tuệ, một bên năng hiển và một bên sở hiển. Pháp tánh là sở hiển, không tuệ là năng hiển. Pháp tánh vô tánh (không có tánh gì hết). Vậy các tánh có sao không? Không. Có diệt không? Không. Có tánh nhất không? Không. Có tánh nhị không? Không. Có tánh lai không? Không. Có tánh xuất không? Không. Bát bất đều không hết. Không có tánh gì hết gọi là pháp tánh vô tánh. Vì chúng sanh không ngộ được pháp tánh vô tánh đó cho nên nói rằng: Có pháp sinh, có pháp diệt, có pháp đoạn, có pháp thường, có pháp nhất, có pháp nhị, có pháp lai, có pháp khứ, chứ thật ra là pháp tánh

* Trang 41 *
device

vô tánh. Nhưng là thế nào để đạt được cái pháp tánh vô tánh đó? Dĩ nhiên là phải có trí tuệ, nhưng trí tuệ ấy không vướng mắc vào cái tướng nào hết, tánh nào hết. Trí tuệ như vậy gọi là không tuệ. Nhờ có cái không tuệ ấy mà ngộ được chân lý , mới hiển bày được cái pháp tính vô tính. Nếu không có cái không tuệ đó thì không thể hiển bày được cái pháp tánh vô tánh này. Vì vậy mà có khi gọi là pháp tánh tông, có khi gọi là không tông, hoặc gọi chung là pháp tánh không tuệ tông cũng được.
   Thứ hai là pháp tướng duy thức tông hay gọi là pháp tướng duy thức học, tức là cái môn học về pháp tướng duy thức, môn học pháo tánh không tuệ, môn học pháp giới viên giác cũng được. Hiểu pháp giới không tuệ như vậy rồi thì đối chiếu qua pháp tướng duy thức cũng na ná như thế. Nhưng pháp tướng như huyễn (không có gì có thực hết), tất cả những cái tướng mà ta nhận biết ở đây dầu bằng ngũ thức hay bằng ý thức, bằng tánh cảnh, độc ảnh cảnh hay đới chất cảnh đều như huyễn hết. Tất cả tướng, tất cả pháp tướng đều như huyễn. Nhưng tại sao chúng ta lại không thấy nó là như huyễn là bởi chúng ta chưa hiểu về lý Duy thức, cho nên không thấy được cái lý như huyễn của các Pháp. Do đó chúng ta cần phải hiểu lý Duy thức thì mới hiểu được các pháp là như huyễn, phải ngộ được lý Duy thức thì mới hiểu được các pháp là như huyễn. Nên trong duy thức có câu: hiện tiền lập thiển vị thị Duy thức tánh. Nếu như trước mắt ta, tâm tưởng ta còn có một vật gì đó – chẳng hạn như nói pháp Duy thức, có cái Duy thức thiệt như thế, cũng là hiện tiền lập thiển vật là chưa chứng.

* Trang 42 *
device

ngộ được Duy thức tánh. Hoặc như trong đó nói rằng, cái viên thành thật tánh là cái gì? Viên thành thật tánh tức là hậu tức viễn ly tiền sở chấp ngã pháp tánh phi dị cố thứ dữ y tha phi dị phi bất dị như vô thường đẳng tánh phi bất kiến thử bỉ. Phi bất kiến thử bỉ là sao? Nghĩa là không thấy được cái này tất sẽ không thấy được cái kia. Đó là trích trong đoạn nói về vô tánh. Phi bất kiến thử bỉ tức có nghĩa là không ngộ được, không thấy được cái viên thành thật tánh thì sẽ không rõ được cái y tha, cho nên tu thì dựa theo y tha khởi tánh mà tu, nhưng khi ngộ là ngộ viên thành thật tánh. Mà có ngộ viên thành thật tánh rồi thì bấy giờ thật sự mới ngộ được y tha khởi tánh. Nếu viên thành thật tánh chưa ngộ tức là còn pháp chấp, mà còn pháp chấp thì không ngộ được lý y tha. Còn pháp chấp tức là chấp có cái này chấp có cái kia, cái này thật cái kia thật. khi đã nói cái này thật cái kia thật tức anh không nói u tha khởi nữa. Vì sao? Vì khi anh nói y tha khởi thì anh sẽ không nói cái này thật, cái kia thật nữa. Trong cái pháp giới trùng trùng y tha duyên khởi, nó dính chặt lẫn nhau, chồng chất lên nhau, vo trùng vô biên, vì muôn sự đều trùng trùng. Muôn sự trùng trùng thì cái nào là giữa cái nào là hai bên. Khi ta nói cái này giữa, cái kia hai bên, đó là ta nói theo cị trí của ta, chứ ta không nói đúng cái lẽ pháp giới trùng trùng duyên khởi. Khi đã nói cái này thật cái kia thật, tức nhiên ta tách cái đó ra khỏi pháp giới trùng trùng duyên khởi. Nhưng mà liệu có tách được không? Sự tách đó chẳng qua là cái vọng thức của mình tách mà thôi, chứ ở nơi các thể của pháp y tha khởi nó không bao giờ tách. Hòn núi Tu di, vi trần, mặt trời, ánh trăng, mây, mưa,

* Trang 43 *
device

gió, tất cả chúng ta đây đều có tương quan với nhau. Tất cả đều tương quan mật thiết với nhau như thế thì  cái nào là giữa cái nào là  hai bên, cái nào lầ bên trái cái là dưới, vô trung vô biên. Chính vì thế mà bộ luật do ngài Vô Trước soạn ra gọi là Vô trung vô biên phân biệt luận – nghĩa là không trung không biên, không chính giữa không hai bên, tức không có trên không có dưới, không có trong không có ngoài.
 Khi các pháp đã như vậy rồi, nếu ta không nhìn được toàn thể các pháp trùng trùng duyên khởi như vậy mà nói, anh này không giống anh này, anh này khác với anh này, tức là ta nói theo cái vọng thức của ta, chứ ta không nói tới cái thật tánh trùng trùng duyên khởi. Cho nên phải hiểu cái lý Duy thức thì mới hiểu được các pháp như huyễn.
Phải hiểu rằng, các pháp mà có này có kia là do thức ta biến. Thành thử cái thức là năng hiển mà pháp tướng như huyễn là sở hiển. Vì vậy có khi người ta gọi là pháp tướng tông, có khi gọi là duy thức tông, có khi gọi là hữu tông cũng được. Bởi vì giáo lý Đại thừa của Ấn Độ chia làm hai tông là Không tông và Hữu tông. Không tông là của ngài Long Thọ, còn Hữu tông là của ngài Vô Trước, Thế Thân. Hữu ở đây là lấy cái nghĩa ngoại cảnh vô duy thức hữu, cảnh nương nơi thức mà có nên cảnh vô mà thức hữu. Thành thử về tông Duy thức, đi từ cái hữu mà ngộ nhập chân lý vô sanh, vô tánh. Còn về bên Không tông là bắt đầu từ cái không đi tới ngộ nhập được cái là pháp tánh vô tánh, hai cái cửa khác nhau, cho nên cũng có thể gọi là 

* Trang 44 *
device

không môn, hữu môn (cánh cửa hữu và cánh cửa không), anh muốn đi cào cánh cửa nào cũng được tùy theo căn cơ trình độ của anh, tất cả đều đi đến như nhau hết đó là Hữu tông và Không tông.
 Để cho rõ ràng 4 chữ ghép lại gọi là Tánh không cũng được hay Không tông cũng được, hay gọi là Duy thức tông cũng được hay gọi là pháp tướng duy thức tông cũng đúng. Nhưng gọi đủ thì nên gọi là pháp tánh không huệ tông, nó đủ cả bên năng hiển và bên sở hiển.
Cái cuối cùng của pháp giới viên giác tông. Chữ pháp giới này là chỉ cho tất cả vạn pháp mà tánh tướng bất nhị. Trên kia là tánh riêng, tướng riêng, còn đây là tánh tướng bất nhị, tánh tướng đồng thời, do lý trí đồng thời ngộ nhập được thì chính pháp đó gọi là pháp giới. Tổng quát hết cả tánh tướng gọi là pháp giới. Pháp giới được hiển lộ ra phải có viên giác đại viên cảnh trí mới có thể hiển lộ, mới có thể chứng nhập được cái pháp tính đó, cho nên ta gọi là pháp giới viên giác tông cũng không sai. Một bên năng hiển, một bên sở hiển. Hai cái năng hiển sở hiển gộp chung với nhau gọi là pháp giới viên giác tông. Đó là nói cái nghĩa của chữ đó mà nói cái lý lẽ của tông đó.
Bây giờ qua nội dung kinh sách nói về tông này. Những kinh thuộc về pháp tánh không tuệ như Kim Cang, Bát Nhã, Trung Luận, Thập nhị môn Luận, Bách Luận, Trí độ Luận, và một số câu kinh khác rải rác đó đây nói về pháp tánh không, vô tự tánh, vô sở đắc thì cũng

* Trang 45 *
device

được gọi là pháp tánh không tuệ tông, tuy những câu kinh này không phải nhiều nhưng rất quan trọng. Còn những kinh đề cấp đến pháp tướng duy thức tông gồm những kinh luận nào? Đó là Giải thâm mật, Nhi kiếp đại thừa, Lăng già có một phần, Lăng Nghiêm cũng có một phần, Kinh Viên Giác, kinh Duy Ma Cật hay Đại thừa khởi tín luận, Du già sư địa luận, đó là bộ luận lớn nhất nói về thướng duy thức tông.
 Hiểu được như vậy, theo 3 lý nghĩa đó, giờ đây các anh em có thể nhìn vào kinh sách thì có thể biết kinh sách nào thuộc về pháp tánh không tuệ tông, kinh sách nào nói về vạn pháp duy thức biến, nhất thế duy tâm hiện. Nếu đọc kỹ sẽ biết nó thuộc về hệ thống pháp tướng duy thức tông. Còn những sách nói về Như Lai tạng tánh như kinh Lăng Nghiêm (nhất thiết chúng sanh tùng vô thỉ lai, sanh tử tương tục giai dao bất tri thường trú chơn tâm tánh tịnh minh thể, dụng chư vọng tưởng thử tưởng bất chơn cố hữu luân chuyển). Theo pháp giới viên giác tông thì tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến đều bởi không biết được cái chơn tâm thường trú, tánh vốn thanh tịnh, thể nó vốn sáng suốt.
Cái thường trụ chơn tâm tánh tịnh minh thể này ta sẽ đọc được trong kinh Lăng Nghiêm, trong các kinh nói về pháp giới viên giác tông, chứ không đọc được ở trong kinh Bát Nhã. Kinh Bát Nhã thường ít tìm thấy mấy câu này lắm. Hoặc như trong kinh Viên Giác đức Phật nói rằng: Vô thượng pháp cương hữu đại đà-la-ni môn danh như viên giác xuất sanh nhứt thiết thanh tịnh bồ đề niết bàn. Vô thượng pháp vương có đà-la-ni môn gọi là viên giác. Những kinh

* Trang 46 *
device

như vậy, đức Phật nói như vậy là chỉ về chơn như, Như Lai tạng, là thường trụ chơn tâm, là Phật tánh hay là tánh tịnh minh thể, đều là lời dạy về pháp giới viên giác tông hay pháp giới viên giác học. Những câu kinh này chúng ta ít tìm thấy ở trong Duy thức hay ở trong Bát Nhã. Vậy muốn đạt được kết quả, ngộ nhập được pháp tánh vô tánh là cần phải tu không tuệ. Muốn ngộ nhập được pháp tướng như huyễn cần phải học Duy thức, tu về duy thức quán. Hai môn này thuộc về quán hạnh, tu mà tu quán. Nói chung, tất cả pháp tu đều thâu vào hai môn thôi. Một là quán môn, hai là hạnh môn. Tu quán môn là đi vào cửa ngộ nhập chơn tính, vào cửa niết bàn bằng cửa quán. Hai là đi thẳng vào cửa thực hành. Chỉ có hai cách đó thôi.
Pháp tánh không tuệ tông nói về Bát Nhã hay nói về pháp tướng duy thức tông? Phần nhiều quán hơn là hạnh. Trong duy thức có ngũ trùng duy thức quán. Về Bát Nhã có tam quan theo như Trung Luận có câu: Nhơn duyên sở sanh pháp, ngã pháp tức thị không, diệc danh trung đạo nghĩa (quán). Đó là thuộc về quán môn. Còn về trong pháp giới viên giác tông thì thuộc về hành môn. Hành là thực hành. Trong sự thực hành và chú trọng thực hành để hồi quang phản chiếu. Bởi vì họ cho rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tính, đều có thường trụ chơn tâm, tánh tịnh minh thể, bởi vì họ cho rằng ở chúng sinh đều có thức tinh nguyên minh, giờ anh chỉ cần hồi quang  phản chiếu, đem cái ánh sáng bên trong hiển lộ ra ngoài, anh nhìn sắc hương , nghe sắc hương vị xúc, sự vật bên ngoài và rồi đem cái nhìn được từ bên ngoài để quay trở lại nhìn lại cái chính

* Trang 47 *
device

anh, nhìn lui cái thường trụ chơn tâm của anh đứng để nó chạy theo vọng cảnh bên ngoài. Như vậy gọi là hồi quang, đừng đem cái ánh sáng tai mắt mũi lưỡi chạy theo cái cảnh bên ngoài đó là hồi quang. Hồi quang là chiếu lại nơi chính mình, nơi thường trụ chơn tâm của mình. Khi đã phản quang hồi chiếu thường trụ chơn tâm thì tức nhiên mình sẽ ngộ được cái thường trụ chơn tâm của chính mình. Bây giờ thì nất nhơn phát qui chơn nguyên thế giới thành tiêu vững ( một người mà phát tâm trở về nơi chỗ qui nguyên (nguyên tính) thanh tịnh tâm thì cả thế giới đều tiêu hết): Khi ấy thế giới sắc thanh, danh tướng của vọng tưởng đều tiêu mất. Dĩ nhiên tiêu là tiêu đối với anh, còn người khác thì chưa tiêu, bởi họ qui nguyên đâu mà tiêu. Vậy muốn tiêu thì phải tu cách nào. Trong kinh Viên Giác có câu:Ư nhất thiết thời bất khởi vọng niệm, ư chư vọng tâm diệc bất tất diệc, trú tưởng cảnh bất gia liễu tri ư vô liễu tri bất biện chân thật. Bỉ chư chúng sanh văn như thị pháp, tín giải thọ pháp, bất sanh kinh úy thị tắc danh vi tùy thuận giác tính. Tu như vậy đó. Tu để đi đến cái viên giác là lối tu này. Luôn luôn trong mọi thời không khởi vọng niệm. Còn khi vọng niệm nó khởi lên cũng kệ nó, đừng có hơi sức đâu mà dứt cho mệt. Ở trong cảnh giới vọng tưởng cũng đừng gia thêm cái liễu tri vào làm gì. Chính ngay trong khi không liễu tri cũng không sinh ra cái niệm biền biệt, coi nó đúng hay nó sai. Chúng sanh nghe pháp như vậy mà tín giải thọ trì, không sinh không sợ, như thế là tùy thuận giác tính. Ở đây chữ sợ hãi này quan trọng lắm. Tại sao mà sợ hãi? Chỗ này nói chuyện hình như không dính dáng gì đến mình hết, không thêm cơm áo gạo

* Trang 48 *
device

tiền chi cho ai hết, tu kiểu gì mà tu lạ đời vậy. Tu mà như không tu, thực ra cũng kỳ quặc thật phải không? Nhưng chính người có căn cơ tín giải được nói, thực hành được điều đó gọi là tù thuận giác tánh. Tu cách này là tu theo cash tùy thuận giác tánh, tùy thuận ngộ nhập được pháp giới viên giác tánh. Cách tu này có khác hơn pháp môn pháp tánh không tuệ, có quán không, quán duy thức. Còn ở đây không quán gì hết mà lại thả thất cả để cầu ngộ được pháp giới viên giác. Ngộ được viên giác là ngộ được tất cả. Đó  là cách tu của viên giác tông.
Trên đây tôi đẫ nói qua ba tông, ba hệ giáo lý và ba cách tu chứng của heeij giáo lý một cách tổng quát.
Qua cơ sở đó để anh em có thể thêm phần cơ bản hầu sau này khi đọc kinh luận, hiểu biết sâu hon hòng giúp cho việc phiên dịch diễn giảng kinh tạng cho được thập phần viên mãn, và quan trọng nhất là biết mình dịch cái gì, giảng cái gì để đừng đi ra khỏi kinh luận luận của đức Phật đã dạy.
Biết tổng quát như vậy để khi đọc kinh biết kinh này thuộc về tông này, kinh kí thuộc về tông kia, lẽ tất nhiên trong kinh cũng có những lời lẽ thuộc về tông này hay tông kia xen lẫn, chứ không phải nhất thiết thuần túy về một mối , nhất thiết kinh này phải nói về pháp giới viên giác mà không nói về không, không nói về thức, không nhất thiết phải như vậy. chẳng hạn như trong kinh Lăng Nghiêm có bài kệ:

* Trang 49 *
device

Chơn tánh hữu vi không,
Duyên sanh cố như huyễn,
Vô vi vô khởi diệt,
Bất thực như không hoa.
Đó là nói về tánh không.
Kinh Lăng Nghiêm thuộc mặc dâu là bộ kinh thuộc về pháp giới viên giác mà vẫn có câu của pháp tánh không tuệ tông.
Câu này tóm tắt ý là: Xứng với chơn tánh, đúng với chơn tánh thì tất cả các pháp hữu vi đều không. Vì sao thế? Bởi vì nó là duyên sanh, ví như trò huyễn. Còn các pháp vô vi thì sao? Các pháp vô vi thì không diệt không khởi gì hết, vì lẽ nói không khởi không diệt nên nó cũng không thật. Nó không thật thì như hoa đốm giữa hư không. Thành trong Lăng Nghiêm mặc dầu là kinh thuộc về pháp giới viên giác học, nhưng vẫn có những lời dạy nói về pháp tánh không tuệ để hỗ trợ, giúp cắt nghĩa cái tính viên giác Như lại tạng tánh cho rõ ràng hơn.
Như vậy, trong Lăng Nghiêm, chẳng những nói về không tánh, nói về cái không, mà cũng nói về cái nghĩa duy thức nữa. Như có bài kệ:
         Đà vi tế thức,
         Tập khí thành bộc lưu
        Chơn phi chơn khổng mê
        Ngã thường bất khai diễn.
Đó là câu kệ nói về thức rất rõ ràng, chính đó là đệ bát thức. Đệ bát thức cũng có tên nữa là A đà na thức, là 

* Trang 50 *
device

căn bản thức. Tùy theo từng trường hợp cắt nghĩa về nó mà có tên khác nhau. Tuy cùng một thể mà tên không đồng. Cũng con người đó mà có khi kêu anh, khi kêu thầy, khi kêu chí, khi kêu bác. Đà na vi tế là thức nhỏ nhiệm nhất trong 8 thức. Tập khí thành bộc lưu: Tạp khí là chủng tử, một nghĩ khác của chủng tử, cái chủng tử nó liên tục sinh diệt. Tất cả các pháp đều có chủng tử A-lại-da thức, mà chủng tử đó nó liên tục sinh diệt như dòng nước chảy mạnh, dòng nước chảy liên tục như thế này, người ta cứ ngỡ nó là một dòng nước, lại càng không biết nó là một dòng nước hay có nhiều dòng nước trong đó. Ở giữa hai cái tướng trạng khó phân biệt như vậy, cho nên đức Phật thường không khai diễn nói nó, phải đọi cho đến một căn cơ nào đóNgài mới nói diễn tới cái A đà na thức này.
Còn cái căn cơ tiều thừa chưa hiểu được thì ngài chỉ nói ngang lục thức mà thôi chứ chưa nói tới A đà na thức. Vì sao? Bởi, chơn phi chơn cũng là mình ở giữa cái thật hay không thật sợ nó lầm không nhận ra được mà chấp nhận nó là ngã, vì cho rằng dòng nước đó là một dòng nước chảy xuôi, một dòng chứ không có nhiều dòng, hiểu như vậy là sai. Cho nên ngài thường không khai diễn. Đó là nói về đạo lý Duy thức.
Ngày xưa ngài Thanh Biện đã lấy câu kệ này làm ra bộ Chưởng Trân luận – bài luận nắm cái tâm bảo. Phân tích bài kệ này thì thấy nó có một cái lập luận giống như nhận minh, Aristote cũng có Tam đoạn luận nhưng có khác Nhân minh. Chơn tánh hữu vi không là tôn.

* Trang 51 *
device

Luận Nhân minh có tôn, phần nhân và phần dụ. Tôn tức là cái ý, cái chủ trương của mình muốn nêu ra, mình muốn nêu lên lập trường của mình đối với các pháp hữu vi, các pháp có sanh diệt, người thì nói nó có thật, có người nói nó vô thường, nói nó là không, vậy anh theo lập trường nào?  Anh nói ra cái chủ trương của anh gọi là tôn. Có người nói theo lập trường của tôi, tôi cho rằng các pháp hữu vi là không. Nhưng nói như vậy thì trái với giữa thế gian này, họ nói tất cả các pháp đều có, riêng anh khẳng định là không, thì chắc chắn anh sẽ bị họ bài bác, bởi vì sao? Vì anh pham cái lỗi thế gian tương vi (nghich lại với thế gian).
Trong xứ này, từ xưa ông bà cha mẹ truyền lại rằng: Mỗi lần có bệnh sốt rét là do ông thần cây đa bắt. Muốn hết bệnh thì phải sắm hương hoa quả phẩm vàng mã ra gốc cây đó mà cúng và khấn vái. Ai ai cũng tin như vậy. Bây giờ anh được du học bên Anh bên Pháp về, có chuyên môn bằng cấp, anh lấy kính hiển vi soi thấy vi trùng là tác nhân gây bệnh sốt rét. Vậy sốt rét là do vi trùng chứ đâu phải là do thần gốc cây đa cây đề bắt. Nhưng khi anh nói sốt rét là do vi trùng gây ra thì chắc chắn anh bị họ đuổi liền, họ nói anh này điên, điên rồi thì làm sao? Muốn không nghịch lại với thế gian, anh không phạm vào cái lỗi thế gian tương vi thì phải làm sao? Anh phải nêu cái lời giản biệt ở đầu. Hai chữ nhơn tánh này là lời giản biệt ở đầu trong bài kệ trên

* Trang 52 *
device

Trên tôi đã nêu chơn tánh hữu vi là tôn. Chữ hữu vi không ở đây không phảo hiểu không phải nói theo cái nghĩa thông thường, mà tôi nói hữu vi không đây là tôi đứng trên laaoj trường chân lý tôi nói, trên lập trường thật tánh tôi nói, cũng như anh kia muốn nói rằng, bệnh sốt rét là do vi trùng thì anh ta phải thêm một câu này nữa: Theo các nhà khoa học nghiên cứu thì bệnh sốt rét là do vi trùng gây ra, khi đó người ta mới chấp nhận. Anh phải lấy lời giản biệt đó, lẽ thứ nhất là đã có nhiều người chấp nhận điều đó, lẽ thứ hai là sách vở đã nói điều đó, lẽ thứ ba đó là sự thật. Nêu nó lên để anh giản biệt, chứng tỏ lời tôi nói đây là đứng trên lập trường có thật mà nói, chứ không phải đứng trên lập trường phổ thông mà nói, nên không trái gì ý của bà con hết, còn tin hay không là tùy bà con. Như vậy đứng trên phượng diện luận lý tôi không phạm lỗi thế gian tương vi. Đến đây thì chắc chắn họ chấp nhận và nói: Thôi được chúng tôi chấp nhận ý của anh. Nhưng anh nói hữu vi không, vì sao mà không, xin cắt nghĩa cho chúng tôi nghe một chút? Khi ấy chúng ta sẽ đưa ra cái nguyên do không là vì nó duyên sanh. Vì nó duyên sanh cho nên tôi nói không, chứ không vì duyên sanh thì làm sao tôi dám nói không được. Bởi vì tôi thấy nó duyên sanh nên tôi nói không đó là lý do. Nếu như họ chưa hiểu duyên sanh thì phải cắt nghĩa duyên sanh là gì cho họ hiểu. Khi cắt nghĩa duyên sanh như vậy thì họ thấy đó là không rồi. Anh nói như vậy là trên lý luận tôi hiểu rồi, nếu họ đòi hỏi bằng chứng và nói nó ví dụ như cái gì, anh chỉ cho tôi hay thì tốt lắm? Khi đó ta nói: Nó như trò huyễn hóa. Vì trò huyễn hóa là không thật. Ví như một cái khăn vuông mà họ làm ra con

* Trang 53 *
device

mèo chạy giữa đất, anh có tin không? Vậy con mèo đó là con mèo thật hay con mèo giả? Mặc dầu con mắt anh trông thấy nó chạy rõ ràng đó nhưng anh có dám nói đó là con mèo thật không?
Vậy thì các pháp hữu vi chúng ta thấy cũng y như thấy chiếc khăn làm ra con mèo chạy đó thôi, chứ có khác gì. Vậy anh đừng có tin vào con mắt mình, nó không có trúng đâu. Cái khăn vải mà nó làm con mèo chạy giữa đất, mình thấy rõ ràng, bao nhiêu người cùng thấy chứ không phải một mình mình thấy, giữa ban ngày ban mặt có đèn điện sáng trưng, chứ không phải thu dấu gì hết, tại sao như vậy? mà giờ nói con mèo thật có được không?
Giờ đây anh cứ cho các pháp hữu vi là có thật, nhưng tôi lại thấy các pháp hữu vi là không. Vì duyên sanh nên nó y như trò huyễn hóa. Cái khăn người ta làm con mèo chạy, không thật có thế thôi. Ví dụ ấy chắc chắn đủ cơ sở đẻ thuyết phục rồi. Còn hiểu hay không hiểu, chấp nhận hay không chấp nhận, cái đó còn tùy trình độ của từng người. Nhưng trên phương diện lý luận, mình đã làm tròn nhiệm vụ đầy đủ rồi, nhưng anh không chịu thì tùy anh chứ tôi không biết làm sao hơn nữa. Cũng như phạm nhân có tội sờ sờ ra đó, người ta đem ra giữa tòa luận tội, mặc dù biết có tội, nhưng ra giữa tòa anh cứ cãi bướng là vô tội. Điều đó thì tòa cũng chịu thôi, chứ tòa biết nói sao được nữa.
Trong chúng của đức Phật ngày xưa, nếu ai có tội mà hay cãi bướng, ai can cũng không được, vì Phật không

* Trang 54 *
device

cho dùng roi gậy, nhưng Ngài cho phép dùng lối mặc tẩn, tức phạm tội nhưng không can ngăn được thì cho phép chúng Tăng xa lánh họ, chứ bắt anh cũng không được, đuổi đi cũng không xong. Mặc tẩn là cách cảnh cáo bằng cách cô lập, không cho tham dự gì hết trong các Phật sự của chúng Tăng.
Trên là tôi muốn nói các pháp hữu vi, còn pháp vô vi thì cũng như cách trên, các vị tự suy nghĩ và tự lập luận lấy. Khi lập luận phải có tôn, có nhân, có dụ. (Muốn hiểu rõ hơn các vị có thể tìm đọc cuốn Nhân minh luận của tôi do Viện Nghiên Cứu Phật Học VN xuất bản năm 1994).

Các vị nên biết rằng: Câu-Xá nó đẻ ra từ trong Thượng tọa bộ sau cuộc kiếp tập lần thứ hai. Từ đó nó nảy sinh ra hai bộ lớn, rồi lần lượt sinh ra các bộ nhỏ. Đến khoảng 212 năm sau khi Phật nhập Niết-bàn thì tại trong nước Ấn Độ có một vị vua tên A Dục, vua này rất sùng đạo. Vua A Dục là một cị Thánh Quân, mọi người dân Ấn Độ rất tôn trọng ông và coi ông như là một vị trời – một vị nhà trời ưa thấy, cho nên ông còn cái tên khác là Thiên Ái Kiến Vương (vị vua mà ông trời ưa trông thấy lắm).
Phật tử ai cũng biết, đây là ông vua hộ pháp đệ nhất, có công lao rất lớn, cái công lao của vua A dục lớn ở chỗ: Nhờ ông mà Phật giáo mới truyền rộng ra các nước bên ngoài đầu tiên, chứ phần nhiều là truyền bá xung quanh lưu vực sông Hằng và một số nươc thuộc vùng Trung Á mà thôi. Thời A Dục, ông là một ông vua rất tôn

* Trang 55 *
device

trọng Phật giáo.Chính ông đã cử nhiều phái đoàn đi truyền bá khắp nơi, mở rộng Phật pháp ra các nước bên ngoài. Cho nên ở trong Tăng giới có những hạng người phát tâm chơn chánh tu hành, nhưng cũng có người thấy sự trọng vọng của vua, sự cũng dưỡng của hoàng gia cho nên cũng xin đi xuất gia. Hạng người này đi xuất gia không phải phải với tâm chơn chánh, lại cũng có rất nhiều người ngoại đạo thấy vậy cũng xin đi xuất gia, gia nhập hàng Tăng chúng. Từ đó hàng Tăng chúng càng trở nên phức tạp. Phức tạo đến nỗi không có lúc nào hòa hợp với nhau để thuyết giới được hết. Trường hợp này kéo dài mấy năm trường mà không có thuyết giới. Phật dạy nửa thánh thuyết giới một lần. Nhưng  giờ đây mấy năm không có thuyết giới. Ông là một vị vua hộ pháp, thấy tình trạng như vậy mới hỏi chư Tăng, thì được Tăng trả lời là Tăng không hòa hợp nên không thuyết giới được.
Vua rất nóng lòng và sai đại thần tướng quân đi đến hạch hỏi, thì thấy có nhiều người không hiểu gì luật hết, không nhớ gì những lời dạy của đức Phật, lại còn nói ngang ngạnh, sẵn kiếm đó, ông đại thần tướng quân phơ (giết) đi một mớ. Khi chuyện đó xảy ra, tiếng tăm bay về tận tại vua. Vua A Dục hiangr quá than thầm rằng: Ôi chao như thế này thì chết trẫm rồi. Như vậy là tội thuộc về trẫm hay thuộc về vị đại thần đó. Vua phân vân quá không biết làm sao , nên đã cho mời chư Tăng vào cung hỏi. Các vị Tăng cũng nói một người một cách. Từ đó vua nảy ra ý nghĩ xin chư Tăng mời các vị La-hán tăng để kiết lập kinh diển. Kiết tập lần thứ ba trong tăng giới để

* Trang 56 *
device

có sơ sở mà tu hành cho nghiêm chỉnh. Do đó mà có cuộc kiết tập lần thứ ba và cũng từ lúc đó có sự phân công các vị Cao Tăng tham gia vào các phái đoàn đi truyền bá khắp nơi. Đồng thời ông cũng sắc dựng các trụ đá nơi các thánh tích của đức Phập. Khắc những lời dạy của đức Phật để khuyên mọi người làm lành lánh giữ. Trong phái đoàn truyền giáo của ông có một phái đoàn truyền giáo do ngài Mạc Điền Địa (dịch âm là Mạc Xiển Đề hay Mạc Đẻ Căn) truyền đến nước Ca-thấp-di-la và Càn-đà-ra. Hai nước đó nằm ở đâu? Đó là Cát-sờ-mia và Can-đà-ra nằm ở phía đông bắc Ấn Độ. Hai nước này có đường biên giới chung với Trung Hoa. Từ đây nhìn qua phía đông là giáp với Trung Hoa. Trung Hoa là nước rất rọng, biên giới của Trung Hoa lúc bấy giờ là tỉnh Đôn Hoàng và Cam Túc ngày nay. Từ đó trở đi có các nước Tân Cương và nhiều nước khác. Về phía tây Trung Hoa chẳng hạn có các nước Khang Cư, Vu Điền, Đại Nhục Chi, An Tất, đó là những nước có tên trong các kinh do các ngài dịch. Như vậy tính ra có hàng mấy chục nươc trong vùng đó. Người Trung Hoa họ cho vùng đó là vùng Tây vực. Tây vực là khu vực phía tây. Tây vực ó cũng là một phần của Ấn Độ chứ không phải toàn hết Ấn Độ. Nhưng có một phần nhỏ thôi như Cát-sờ-mia và Căn-đa-ra là thuộc Ấn nhưng nó nằm cùng Tây vực giáp với Trung Quốc. Còn Ấn độ có hai danh từ hoặc là  Ấn Độ hoặc là Thiên Trúc. Thiên Trúc là chỉ cho Ấn Độ hoặc là Thân Độc. Trong kinh cũng có dùng từ Thân Độc để chỉ về Ấn Độ. Còn Cát-sờ-mia và Căn-đà-

* Trang 57 *
device

ra là trung tâm Phật giáo trước thế kỷ Tây lịch vào khoảng thời vua A Dục thuộc miền bắc Ấn Độ. Và chính nơi đó, từ đây các Cao Tăng làm bàn đạp sang Trung Quốc để truyền bà Phật giáo. Cát-sờ-mia, Kế Tân hay ca-thấp-di-la là Trung Quốc dịch, tất cả đều là Cát-sờ-mia hết. Chính từ Cát-sờ-mia này àm ngài Phật Đồ Trừng truyền bá Phật giáo qua Trung Quốc sớm nhất. Sau thế kỷ thứ tư ngài La Thập ở nước Qui Tư cũng đến học đạo ở đó. Trong lịch sử ngài La Thập có nói rằng: Khi ngài đến đó còn đương nhỏ, bà mẹ dắt ngài đến chùa, ngài thấy một cái bát rất to. Bát của các ngài xưa đi khất thực to lắm, không biết bây giờ các sư Việt Nam đi khất thực bát có to lớn như vậy không? Bát ấy khất thực có thể ăn được bốn người. Năm trước tôi có Báo Quốc, có một thầy từ Lào về mang bình bát to lắm. Ngài La Thập đang nhỏ vào thấy bình bát bự như vậy liền lấy đội lên đầu. Khi lấy đội ngài thấy đội không sao hết, rất nhẹ nhàng. Nhưng khi có móng lên ý nghĩ là mình nhỏ nhưng sao lại đội bình bát to thế này mà cũng đội nổi được, thì ngay khi ấy bình bát lại nặng, ngài đội không nổi nữa phải bỏ xuống ngay. Ngay từ lúc đó ngài đã có ý nghĩ rằng: Các pháp đều do thức biến, đều do tâm sanh. Từ sự kiện trên, ngài đã có ý nghĩ đó cũng chính phát xuất từ đât Cát-sờ-mia này mà ra.
Nói vậy để các thầy cô biết, đây là vùng đất trung tâm, là cái bàn đạp để các vị cao tăng truyền bà Phật giáo đến Trung Quốc. Phật giáo Bắc truyền cũng phát xuất từ đây để truyền váo Trung Quốc nên gọ là Bắc truyền. Còn Nam truyền là lấy tích Lan làm đầu, làm gốc mà

* Trang 58 *
device

truyền đi các nươc về phương nam Ấn Độ. Cũng tại đất Cát-sờ-mia này, đầu thế kỷ 4 trước Tây lịch, vua A Luậnịch Sơn đại đế người Hy Luậnạp (Trung Hoa dịch là Mã Kỳ Đốn) đem quân đi chiếm vùng đó và chiếm luôn hai phần ba đất Ấn Độ nữa. Nhưng quân lính của ông không chịu nổi khí hậu ở đó và đòi về. Vì thế hai ban năm sau ông đành phải rút quân khỏi Ấn Độ. Ở đây ông đã lập được chế độ Ba-bi-lon rất hùng mạnh. Ông về được mấy năm thì chết. Do vậy đế quốc của ông cũng sụp đổ theo. Tuy nhiên trước khi rút quân về nước, ông còn để lại một vị tướng cái trị một vùng, vùng đó là vùng Đại Hạ. Ông vua này trong lịch sử Phật giáo đã để lại một dấu ấn đáng nhớ là ông đã đến hỏi đạo với một vị Tỷ-kheo tên là Na Tiên, sau khi tập tành bộ “Na Tiên Tỷ-kheo vấn kinh” là phát xuất từ ông vua Di-lan-đà này. Nam tông gọi là “Di-la-đà vấn kinh”, còn bên Hán tạng thì gọi là “Na Tiên Tỷ-kheo kinh”. Chỗ đất này vào đầu thế kỷ thứ hai trước Tây lịch thì có nhóm dân gọi là Nhục Chi ở rồi, tiếp đó họ kéo nhau vào vùng Đôn Hoàng của Trung Hoa để sinh sống. Sau bị rợ Hung nô rượt đuổi nên phải di tản qua phía tây. Trong khi di tản qua phía tây, họ đánh chiếm một dân tộc khác gọi là Sắc Căn (Tắc Tục). Dân Nguyệt Chi đã thần phục được nước Đại Hạ và đồng hóa nươc này để lập ra nước Đại Nhục Chi. Nước Đại Nhục Chi bấy giờ rất rộng lớn, phía tây giáp An Tất (tức giáp Iran bây giờ). An Tất là Iran mà trong kinh các vị Tổ xưa dịch kinh có tên là An Tất. Nhưng ngài An Thế Cao lấy tên nước làm đầu, ngài Khăng Tăng Hội ở nước An Cư, phía bắc giáp Khan Cư. Cái tục đó đặt ra 5 hầu để cai trị

* Trang 59 *
device

khắp nơi, trong đó khu Khưu Mật, Song Mỵ, Quí Sương, Can Luậnại, Đô Mật. Một trăm năm sau có một vị vua của một trong 5 tộc đó nổi lên đánh chiếm bốn tộc kia và lên làm vua, gọi là tộc Quí Sương tên là Khưu Tựu Kích, lập nên triều đại Quí Sương.
Trong Phật giáo có hai ông vua hộ pháp. Một là ông vua A Dục dưới triều đại Khổng Tước và thứ hai là ông vua Ca-nị-sắc-ca dưới triều đại Quí Sương. Khi lập vương triều Quí Sương thì vua Ca-nị-sắc-ca thứ nhất bởi một nhân duyên như vầy: Có một người hoàng môn ở trong triều đình của ông, một hôm nọ đi ra ngoài thành, thấy người chăn bò dẫn 500 con bò đi. Ông ta hỏi người chăn bò dắt 500 con bò này đi đâu? Anh ta trả lời 500 con bò này dẫn đi sát sanh để tế lễ. Ông hoàng môn tự nghĩ: có lẽ vì ta không tạp được nghiệp lành nên phải làm cái thân hoàng môn. Bây giờ sẵn có dịp này ta làm phước để cứu lấy nó. May nhờ thiện nghiệp này mà ta khỏi làm thân hoàng môn chăng. Từ đó ông ta bỏ tiền mua chuộc để cứu 500 con bò này. Nhờ thiện nghiệp đó mà anh biến thân hoàng môn thành ra nam tử. Chuyện này ai đã đọc ngũ bất nam rồi thì sẽ dễ hiểu, bởi có người nửa tháng làm nam nửa tháng làm nữ. Ông hoàng môn này đã chuyển thân hoàng môn ra nam tử hẳn hoi. Khi đã chuyển thân nam tử ông chuyển về thành thì lại do dự không dám vô thành, vì trong cũng chỉ chứa toàn dân hoàng môn, còn bây giờ ông ta đã trở thành nam tử, vô cung ông sợ làm bậy thì có tội vậy vô sao được! Ông còn do dự không dám vào thì khi ấy vua đi ngang qua thấy vậy kêu hỏi: Vì lý do gì

* Trang 60 *
device

mà ông không vô? Ông bèn trình bẩm sự việc như vậy nên không dám vào. Vua lấy làm ngạc nhiên quá. Ông nghĩ, ông là vua cai quản thiên hạ, mọi người đều phục tùng vua. Ta là vị vua cao cả lớn nhất. Nêu không phải là người đại công đức thì làm sao dám lãnh thọ sự cũng dường lễ bái của ta. Ống nghĩ như vậy và liền đến chùa để bái kiến một vị Cao Tăng. Khi đến nơi rồi, ông thấy ngài là người đạo đức trang nghiêm, ông kính lễ và ngồi một bên. Sau khi ông kính lễ xong và ngồi một bên thì ông nhổ một bão nước miếng văng qua bên vị sư. Ngài mới nói rằng: Bần tăng không có đạo đức gì đủ để làm phước điền cho ông thì ông đến đây làm gì? Nghe lời nói của vị Cao tăng như vậy, vua hoảng quá, vì chuyện mình nghĩ trong tâm sao ngài biết. Như vậy thì ngài đúng là vị thánh nhân, cho nên ông xin phát tâm qui y và thọ giới. Từ khi qui y rồi ông phát tâm ủng hộ mạnh mẽ Phật pháp một cách đắc lực. Đó là lai lịch của ông vua Ca-nị-sắc-ca.
Cũng kể từ đó, hàng ngày ông mời một vị sư vào trong cung để thuyết giảng cho quần thần bá quan văn võ và nội cung nghe, cũng là dịp cho ông hỏi đạo luôn.
Khi thuyết pháp thì vị sư này nói thế này là đúng, vị sư khác lại nói thế khác là đúng. Mỗi người thuyến pháo mỗi cách không ai giống ai cả ông đâm ra phân vân, ông mới đem chuyện ấy hỏi ngài Hiếp Tôn giả. Ngài Hiếp Tôn giả trình bày: Thời đại bây giờ cách Phật khá xa cho nên Phật pháp bị lu mờ do đó kiến giải bất đồng.

* Trang 61 *
device

Ngài Hiếp Tôn giả là một vị là hán, 60 tuổi mới xuất gia. Xuất gia với tuổi lục tuần này, có người chê là quá muộn, già như vậy thì làm sao thực hiện được hai nhiệm vụ là thiền định và tụng kinh. Nghe chê như vậy, ngài phát tâm quyết tu, chuyên cần tinh tấn, tập định, và đọc tam tạng, thề rằng: Nếu như không đạt tam tạng, không chứng ngũ minh thì lưng không dính chiếu. Quả thật với công phu vượt bậc như vậy, sau ngài thông hiểu tam tạng một cách rõ ràng. Vì vậy cho nên vua Ca-nị-sắc-ca mới mời ngài để hỏi Phật pháp. Sau đó vua Ca-nị-sắc-ca yêu cầu ngài mở một cuộc kiết tập để chỉnh đốn lại giáo nghĩa.

* Trang 62 *
device

 
Đại cương Luận Câu Xá