LOGO VNBET
LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 115





BỘ KINH SỚ
I

SỐ 1693 → 1704







HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN

* Trang 850 *
device

* Trang 851 *
device

Lời Giơi Thiệu

Ngày nay, có thể nói, đại đa số Tăng Ni và Phật tử Việt Nam đều nhận thấy, một bộ Đại Tạng Kinh bằng chữ Việt là nhu cầu hết sức bức thiết, vì hai lý do:
 
Thứ nhất, hầu hêt các nước Phật giáo châu Á, kể cả Lào và Campuchia, đều đã có Đại Tạng Kinh riêng của họ, lẽ ra Phật giáo Việt Nam cũng đã phải có từ lâu rồi, nhưng cho đến nay vẫn chưa: điều này chứng tỏ Phật giáo Việt Nam đã thua kém Phật giáo các nước bạn rất xa. Đó là điều mà giới Phật giáo Việt Nam, đặc biệt giới xuất gia, cần quan tâm suy nghĩ.
 
Thứ hai, khả năng học tập, nghiên cứu Phật giáo trực tiếp qua Đại Tạng Kinh chữ Hán, có thể sẽ mỗi ngày một sút giảm dần; như vậy, nếu không có được bộ Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh và gấp rút, thì e các thế hệ học Phật tương lai sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu, học hỏi; và về lầu về dài, sự phát huy tinh thần Phật pháp ở Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu không nói bị hạn chế.
 
Chúng tôi nhấn mạnh, “Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh”, có nghĩa là trước nay  ở Việt Nam tuy cũng đã có một số lớn kinh điển Hán văn được dịch sang chữ Việt rồi, nhưng số đó còn rời rạc, lẻ tẻ, chứ chưa được tổ chức thành hệ thống hẳn hoi cho đúng với danh nghĩa Đại Tạng Kinh như tạng chữ Hán, để truyền trì cho đời sau, Hơn nữa, “hoàn chỉnh” còn có nghĩa là Đại Tạng Kinh chữ Việt phải gồm đủ Kinh, Luật, Luận và những tác phẩm chú thích, sớ giải v.v… của các bậc Tổ sư tiền bối cũng như của các học giả cận đại.
 
Nay, chúng tôi được biết, Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh – Tiến sĩ Triết học – hiện đang ở bên Đài Loan, phát nguyện đứng ra tổ chức phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh chữ Việt. Hòa thượng đã hoạch định một chương trình phiên dịch và ấn loát quy mô, công việc đang được tiến hành một cách thuận lợi và đều đặn. Chúng tôi vô cùng hân hoan và xin nhất tâm tùy hỷ.
 
Nhưng đây là sự nghiệp lớn lao, công đức cũng vô lượng, không phải sức của một người có thể chu toàn được, mà phải cần sự hỗ trợ của nhiều người. Cái khó trước kia là ở chỗ đã chưa có ai đề xướng và đứng ra gánh vác trách nhiệm, cho nên dù có người muốn hỗ trợ cũng không biết hướng về đâu. Thì nay đã có Hòa thượng Tịnh Hạnh, tương

* Trang 852 *
device

Đối đủ năng lực và điều kiện, đứng ra cán đáng công việc to lớn này, nên chúng tôi chí thành tha thiết thỉnh cầu chư tôn Hòa thượng, chư Đại đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, hãy phát đại tâm hộ trì Phật pháp, giúp đỡ Hòa thượng Tịnh Hạnh bằng hai cách:
 
  • Tích cực tham gia công trình phiên dịch, hiệu đính, chứng nghĩa góp ý v.v…
  • Hỗ trợ tài chính, tùy theo khả năng, cho công trình án loát, xuất bản v.v…
Đây là việc chung, có ảnh hưởng rất lớn đối với tiền đồ Phật giáo Việt Nam, chúng tôi ước mong quí vị sốt sắng tham gia, để phúc quả to tát này mau được viên mãn.
 
Sự nghiệp phiên dịch và xuất bản Đại Tạng Kinh chữ Việt, khi được hoàn thành, sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển nền văn học Phật giáo Việt Nam, đồng thời, giúp nâng cao địa vị của Phật giáo Việt Nam lên ngang tầm địa vị của các nước Phật giáo trên thế giới.
 
Nguyện cầu chư Phật, Bồ-tát, Thánh tăng, Hộ pháp, Hộ pháp thiện thần gia vị cho Hòa thượng Tịnh Hạnh và toàn thể quí vị Mạnh thường quân hộ trì Chánh pháp mau thành tựu đại nguyện.
 
Nam mô Hộ Pháp Chư Thiên Bồ-tát đại chứng minh.
 
Sài Gòn ngày 16 – 12 – 1998
Hội đồng Chứng minh
 

* Trang 853 *
device

Lời Nói Đầu
 
Ba tạng giáo điển là kho tàng của trí tuệ Bát-nhã, là chìa khóa của sự thành tựu đạo nghiệp. Hơn mười ba thế kỷ trước, thấu triệt lẽ này, Đại sư Huyền Tráng đã phát đại hùng tâm phiên dịch kiện toàn ba tạng giáo điển, giúp Trung Quốc hồng phước sở hữu Trung văn Đại Tạng kinh.
 
Trải năm mươi năm ấp ủ một hoài bão tương tự, mãi đến ngày nay, chúng tôi, mới tạm hội đủ nhân duyên để thực hiện bộ Việt tạng; thành tựu ấy chẳng thể, chẳng phải do một cá nhân: nó là thành quả của một công đức cộng đồn, do nhiều trái tim, bộ óc hợp lại.
 
Xưa kia, sự hiện diện của Hán tạng đã góp phần to lớn vào sự nghiệp nâng cao đời sống văn hóa, tâm linh của Trung Hoa, giúp nước này đủ sức mạnh gốc rễ để đứng vững trước bao phong ba, thử thách. Nhận định về điều này, ông Phùng Hữu Lan, giáo sư Viện đại học Bắc Kinh đã viết:
 
“Vào thời đại Nam Bắc triều, giới tư tưởng Trung Quốc lại có sự chuyển mình lớn lao. Bởi vì lúc đó tư tưởng Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo cũng thâm nhập hiểu được những huyền diệu sâu xa. Từ đó cho đến thời sơ diệp nhà Tống, những người có tư tưởng lỗi lạc nhất của Trung Quốc đều là những người nghiên cứu tư tưởng đạo Phật (khoảng năm sáu trăm năm). Tư tưởng Phật giáo vốn là sản vật của Ấn Độ nhưng được người Trung Quốc giảng giải, phần nhiều đem tư tưởng đó thâm nhập vào khuynh hướng tư tưởng người Trung Quốc, biến thành tư tưởng Phật giáo của Trung Quốc.” *
 
Sự hiện diện của Việt tạng đối với dân tộc ta đương nhiên cũng là như thế.
 
Về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nạp cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về phần Đại tạng Bắc truyền, quan trọng nhất được chọn từ Đại Chánh Tan Tu Đại Tạng Kinh, Tục Tạng Kinh…; thêm vào những sắc thái đặc biệt của Đại tạng Tây Tạng, Nhật Bổn; những văn bản tư tưởng Phật giáo của các vị Cao tăng học giả Đông, Tây cận đại; tất cả vào khoảng một ngàn tập, mỗi tập dày một ngàn trang khổ 17x24 cm, như
 
_____________________
* Trung Quốc Triết Học Sử, trang 661, xb. 1970 tại Đài Loan:
“Nam Bắc triều thời, Trung Quốc tư tưởng giới hựu hữu đại biến động. Cái ư thị thời Phật giáo tư tưởng hữu hệ thống đích du nhập, nhi Trung Quốc nhơn đối chi diệc năng hữu thậm thâm liễu giải. Tự thử dĩ hậu, dĩ chí Tống sơ Trung Quốc chi đệ nhất lưu tư tưởng gia, giai vi Phật học gia. Phật học bổn vì Ấn Độ chi sản vật, đản Trung Quốc nhơn giảng chi, đa tương kỳ gia nhập Trung Quốc tư tưởng chi khuynh hướng, dĩ sử thành vi Trung Quốc chi Phật học. “

* Trang 854 *
device

quý vị đang có trước mắt.
 
Chỉ nói sơ qua, đã mường tượng được công việc thực hiện Việt tạng là khó khăn như thế nào. Thử liếc nhìn qua nước Nhật Bổn chẳng hạn: chỉ mỗi phần việc biên tập tu đính dành cho bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (vì toàn bộ Đại Tạng Trung văn và Đại Tạng Nhật Bổn đã hoàn thành từ lâu), do hai học giả Phật giáo lỗi lạc vả Nhật Bản là Cao Nam Thuận Thứ Lang (Junjiro Takakusu) và Độ Biên Hải Húc (Watanabe) chủ trì, cùng với sự cộng tác của nhiều học giả Phật giáo và Đông phương học mà phải cống hiến ròng rã mười ba năm trí tuệ tâm huyết, mới tạm gọi là hoàn chỉnh.
 
Việc đã đành là khó, ngàn khó vạn khó, nhưng lẽ nào thấy khó mà không làm. Tự lượng sức mình có hạn, nhưng vì mỗi phút lòng thao thức cho sinh mệnh, tiền đồ của Phật giáo và dân tộc Việt Nam, chúng tôi đã mạo muội đứng lên khởi xướng, những mong một gọi nghìn thưa: mỗi Phật tử người Việt, xin ý thức trách nhiệm của mình, tự nguyện góp phần công đức vào sự nghiệp thực hiện bộ Việt tạng này, chẳng những là một phương tiện thù thắng để hoằng dương Chánh pháp, mà còn là đối với nền văn hóa dân tộc được cống hiến vô cùng sâu rọng, cũng xứng đáng là một tôn giáo đã có mặt trên đất nước Việt Nam ngót hai ngàn năm lịch sử.
 
Hôm nay Việt tạng bắt đầu xuất bản, vì là lần đầu, mặc dầu chúng tôi cố gắng đến mức tối đa, nhưng chắc cũng khó tránh khỏi những khuyết điểm về hình thức lẫn nội dung; hy vọng những vị cao kiến chỉ dạy để kịp thời sửa lại trong những tập sau cũng lần tái bản. Ở đây chúng tôi xin ghi ơn những vị tiền bối đã âm thầm góp sức, cũng như nhiều vị phụng hiến trí tuệ và mồ hôi qua sáu năm và những ngày sắp tới vào công việc gian lao này. Sau hết, không quên cảm ơn Chính phủ Việt Nam trong thời gian qua, đã dành cho chúng tôi nhiều sự dễ dàng trong khi thực hiện Đại Tạng Kinh chữ Việt.
 
Kính chúc Quý vị vô lượng cát tường.
 
Viết tại chùa Pháp-bảo TP. Hồ Chí Minh
Ngày 06 tháng giêng năm Canh thìn
 
P.L: 2544 – (2000)
 
Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH
 

* Trang 855 *
device

NHỮNG QUY ƯỚC THỐNG NHẤT
TRONG PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH


I- Viết hoa toàn bộ:
1. Tên người: (Phật) Vô Lượng, (vua) Tự Đức, (Thiền sư) Vạn Hạnh, (Bồ-tát) Quán Thế Âm...
2. Tên nước: Việt Nam, Trung Hoa, Thái Lan, Đài Loan...
3. Tôn Xưng danh hiệu Phật: Đức Như Lai, Bậc Chúng Hựu, Đấng Tối Chánh Giác...
4. Tác phẩm, kinh sách: luận Trung Quán, kinh Diệu  Pháp Liên Hoa, kinh Trường A-Hàm...
II- Viết hoa chữ đầu:
1. Địa danh: thành Vương xá, chùa Ấn quang, rừng Thi lợi...
2. Thuật ngữ phật học được nhấn mạnh: Bát chánh đạo, Tứ thánh đế, Khổ xuất yếu thánh đế...
3. Phẩm bậc, quả vị tôn kính: Hòa thượng, Thanh văn, Duyên giác, Thái tử (nói về Phật, Bồ-tát thị hiện độ sanh; ví dụ: Thái tử Tỳ-bà-thi), Tôn giả...
4. Chủng loại: chư Thiên
5. Phương hướng: phương Đông nam, hướng Tây bắc, phía Đông thành Vương xá...
III- Viết hoa chữ đầu + gạch nối: (những từ được phiên âm từ Pàli)
1. Nhân danh: Mãn-độ-ma, Xà-ni-sa, Xá-lợi-phất...
2. Địa danh: nước Bạt-kỳ, thành Xá-vệ, cõi Diêm-phù-đề...
3. Thuật ngữ phật học được nhấn mạnh: A-lại-da, Tam-phật-đà, Ba-la-đề-mục-xoa...
4. Phẩm bậc, quả vị: Tỳ-kheo, Ưu-bà-di, A-la-hán...
5. Chủng loại: A-tu-la, La-sát, Càn-thát-bà....
IV- Gạch nối (danh từ chung được phiên âm từ Pàli)
ví dụ: đàn-việt, na-do-tha, do-tuần...
V-Số:

* Trang 856 *
device

1. Viết thành chữ: (những số quá lớn nên chú thích thêm số)
ví dụ: hai trăm năm mươi (giới), ba mươi hai (tướng tốt), mười lăm ức bảy ngàn sáu mươi vạn (1.570.600.000)...
2. Viết thành số: số hiệu kinh, số trang dẫn
ví dụ: Đại I, trang 15, cht. 52...
VI- Đặc biệt:
- Âm "y" và "i": dù đứng một mình, đứng đầu từ hoặc ở giữa từ, hoặc sau các phụ âm: K, L,M,T,Q vẫn viết theo thói quen cũ.
ví dụ: kỹ cương, lý luận, hoàn mỹ, quy định, li ti, hoan hỷ ...
- viết là " Phạm" không viết là " Phạn" (phát âm theo chữ Brahma).
- viết là "Tuệ" không viết là "Huệ"
 TP. Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 9 năm 2000
Sa môn Thích Tịnh Hạnh
 
 

* Trang 857 *
device

VÀI NÉT VỀ BỘ KINH SỚ

Bộ kinh sớ được sắp xếp trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng  Kinh từ Quyển 33 đến quyển 39, nay trước hết xin giới thiệu sơ lược về tập 33.
Như chính tên gọi đã nói lên, đây chính là phần sớ giải, luận giải về Kinh tạng mà hầu hết là của các vị Ngài sư Trung Hoa trước thuật. Riêng quyển 33 chúng tôi biên dịch ra Việt văn thành 4 tập từ tập 115 đến 118 của Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh. Theo Đại Chánh Tân Tu  Đại Tạng Kinh, Quyển 33 được thu lục gồm 25 trước tác bắt đầu từ No 1693 đến No 1717 như sau:
No 1693 – Nhân Bổn Dục Sinh Kinh chú (1 quyển) do Ngài Đạo An soạn vào đời Đông Tấn.
No 1694 – ấm Trì Nhập Kinh chú (2 quyển), do Ngài Trần Tuệ soạn đời Ngô.
No 1695 – Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh Bát Nhã Lý Thú Phần Thuật Tán (3 quyển), do Ngài Khuy Cơ soạn vào đời Đường.
No 1696 – Đại Phẩm Du Ý (1 quyển), do Ngài Cát Tạng soạn vào đời Tùy.
No 1697 – Đại Tuệ Độ Kinh Tông Yếu (1 quyển), do Ngài Nguyên Hiểu soạn vào đời Tân La.
No 1698 – Kim Cương Bát Nhã Kinh Sớ (1 quyển), do Ngài Trí Khải thuyết giảng vào đời Tùy.
No 1699 – Kim Cương Bát Nhã Sớ (4 quyển), do Ngài Cát Tạng soạn vào đời Tùy.
No 1700 – Kim Cương Bát Nhã Kinh Tán thuật (2 quyển), do Ngài Khuy Cơ soạn vào đời Đường.
No 1701 – Kim Cương Bát Nhã Kinh Sớ Luận Toán Yếu (2 quyển), do Ngài Tông Mật soạn thuật vào đời Đường, Ngài Tử Tuyền chỉnh biên lại vào đời Tống.
No 1702 – Kim Cương Kinh Toán Yếu San Định Ký (7 quyển), do Ngài Tử Tuyền soạn vào đời Tống.

* Trang 858 *
device

No 1703 – Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh Chú giải (1 quyển), do Ngài Tông Phòng và Như Khởi đồng chú giải vào đời Minh.
No 1704 – Phật Thuyết Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Lược Sớ (2 quyển), do Ngài Trí Nghiễm soạn thuật vào đời Đường.
No 1705 – Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Kinh Sớ (5 quyển), do Ngài Trí Khải thuyết, Ngài Quán Đỉnh ghi vào đời Tùy.
No 1706 – Phật Thuyết Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Kinh Sớ Thần Bảo Ký (4 quyển), do Ngài Thiện Nguyệt soạn thuật vào đời Tống.
No 1707 – Nhân Vương Bát Nhã Kinh Sớ (6 quyển), do Ngài Cát Tạng soạn thuật vào đời Tùy.
No 1708 – Nhân Vương Kinh Sớ (6 quyển), do Ngài Viêm Trắc soạn thuật vào đời Đường.
No 1709 – Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh Sớ (7 quyển), do Ngài Lương Bí soạn thuật vào đời Đường.
No 1710 – Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh U Tán (2 quyển), do Ngài Khuy Cơ soạn thuật vào đời Đường.
No 1711 – Phật Thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Tán (1 quyển), do Ngài Viên Trắc soạn thuật vào đời Đường.
No 1712 – Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Sơ Lược Sớ (1 quyển), do Ngài Pháp Tạng soạn thuật vào đời Đường.
No 1713 – Bát Nhã Tâm Kinh Lược Sớ Liên Châu Ký (2 quyển), do Ngài Sư Hội soạn thuật vào đời Tống.
No 1714 – Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Chú Giải (1 quyển), do Ngài Tông Phòng và Như Khởi đồng chú giải vào đời Minh.
No 1715 – Pháp Hoa Kinh Nghĩa Ký (8 quyển), do Ngài Pháp Vân soạn thuật vào đời Lương.
No 1716 – Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa (20 quyển), do Ngài Trí Khải thuyết vào đời Tùy.
No 1717 – Pháp Hoa Huyền Nghĩa Thích Tiêm (20 quyển), do Ngài Trạm Nhiên soạn thuật vào đời Đường.

* Trang 859 *
device

Trong quyển 33 này, chúng ta thấy đa phần là chú thích sớ giải các kinh như: Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa, Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật Đa, Bát Nhã Tâm Kinh và cuối cùng là bộ kinh giá trị: Diệu Pháp Liên Hoa. Những bộ kinh nêu trên đều có các trước tác của Ngài Trí Khải, đời Tùy (hoặc do ngài thuyết giải, soạn thuật, hoặc do đệ tử của ngài ghi lại) Như No 1698 – Kim Cương Bát Nhã Kinh Sớ (1 quyển). Đây là bộ sách chú thích kinh Kim Cương Bát Nhã xưa nhất hiện còn. No 1705 – Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Kinh Sớ 5 quyển, ngài Trí Khải giảng, đệ tử Quán Đỉnh ghi. No – 1716 Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa (20 quyển) cũng ngài Trí Khải giảng, đệ tử Quán Đỉnh ghi. Đây là bộ luận giải có giá trị học thuật dành cho những học giả nghiên cứu Phật học. Sách này giả thích đề kinh “Diệu Pháp Liên Hoa” và nói rõ nghĩa lý sâu xa mầu nhiệm của Kinh. Nội dung chia làm 2 phần: Thất phiên cộng giải và Ngũ trùng huyền nghĩa (Thích danh, Biện thể, Minh tông, Luận dụng, Phân giáo) được chia làm 2 môn Thông và Biệt để giải thích. Ngoài ra, bộ luận Kim Cương Bát Nhã Kinh Sớ (2 quyển) của ngài Trí Nghiễm soạn vào đời Đường cũng rất thịnh hành lúc đương thời. Ngài Trí Nghiễm là Tổ thứ hai  của Tông Hoa Nghiêm, cho nên Ngài đã đứng trên lập trường “Đồng giáo nhất thừa” của Hoa Nghiêm mà giải thích kinh Bát Nhã. Đây cũng là kiến giải độc đáo của Ngài. Ngoài ra, các bộ: No 1699 Kim Cương Bát Nhã Sớ (4 quyển) do ngài Cát Tạng soạn vào đời Tùy, No 1700 Kim Cương Bát Nhã Kinh Tán Thuật (2 quyển), do Ngài Khuy Cơ soạn vào đời Đường đều là những luận giải có giá trị.
Tóm lại, bắt đầu từ quyển 33 cho đến quyển 39 đều là chú giải các kinh điển Đại thừa của các Tổ sư, Thiền sư Trung Hoa đứng trên lập trường luận thuyết tông phái riêng biệt của mình. Do đó chúng ta có thể học hỏi và mở rộng kiến giải về kinh điển Đại thừa rất nhiều.

Ban Biên Tập

* Trang 860 *
device

MỤC LỤC
(BỘ KINH SỚ 1 – TẬP 115)

SỐ 1693 – CHÚ KINH NHÂN BẢN DỤC SANH ........................................................ 3
SỐ 1694 – CHÚ KINH ẤM TRÌ NHẬP ....................................................................... 33
QUYỂN THƯỢNG ......................................................................................................... 35
QUYỂN HẠ ..................................................................................................................... 65
SỐ 1695 – THUẬT TÁN VỀ PHẦN LÝ THÚ BÁT NHÃ CỦA KINH ĐẠI BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA 87
QUYỂN 1: ........................................................................................................................ 89
QUYỂN 2: ...................................................................................................................... 131
QUYỂN 3: ...................................................................................................................... 168
SỐ 1696 – ĐẠI PHẨM DU Ý ...................................................................................... 213
SỐ 1697 – ĐẠI TUỆ ĐỘ KINH TÔNG YẾU ........................................................... 231
SỐ 1698 – KIM CANG BÁT NHÃ KINH SỚ ........................................................... 251
SỐ 1699 – KIM CANG BÁT NHÃ SỚ ...................................................................... 279
QUYỂN 1: ...................................................................................................................... 281
QUYỂN 2: ...................................................................................................................... 320
QUYỂN 3: ...................................................................................................................... 348
QUYỂN 4: ...................................................................................................................... 377
SỐ 1700 – KIM CANG BÁT NHÃ KINH TÁN THUẬT ........................................ 411
QUYỂN THƯỢNG: ...................................................................................................... 413
QUYỂN HẠ: .................................................................................................................. 462
SỐ 1701 – KIM CANG BÁT NHÃ KINH SỚ LUẬN TOẢN YẾU ....................... 509

* Trang 861 *
device

QUYỂN THƯỢNG: ...................................................................................................... 511
QUYỂN HẠ: .................................................................................................................. 541
SỐ 1702 – KIM CANG KINH TOẢN YẾU SAN ĐỊNH KÝ .................................. 411
TỊNH TỰ: ....................................................................................................................... 569
QUYỂN 1: ...................................................................................................................... 570
QUYỂN 2: ...................................................................................................................... 601
QUYỂN 3: ...................................................................................................................... 635
QUYỂN 4: ...................................................................................................................... 664
QUYỂN 5: ...................................................................................................................... 699
QUYỂN 6:....................................................................................................................... 734
QUYỂN 7: ...................................................................................................................... 751
SỐ 1703 – KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA KINH CHÚ GIẢI .............. 771
SỐ 1704 – LƯỢC SỚ KINH KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA ............... 807
QUYỂN THƯỢNG: ...................................................................................................... 809
QUYỂN HẠ: .................................................................................................................. 835



****

* Trang 862 *
device

* Trang 863 *
device

Đại Tập 115 - Bộ Kinh Sớ I - Số 1693 ->1704