LOGO VNBET
NHÂN VƯƠNG HỘ QUỐC
BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA KINH SỚ
 
QUYỂN TRUNG
 
PHẦN 1
 
PHẨN THỨ HAI: QUÁN NHƯ LAI
Biện minh về quán chiếu Bát-nhã.
Từ đây là phần nói về: Quán chiếu Bát-nhã. Văn chia làm hai phần.
Đây là phần thứ nhất: Vua Ba-tư-nặc hỏi:
Kinh: Vua Ba-tư-nặc bạch Phật: “Thật tính của các pháp, thanh tịnh bình đẳng, chẳng phải hữu phi vô, trí làm sao chiếu?
Giải thích: Nêu pháp tính ở phần trước để hỏi về trí.
“Thật tính của các pháp” tức là tính của các pháp.
“Thanh tịnh” là chẳng bị nhiễm trần.
“Bình đẳng” là không có cao, thấp.
“Chẳng phải hữu phi vô” là nêu “như” để hỏi về trí.
Pháp nếu là hữu thì lường xét về hữu mà biết. Pháp nếu là vô thì lường xét về vô mà hiểu. Đã nói là chẳng phải hữu phi vô thì làm sao trí chiếu (lường xét)?
Tiếp đến là phần hai: Như Lai chánh đáp, trong đó chia làm ba:
1. Các pháp là không; 2. Các pháp là giả có; 3. Thứ lớp của Thánh trí. Nơi phần một, văn phần làm hai: 1. cảnh chẳng phải hữu, phi vô; 2. Trí chiếu rõ là không. Phần cảnh này văn có hai phần: 1. Tự tính pháp là không; 2. Dùng sinh diệt nêu rõ về không. Trong phần một, Tự tính pháp không, văn lại có ba phần.
Đây là phần một - Đáp trí hữu không.
Kinh: Phật nói: Đại vương! Trí chiếu thật tính, chẳng phải hữu phi vô

* Trang 647 *
device

Giải thích: Trí là năng chiếu (chủ thể) lường xét (xứng) cảnh mà quân; cảnh chẳng phải hữu phi vô vi thì trí cũng chẳng phải hữu phi vô. Pháp sư Duệ nói: Vạn vật phi vô, tông là vô tướng. Hư tông chẳng phải hữu, chiếu là vô tâm. Cho nên Thánh nhân dùng chơn trí vô tâm chiếu hư tông vô tướng, trong và ngoài cả hai đều sâu thẳm, cảnh và trí đều tịch lặng, tức là chiếu.
Sau đây là phần hai - Nêu hỏi nguyên do.
Kinh: Nguyên do là sao?
Giải thích: Nguyên do vì sao trí chiếu thật tính chẳng phải hữu phi vô
Tiếp theo là phần ba - giải thích các pháp là không, văn chia làm hai phần:
1. Nêu chung pháp là không.
Kinh: Vì pháp tính “không”.
Giải thích: Pháp là các pháp. Tính là thật tính. Pháp và pháp tính thảy đều là không. Nhưng đối với các pháp thì chấp kiến khác nhau. Phàm phu đối với pháp thì chấp có đúng, sai. Ngoại đạo đối với pháp thì chấp ngã, chấp pháp. Tiểu thừa với pháp thì chấp là sắc tâm thật. Đại thừa với pháp thì đạt vô tự tính. Hiểu pháp tức không, gọi là pháp tính “không”.
Dưới đây là phần hai - Ngay ở pháp làm rõ “không”.
Kinh: Đó tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, mười hai xứ, mười tám giới, bảy đại sáu giới, mười hai nhân duyên, hai đế, bốn đế, tất cả đều không.
Giải thích: Nghĩa là: uẩn, xứ, giới, sĩ phu bảy đại, sáu giới, ngoại đạo phàm phu, chấp thật dấy khởi điên đảo, nêu ra để nói về không.
Mười hai nhân duyên là nói về Độc giác quán.
Bốn đế là nói về Thanh văn quán.
Hai đế là nói về Bồ-tát quán.
Đều vô tự tính nên tất cả đều không.
Tiếp đến là phần hai - dùng sinh diệt nói rõ không. Văn chia làm bốn.
Phần một: Nêu sinh diệt không.
Kinh: Các pháp ấy, tức sinh tức diệt, tức có tức không, từng Sát-na, Sát-na, cũng lại như vậy.
Giải thích: Trước đã nói về các pháp không có tự tính, nên là không. Đây là nói về các pháp sinh diệt, nên là không, tùy thuận căn cơ của hữu tình, mà phá chấp.

* Trang 648 *
device

“Các pháp ấy, tức sinh tức diệt, tức có tức không” Nghĩa là: các uẩn trước là các pháp hữu vi, thể không bền giữ, niệm niệm dời đổi, tùy sinh tức diệt, niệm niệm đều không. Dựa theo tướng hữu vi, hoặc có bốn tướng, như Luận Bà-sa nói: Có thể khởi, gọi là sinh. Có thể an gọi là trụ, có thể suy tổn gọi là dị, có thể bị hoại gọi là diệt. Sinh là ở thời vị lai, còn ba tướng kia là ở thời hiện tại. Lại nữa, Luận Duy thức viết: Vốn không nay có, ở phần vị có gọi là sinh. Tạm ngừng ở phần vị sinh gọi là trụ. Trụ thì có trước, sau gọi là dị, tạm thời có lại trở về không, lúc không gọi là diệt. Ba tướng trước là ở thời hiện tại. diệt thì ở thời quá khứ, đó là chính.
Hoặc có thuyết nói là ba tướng: Như luận Câu xá, dẫn chứng theo kinh, nói là ba tướng: 1. Khởi; 2. Trụ, dị; 3. Tận. Trong luận có hai giải thích, như thường phân biệt.
Hoặc nói là hai tướng, như kinh này nói là: tức sinh tức diệt. Luận Du-già cũng nói giống với kinh này. Luận nói: sinh và trụ dị, đều gọi là phẩm sinh, diệt gọi là phẩm diệt. Các chúng đệ tử, phải quán các pháp sinh diệt mà trụ.
Hoặc nói là một tướng, như kệ kinh nói: Các hành vô thường. “Các” là nhiều, hành là dời đổi, trôi chảy, gọi chung là Hữu vi, đều gọi là các hành.
Nói “vô thường” như luận Du-già quyển tám mươi mốt nói: cái “có” khởi rồi tận hết, nên gọi là vô thường. Hợp cả hai sinh và diệt   goi chung là vô thường. Quyển năm mươi hai lại nói: Nếu do những tướng đó mà khởi tư duy chán ghét, lìa dục giải thoát, hợp nói sự sinh diệt thành ra là vô thường. Sao gọi là vô thường? Vì có chẳng có mãi, không chẳng không mãi, cả hai đều không có tướng thường, nên gọi là vô thường. Kinh nói “Sinh, diệt” là nói tóm lược.
“Sát-na, Sát-na cũng lại như vâỵ”: Sát-na, là thời gian cực ngắn. Như nói cực vi sắc là cực ít, cực nhỏ. Sinh diệt có hai: 1. Sát-na; 2. một thời kỳ. Đây chẳng phải là một thời kỳ mà là Sát-na.
Sát-na là gì? Duyên pháp hòa hợp, được tự thể hiển. Lại nữa, pháp vận hành chuyển động một cực nhỏ như vậy gọi là một lượng Sát- na, lặp lại một từ “Sát-na” là để phá tình chấp. Hữu tình vọng đảo, chấp pháp thường có. nghĩa là: nghe nói các pháp sinh diệt, nên là không, bèn chấp: chỉ có pháp hiện tại là Sát-na sinh diệt, còn quá khứ, vị lai thì thể phải thường trụ. Vì để phá chấp đó mà nói rõ các pháp từ vô thủy đến nay, quá khứ đã diệt, hiện tại nay diệt, vị lai sẽ diệt, niệm niệm dời chảy, đều là Sát-na diệt. Do đây kinh nói: “Sát-na Sát-na cũng  lại

* Trang 649 *
device

như vậy”.
Hỏi: Tức diệt là đồng một Sát-na, hay là khác thời?
Đáp: Vì một niệm có nhiều Sát-na, ở một Sát-na có nhiều sinh diệt, lấy nhiều sinh diệt đó hình thành một Sát-na. Tức “thể” làm rõ không, nên là đồng một niệm. Điều đó giống với kệ của Kinh Hoa Nghiêm: Ví như gió mạnh thổi, Mặt trống sinh lay động. Cả hai không biết nhau, các pháp cũng như vậy. Sinh diệt tức là không, không cùng biết nhau.
Sau đây là phần hai - Nêu hỏi nguyên do
Kinh: Vì sao?
Giải thích: Các pháp hữu vi, Sát-na sinh diệt là vì nguyên do gì?
Tiếp đến là Phần ba, giải thích về nhiều sinh diệt.
Kinh: Trong một niệm có chín mươi Sát-na, một Sát-na trải qua chín trăm sinh diệt.
Giải thích: Từ thô đến tế, chuyển tiếp phân tích để rõ là không. Các hữu vi pháp, trôi đuổi không dừng, quá khứ đã không, vị lai sẽ không, một niệm hiện tại, đừng cho thật có. Tách một niệm này, có chín mươi Sát-na, đừng cho Sát-na là có “thể” thật. Tách một Sát-na có chín trăm sinh diệt. Vì nhiều sinh diệt mà thành một Sát-na, nên Sát-na không có “thể”. Vì nhiều Sát-na hợp thành một niệm, nên niệm cũng không có thể thật, vì vậy mà nói các pháp niệm niệm đều không.
Hỏi: Niệm nhớ cảnh riêng, lấy sự ghi nhớ làm tính. Sao ở đây lại nói niệm sinh diệt là không?
Đáp: Danh từ “niệm” thì giống nhau, nhưng nhân của chúng thì có khác nhau. Niệm (nhớ) cảnh riêng thì lấy sự ghi nhớ làm tính, còn niệm ở đây là trong thời không tương ưng mà giả lập một khoảnh khắc thời gian sinh diệt, giả lập danh gọi là niệm. Niệm không có “thể” thật, đều là không.
Dưới đây là phần bốn - Kết, về các pháp không.
Kinh: Các pháp hữu vi đều là không
Giải thích: Kết về pháp hữu vi sinh diệt, nên là không và hiểu về vô vi tuy là tịch mà thường.
Tiếp theo là phần hai - Nói rõ về trí chiếu không, văn chia làm hai. 1. Nêu về trí chiếu không
Kinh: Dùng Bát-nhã Ba-la-mật đa thâm diệu, chiếu kiến các pháp, tất cả đều không.
Giải thích: Như đã giải thích trong phần tông, tóm lược lại là:
“Bát-nhã thâm diệu” tức là tuệ tịnh.

* Trang 650 *
device

“Ba-la-mật đa” là đến bờ kia.
“Chiếu kiến”: tức chiếu là thể của trí. Kiến là dụng của trí. Thể của chiếu tức là kiến, gọi là tâm vô tướng. Do tuệ tịnh này mà đạt đến bờ giác.
Nói “các pháp” là cảnh đối tượng được chiếu. Cảnh và trí đều tịch nên bảo là “Tất cả đều không”.
Hỏi: Câu ở trên “Bốn đế... tất cả đều không”. Câu ở đây “các pháp... tất cả đều không”. Hai đoạn văn này khác nhau như thế nào?
Đáp: Đoạn trước là chỉ cảnh không, còn đoạn này thì nêu trí cũng không. Tuy cảnh và trí, đều tự tính không, nhưng để hiển về trí chiếu như, trí tức là vô tướng nên kết hợp nói.
Dưới đây là phần hai - Nêu dẫn pháp để nói rõ về không. Văn có sáu phần.
1. Nói về nội và ngoại không.
Kinh: Nội không, ngoại không, nội ngoại không.
Giải thích: Văn kinh dưới đây là nói về chánh trí.
Tức có (ngay ở có) quán không thì có mười tám không.
Mười tám “không” đó thì văn nói bốn “không” sau cùng khác với kinh đại Bát-nhã. Như Đại Bát-nhã quyển năm mươi mốt: Tôn giả Thiện hiện phát hỏi, đức Thế Tôn đáp. Lược dẫn kinh ấy để giải thích đoạn văn này:
“Nội không”. Nội là nội pháp, tức nhãn nhĩ, thiệt tỷ, thân ý. Ở đây, Nhãn do nhãn không, tỷ, nhĩ, thiệt... cũng như thế. Phi thường phi hoại, bản tính là vậy. Trên nói nhãn tức là nhãn xứ do nhãn không thì nhãn không có tự tánh. Nhãn xứ tức không thì các xứ khác cũng vậy. Như luận Trí độ quyển bốn mươi sáu nói; Nếu chẳng tu tập “không” thì sẽ rơi vào nhị biên. Dùng không phá hữu, cũng không bị vướng mắc ở không. Không có ngã và ngã sở vì bản tính là vậy, đoạn văn sau lý cũng giống như thế, vì e rườm nên lược bớt.
“Ngoại không”: Ngoại là ngoại pháp, tức là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, trong đó, sắc do sắc không nên thanh v.v... cũng vậy.
“Nội ngoại không”: là pháp nội ngoại. Pháp Nội là sáu căn xứ, ngoại là 6 trần xứ. Ở đây, sáu xứ nội do sáu xứ ngoại không, sáu xứ ngoại do sáu xứ nội không. Trước riêng sau chung nên đều là không.
Tiếp đến là phần hai - Nói về các không.
Kinh: Không không, Đại không, Thắng nghĩa không.
Giải thích: “Không không”: nghĩa là tất cả pháp không. Không do không nên không.

* Trang 651 *
device

“Đại không”: nghĩa là mười phương: Đông, Nam, Tây, Bắc, bốn hướng, trên dưới, trong đó, phương Đông do phương Đông không, các phương Nam v.v... cũng vậy.
“Thắng nghĩa không”: Thắng nghĩa là Niết-bàn. Thắng nghĩa đó, do thắng nghĩa không.
Tiếp theo là phần ba: Hữu, vô vi không
Kinh: Hữu vi không, vô vi không
Giải thích: “Hữu vi không”: là Dục giới, Sắc giới, vô Sắc giới đều không.
“Vô vi không”: là không sinh, không trụ, không dị, không diệt.
Vô vi này do vô vi không, vì tướng và vô tướng đều không.
Sau đây là phần bốn - Nói về ba đời không.
Kinh: Vô thủy không, tất cánh không
Giải thích: “Vô thủy không”: là thuận theo cách dịch cổ. Tân dịch là vô tế không. nghĩa là: không có đời sơ, trung, hậu tế có thể đạt được và không có đời quá khứ vị lai có thể đạt được. vô tế đó là do không có đời nào có thể đạt được. Cho nên vô tế không.
“Tất cánh không”: nghĩa là các pháp rốt cùng là chẳng thể đạt được. Tất cánh đó là do tất cánh không, vì đời, chẳng phải đời đều không.
Tiếp đến là phần năm - Nói về tính tướng không
Kinh: Tán không, bản tính không, Tự tướng không, Nhất thiết pháp không.
Giải thích: “Tán không”: nghĩa là có thả, có dứt, có bỏ, khả đắc. Tán đó là do Tán không. Kinh kia tiếp đó lại nói “vô biến dị không”. nghĩa là không thả, không dứt, không bỏ khả đắc. Vô biến dị này là do vô biến dị không. Trước là hữu, sau là không. Vì tướng cùng đối với nhau. Kinh này tuy thiếu về vô, nhưng nghĩa đã có ý đối.
“Bản tính không”: nghĩa là, bản tính của tất cả pháp, hoặc tính pháp hữu vi, hoặc tính pháp vô vi, đều chẳng phải là do Thanh văn, Độc giác, Bồ-tát, Như Lai làm ra, cũng chẳng phải là do kẻ khác làm ra. Bản tính này do bản tính không.
“Tự tướng không”: nghĩa là tự tướng của tất cả pháp, như chất ngại là tự tướng của sắc, lãnh nạp là tự tướng của thọ, giữ lấy hình ảnh là tự tướng của tưởng, tạo tác là tự tướng của hành, hiểu biết phân biệt là tự tướng của thức, những thứ như vậy, hoặc tự tướng của pháp hữu vi, hoặc tự tướng của pháp vô vi, những tự tướng đó đều là không.
“Nhất thiết pháp không”: nghĩa là năm uẩn, mười hai xứ, mười

* Trang 652 *
device

tám giới, hoặc là pháp hữu sắc hay không sắc, hữu kiến hay không kiến, hữu đối hay vô đối, hữu lậu hay vô lậu, hữu vi hay vô vi, tất cả pháp đó do tất cả pháp không.
Sau đây là phần sáu: Nói về nhân quả không.
Kinh: Bát-nhã Ba-la-mật đa không, nhân không, quả Phật không, không không cho nên không.
Giải thích: “Bát-nhã Ba-la-mật-đa không”: là trí quán chiếu không.
“Nhân không”: là các Bồ-tát, từ bậc đẳng giác trở về trước, tất cả đều không.
“Quả Phật không”: Những lực mà chư Phật có, như vô úy... các pháp bất cộng, thể tịch cho nên không.
“Không không cho nên không”: Luận Trí độ nói: không không, là trước tiên dùng các không để phá các pháp nội, ngoại.... đều không. Lại lấy cái không đó để phá các không trước, đó gọi là không không.
Hỏi: Không không trước và không không này khác nhau ra sao?
Đáp: Trước là phá các không nên nói là không không. Ở đây là phá các không trước mà gọi là không không.
Hỏi: Nếu vậy, do các pháp có phá, nên bảo là không, không đã không phải là pháp, rỗng không bị phá chỗ nào?
Đáp: Phá các pháp rồi, chỉ có ở không. Không cũng phải xả bỏ, cho nên cần phải không không. Như thuốc để chữa bệnh, bệnh lành thì phải bỏ thuốc. Thuốc nếu không xả bỏ, thì thuốc đó lại thành là bệnh. Vì e “không” sẽ thành bệnh, tức lấy không để bỏ không, nên bảo là không không.
Dưới đây là phần hai - Các pháp là có giả, trong đó chia làm hai phần: 1. Nói về các pháp có; 2. Nói về ngã pháp không. Trong phần một các pháp có giả phân ba: phần một: nêu các pháp có.
Kinh: Pháp hữu vi, pháp tập mà có, thọ tập mà có, danh tập mà có.
Giải thích: Trước là nói về chánh trí, đối tượng chiếu đều không.
Đây là trí phương tiện, không hoại bỏ các pháp, tức ngay ở nơi không mà quán có.
“Pháp hữu vi”: Câu này là nêu chung về pháp hữu vi của thế gian và xuất thế gian. Sau đó là nói riêng về có.
“Pháp tập mà có”: năm uẩn tích tập, gọi là pháp tập có. “Thọ tập mà có”: lãnh nạp tác nghiệp, gọi là thọ tập có
“Danh tập mà có”: danh là biểu thuyên (nêu lên khẳng định), tập

* Trang 653 *
device

cho nên có.
Tuy cả ba tập này, nghĩa thông cả vô lậu, nhưng đoạn văn trên và dưới đây chỉ dựa theo hữu lậu.
Tiếp theo là phần hai - Thế gian có
Kinh: Nhân tập nên có, quả tập nên có, sáu thú nên có.
Giải thích: “Nhân tập nên có”: là các nghiệp mà thiện nhiễm hữu lậu gây tạo là nhân của ba hữu.
“Tập đế nên có, quả tập nên có” là ở trong ba cõi, nghiệp chung, riêng, cảm quả tịnh, vô ký.
“Khổ đế nên có, sáu thú nên có”. Thú là dị thục nơi sáu thú: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, Tu-la, nhân, thiên. Khả năng hướng đến (năn thú) ấy tức là nhân, chổ hướng tới tức là quả. Trước là riêng, sau là chung, nói về ba cõi.
Kế đến là phần ba - Nói về xuất thế gian có.
Kinh: Thập địa nên có , quả Phật nên có , tất cả đều có
Giải thích: “Địa thứ mười nên có”: Văn nói địa thứ mười là gồm cả ba Hiền là nhân có của Bồ-tát.
“Quả Phật nên có” là ba thân, cho nên có. Cũng có thể nói là:  Vị Nhân hướng tiến, đạo đế chưa tròn; vị quả phẩm trí, thì đạo đế viên mãn. Cho nên giải thoát, pháp thân, diệt đế đã tròn đủ. Với khổ và tập nêu trước thành là bốn đế.
“Tất cả đều có”: Câu này là tổng kết, thế và xuất thế gian tất cả đều có.
Tiếp theo là phần hai - Ngã pháp không, trong đó chia làm hai: 1. Ngã pháp không; 2. Không khởi kiến. Phần một ngã pháp không lại có ba phần. Đây là phần một: Nêu tướng của ngã pháp.
Kinh: Này thiện nam! Hoặc Bồ-tát chấp trụ ở pháp tướng có tướng ngã, tướng nhân, hữu tình, tri kiến là trụ nơi thế gian tức chẳng phải là Bồ-tát.
Giải thích: Nghĩa là: Bồ-tát tuy quán ở “có” nhưng không nên trụ.
“Trụ ở pháp tướng”: tức hữu vi nêu trước, gọi chung là pháp. Vì mỗi một pháp đều có tướng được giữ lấy theo phép tắc. nghĩa là: Hoặc Bồ-tát tuy quán các thứ là có, nhưng không hoại pháp, thông đạt thật tính, không nên trụ nơi tướng. Nếu trụ tướng thì sẽ sinh ra chấp có.
“Có tướng ngã” là ngã, nhân, tri, kiến bốn thứ như trước đã giải thích.
Ngoại đạo chấp ngã, cũng gọi là hữu tình. Tác nghiệp và thọ quả

* Trang 654 *
device

đều cho là ngã.
“Là trụ nơi thế gian, tức chẳng phải là Bồ-tát”. Trụ nơi tướng ngã pháp tức là phàm ngu, là trụ nơi thế gian, chẳng phải là Bồ-tát.
Kế đến là phần hai: Nêu hỏi nguyên do
Kinh: Nguyên do là sao?
Giải thích: Vì sao trụ nơi tướng ngã pháp thì chẳng phải là Bồ-tát?
Sau đây là phần ba - Kết về các pháp không
Kinh: Vì tất cả các pháp đều là không.
Giải thích: Không hiểu về các không, tức chẳng phải Bồ-tát. Ngộ
tất cả pháp đều không tịch (rỗng lặng) đối với có nhưng không trụ, tức là Bồ-tát.
Dưới đây là phần hai - không khởi kiến, trong đó có ba phần:
1. Nói về không khởi kiến.
Kinh: Nếu đối với các pháp mà đạt được sự chẳng động, bất sinh bất diệt, vô tướng, vô vô tướng tức không nên khởi kiến.
Giải thích: Đây là nói về Bồ-tát ngay nơi pháp mà quán không.
“Nếu đối với các pháp mà đạt được sự chẳng động”: Nếu các Bồ-tát tuy quán các pháp, nhưng thấu đạt được có tức không. Không cho chẳng động, không, chẳng động nên bất sinh bất diệt.
“Vô tướng”: Tướng là các pháp, vô tướng tức không. Vì ngộ tướng tức không, nên bảo là vô tướng.
“Vô vô tướng”: Chẳng phải cho rằng dứt bỏ tướng mà cho đến, trụ ở vô tướng, vô tướng cũng dứt trừ, cho nên bảo là vô vô tướng.
“Không nên khởi kiến”: “Trụ ở tướng thì kiến sinh ra, không trụ nơi có, không có thì không có kiến chấp”. Cho nên pháp sư Tăng Triệu nói: Môn của Bát-nhã là quán không, môn của phương tiện là đi vào có. Đi vào có nhưng chưa từng mê chấp không. Cho nên ở nơi có mà không bị nhiễm. Không chán bỏ có nhờ quán không, nên quán không nhưng không chứng. Là nghĩa đó.
Dưới đây là phần hai - Nêu hỏi nguyên do
Kinh: Vì sao?
Giải thích: Vì sao lại không nên khởi kiến?
Tiếp theo là phần ba - Giải thích pháp đều như.
Kinh: Tất cả pháp đều như - Chư Phật, Pháp, Tăng cũng như.
Giải thích: Trước là nêu pháp sau là nêu Tam bảo. Không luận hơn hay kém, tất cả đều như. Luận Bảo tính nói: Như ba thứ đồ chứa khác nhau, nhưng khoảng không thì không khác. Tất cả chúng sanh, Bồ-

* Trang 655 *
device

tát, chư Phật đều không có sai biệt, đều đồng một như.
Sau đây là phần ba - thứ tự của Thánh trí. Trong đó chia làm bốn phần. Đây là phần một - Thánh trí thứ 1:
Kinh: Thánh trí hiện tiền, một niệm tối sơ, đầy đủ tám vạn bốn ngàn Ba-la-mật đa, gọi là địa Hoan hỷ.
Giải thích: Trên đã nói về trí chiếu không và hữu, không biện minh vị địa, chỉ là luận chung. Từ đoạn văn này mới nói về địa thứ nhất… và hiểu rõ văn trên hầu hết là dựa theo trí thuộc địa tiền, lìa có, không mà tu, chẳng chấp trụ.
“Thánh trí hiện tiền, một niệm tối sơ, gồm đủ tám vạn bốn ngàn Ba-la-mật đa”: Nghĩa là đầu tiên của bậc kiến đạo thật sự, hiện đoạn trừ, hai chấp phân biệt, chủng tử từ vô thỉ đến nay vĩnh viễn dứt hết và đầy, đủ các đức. Do vậy mà nói so với ngôi vị ba Hiền, toàn bộ công đức vốn có do tu hành trong cả một kiếp cũng không thể sánh bằng một niệm tối sơ này.
Sao gọi là “Gồm đủ tám vạn bốn ngàn”, do đối trị với Hoặc, mà có số ấy.
“Địa Hoan hỷ” sinh ở nhà Như Lai, trụ ở địa cực hỷ. Phần sau sẽ nêu rõ.
Kế đến là phần hai - Tỏ chung về địa thứ mười. Kinh: Chướng hết thì giải thoát, vận tải gọi là thừa. Giải thích: Nêu chung cả địa thứ mười.
“Chướng hết”: Là địa thứ mười phần đoạn dứt hai chướng câu sanh, định Kim cang thì dứt sạch.
“Giải thoát”: Giải là lìa trói buộc thoát là tự tại. Tùy theo địa thứ mười, chướng đoạn dứt, hiển bày như. Sau tâm Kim cang, thì giải thoát viên mãn.
“Vận tải” tức nghĩa là thừa: Vận có đủ bốn nghĩa: Vận chuyển chướng khiến cho tận hết. Vận lý khiến cho hiển rõ. Vận chuyển hành khiến cho đầy đủ. Vận chuyển quả khiến cho viên mãn đến ngôi vị cứu cánh. Đó là giải thích sự vận dụng của thừa. Thể của thừa là giáo lý hành và quả như trên đã giải thích.
Dưới đây là phần ba - Nói về địa Đẳng giác.
Kinh: Khi tướng động diệt, gọi là định Kim cang.
Giải thích: “Khi tướng động diệt”: là định cuối cùng của địa thứ mưới.
“Tướng động”: Là như Luận Khởi Tín nói: Như gió nương nhờ nước mà có tướng của động. vô minh nương theo chơn mà khởi tướng

* Trang 656 *
device

của nghiệp. Nay ở ngôi vị Đẳng giác, như gió đã diệt thì tướng của động cũng diệt theo, nhưng nước thì không diệt. vô minh kia diệt, tướng của nghiệp cũng diệt theo, nhưng chơn thì không diệt. Cho nên, nói ở ngôi vị này tướng động diệt. Gọi là Kim cang định, nghĩa là chư Bồ-tát đến ngôi vị này, những định thù thắng nương vào, giống như Kim cang, đều có thể đoạn trừ được các chướng vi tế.
Tiếp sau là phần bốn - Nói về Địa Như Lai.
Kinh: Thể tướng bình đẳng, gọi là Nhất-thiết-trí. Trí.
Giải thích: “Thể tướng bình đẳng”: Đây có hai loại: 1. Thể bình đẳng; Sở chứng của tất cả chư Phật đều bằng nhau; 2. Tướng bình đẳng: Hằng sa công đức của tất cả chư Phật đều bằng nhau.
“Gọi là trí Nhất-thiết-trí”: Đây có hai trí; 1. Nhất-thiết-trí, tức là trí chứng đắc như; 2. Chữ trí ở sau là Nhất-thiết-chủng-trí: là Hậu đắc trí. Hai trí chân và tục, chư Phật đều bằng bằng. Đây chính là vị nhân quả của quán chiếu Bát-nhã.
Dưới đây là phần ba: Văn tự Bát-nhã. Như Bản ký nói: có bốn thứ vô thượng. 1. Năng thuyết là vô thượng; 2. Tín thọ vô thượng; 3. Sở thuyết là vô thượng; 4. Trí tuệ vô thượng.
Dưới đây là phần một - Người thuyết giảng vô thượng.
Kinh: Đại vương! Văn tự, chương cú của Bát-nhã Ba-la-mật đa này, trăm Phật, ngàn Phật, trăm ngàn vạn ức tất cả chư Phật cùng thuyết giống nhau.
Giải thích: Cái thật tướng sở chứng (thật tướng Bát-nhã) và quán chiếu năng chứng (Quán chiếu Bát-nhã), ắt phải có thể nêu giảng. Thế nhưng năng thuyết (chủ thể) thì các cõi Phật khác nhau. Như kinh Duy- ma-cật nói: Hoặc dùng cơm thơm, hoặc dùng hào quang, hoặc dùng vườn rừng, hoặc vô ngôn thuyết. Ở thế giới Kham nhẫn (Sa bà) tức dùng âm thanh văn tự Bát-nhã mà làm Phật sự. Cho nên có văn nói ở đây.
“Văn tự” tiếng phạm gọi là Tiện thiện na, tiếng Hoa dịch là văn. Văn tức là tự. Như nói: ô! a! nương theo âm thanh mà hiển bày, là trong bất tương ưng hành uẩn. Tự chẳng phải là chữ viết bằng mực.
“Chương cú”: Tiếng phạm gọi là Bát-đà, chánh dịch là “tích”, dịch theo nghĩa là “cú”. Cú là chương, nêu giảng nghĩa cứu cánh. Tức như kinh nói: các hành vô thường v.v... là chương cú. Chính dịch là “tích”, nghĩa là như vết chân voi. Voi có bốn dấu chân, tìm theo dấu chân thì được voi. một bài kệ có bốn cú, tìm theo cú thì được nghĩa. Văn tự Bát-nhã, thể tức là bốn pháp, nghĩa là danh, cú, văn và với âm

* Trang 657 *
device

thanh. Danh thuyên bày về tự tính, như gọi các sắc,... vì các pháp, sắc, thọ v.v... tự tính khác nhau. Cú thì nêu giảng về sự sai biệt, như nói vô thường, khổ, không, vô ngã, là những pháp sai biệt khác nhau. Văn tức là tự, vì nó hiển bày danh cú. Thanh tức là âm thanh, là những thứ do tai nghe. Theo âm thanh dài, ngắn, gọi là danh, cú, văn. Cả ba thứ đó lìa âm thanh tuy không có thể riêng nhưng giả và thật thì khác nhau. Cũng không phải chính ngay ở âm thanh hợp thành Bát-nhã, mà là nhân của giải thoát. Đừng cho văn tự của kinh này chỉ một mình đức Thế Tôn thuyết giảng mà trăm ngàn vạn ức tất cả chư Phật cùng thuyết giảng.
Tiếp đến là phần hai - Tín thọ vô thượng, trong đó chia làm  hai. Đây là phần một: Tài thí là kém.
Kinh: Như có người dùng bảy báu chứa đầy trong hằng hà sa tam thiên đại thiên thế giới, Bố thí cho tất cả hữu tình khắp đại thiên thế giới đều đắc quả A-la-hán.
Giải thích: Nêu dụ để so sánh
“Hằng hà”: Tân dịch là Căng-già-hà. Trong sông nhiều cát, lấy mỗi một hạt cát dụ cho số đại thiên giới, bảy báu đầy trong Tam thiên đại thiên giới nhiều như cát đó, như thường phân biệt.
“Bố thí cho tất cả hữu tình khắp đại thiên thế giới”: Bố thí rộng lớn. Dùng bảy báu quý giá trong các cõi nhiều như cát sông Hằng Bố thí cho hữu tình trong sáu thú bốn loài cả đại thiên giới đều bình đẳng Bố thí cho nên kinh nói chung là tất cả hữu tình.
“Đều đắc quả A-la-hán”: Những người thọ nhận sự Bố thí đó, tất cả hữu tình, phát tâm Thanh văn, tu hạnh tự lợi. Theo kinh cũ nói là: “Đắc bốn quả của bảy Hiền. Còn ở đây là chỉ nêu theo phần thù thắng là quả La hán, hiển bày trong chỗ Bố thí đạt đến quả tối là hơn.
Tiếp đến là phần hai - Tín thọ thắng
Kinh: Không bằng có người đối với kinh này, cho đến khởi một niệm tịnh tín, huống chi là có người có thể thọ trì, đọc tụng, hiểu rõ một câu.
Giải thích: Tín tâm lắng sạch là gốc của các thiện. Nếu người thường tín thì không có cách gì so sánh được. Chỉ một niệm tịnh tín với kinh, còn hơn cả phước trên.
“Huống chi...”: một niềm tin ít ỏi mà phước còn hơn kia, huống nữa là đọc tụng thọ trì, tâm sinh chánh giải, thì chẳng có gì bằng.
“Thọ trì...” Thọ nghĩa là nhận lãnh. Trì: nghĩa là không quên. Như trong luận Biện Trung biên, phần hành thập pháp tụng nói:
Viết, chép để cúng dường

* Trang 658 *
device

Cho người, nghe, cầm đọc
Thọ trì, chánh khai diễn
Phúng tụng và tư, tu.
Tám thứ trước là văn tuệ.
Hai sau là tư, tu tuệ.
Tức là Tam tuệ.
Ở kinh này nêu bốn thứ: ba thứ thuộc văn tuệ, một thứ thuộc tư tuệ. Chỉ hiểu một ít thôi, thì đã hơn phước kia.
Hỏi: bảy báu đầy Hằng sa giới, rộng thí hữu tình, họ lại tu hành đến quả vô học, đủ cả ba tuệ này là hơn, sao lại kém hơn một niệm tín?
Đáp: bảy báu là tài, do thí trụ nơi tướng, hai thứ kia tuy nhiều nhưng có phân biệt. Quả A-la-hán, tự cầu giải thoát, vì là tiểu thừa, cho nên là kém. Giáo Bát-nhã này, là mẹ của chư Phật, sinh ra chư Phật, rộng lớn thâm diệu, chẳng có gì sánh bằng, chỉ một niệm tín, liền vượt phước trước.
Dưới đây là phần ba - sở thuyết (văn tự) là vô thượng - Trong đó chia làm hai. 1. Trưng hỏi nguyên do.
Kinh: Nguyên do là gì?
Giải thích: Nguyên nhân của tịnh tín trì tụng thắng hơn là gì?
Sau đây là phần hai - Nêu nguyên do thắng hơn.
Kinh: Văn tự tính lìa, không có tướng của văn tự, chẳng phải pháp phi, chẳng phải pháp.
Giải thích: “Văn tự tính lìa, không có tướng văn tự”: là nói về giáo, cái chủ thể thuyên bày (lý lẽ)… biển hiện ra, thuyết bày ra. Vì các pháp không có tự tính, nên bảo là lìa tính. Do vì tính lìa, nên vô tướng. Vì vậy, kinh Tịnh Danh nói: Văn tự tính lìa, tức là giải thoát.
“Phi pháp” tức văn tự vốn là không.
“Phi phi pháp”: là tuy lìa tướng mà thể của cái được nêu ra (sở thuyên) không phải là không có.
Lại giải thích “chẳng phải pháp” là lý của cái được nêu giảng,  trí không phải tướng có “chẳng phải phi pháp” là pháp đã tu chứng thì chẳng giống như sừng thỏ không phải không có pháp. Do giáo và lý đều lìa nhị biên, cho nên là vô thượng.
Tiếp đến là phần bốn - Nêu trí tuệ vô thượng. Trong đó chia làm ba phần.
1. Bát-nhã không.
Kinh: Bát-nhã không, cho nên Bồ-tát cũng không.

* Trang 659 *
device

Giải thích: “Bát-nhã không”: là cảnh trí không.
“Bồ-tát cũng không”: Tức Bồ-tát, là chủ thể hành chiếu cũng không.
Sau đây là phần hai - Nêu hỏi nguyên do
Kinh: Vì sao?
Giải thích: Vì nguyên do gì mà Bồ-tát cũng không?
Kế đến là phần ba: Giải thích về nguyên do không. Trong đó chia làm hai phần. 1. Nhân của Bồ-tát là không.
Kinh: Ở trong địa thứ mười, mỗi địa đều có mới sinh, trụ sinh và chung sinh, ba mươi sinh đó đều là không.
Giải thích: Nêu đối tượng nương dựa là không, để hiển bày chủ thể nương dựa là không.
“Ở trong địa thứ mười”: Là địa Hoan hỷ v.v... nương dựa duy trì sinh trưởng, gọi là địa.
“Mới sinh, v.v...”: là nói về địa thứ mười không. Ở mỗi một địa đều có đủ ba sinh. Như sơ địa; kiến đạo đầu tiên, gọi là mới sinh. Trong sơ địa, khi tu đủ hạnh thù thắng trải qua thời gian lâu dài, gọi là trụ sinh. Sơ địa sắp mãn, tiến cầu địa sau, nơi tâm sau cùng, gọi là chung sinh. Tức nhập, trụ, chung là ba sinh. Địa thứ chín còn lại cũng vậy, tức thành ba mươi sinh. Tuy ba địa sau cùng, không có sự cố gắng nào khác, cứ theo tự nhiên mà gia hạnh, nhưng vẫn có ba sinh.
“Đều là không”: Chung thì địa thứ mười, riêng thì ba mươi sinh, do chủ thể nương dựa và đối tượng được nương dựa của ngôi vị nhân này đều là không.
Tiếp theo là phần hai - Quả Phật không.
Kinh: Nhất-thiết-trí, Trí lại cũng đều không
Giải thích: “Nhất-thiết-trí trí” là toàn bộ hai trí: Căn bản Trí và hậu đắc trí của Phật, không chỉ những văn tự, mà theo đến đối tượng được nêu giảng và Bồ-tát đều không, thậm chí quả vị Phật, các tướng vĩnh viễn tịnh lặng, cũng đều là không.
Trên đây là đã giải thích riêng về ba loại Bát-nhã, cả ba đều chung cho nhân và quả. Như văn đã giải thích xong.
Đoạn văn lớn thứ hai, biện minh chung về Bát-nhã, trong đó chia làm ba phần: 1. Nêu chung về cảnh, trí; 2. Giải thích riêng về cảnh, trí; 3. Tổng kết đều là như. Đây là phần một. Nêu chung về cảnh và trí.
Kinh: Đại vương! Hoặc Bồ-tát thấy cảnh, thấy trí, thấy thuyết giảng, thấy thọ nhận, tức chẳng phải Thánh kiến mà là phàm ngu  kiến.

* Trang 660 *
device

Giải thích: Đoạn văn này là nói chung về Thánh và phàm.
Ở trên đã nói về ba loại Bát-nhã khiến các Bồ-tát tu chứng như vậy. Cảnh và trí tuy giống nhau nhưng do mê và ngộ nên khác nhau. Sau đây là so sánh giữa phàm và Thánh. Cảnh của chư Bồ-tát thấy tức là thật tướng Bát-nhã. Nói thấy trí tức là quán chiếu Bát-nhã. Thấy thuyết, thấy thọ tức là văn tự Bát-nhã. nghĩa là với ba thứ Bát-nhã trên, dùng tâm vô tướng thường chứng tu thuyết. Không hoại ở tướng, đạt đến không chấp trụ mới là chơn Bồ-tát chân thật. Nếu tâm chấp giữ nơi tướng thì những cảnh thấy được đều là sáu trần.
“Thấy trí” là trí vọng phân biệt.
“Thấy thuyết, thọ”: là chấp trước tướng thuyết giảng thọ nhận.
Mê tính mà chấp giữ tướng là chấp của ngu phu.
Hỏi: Cảnh, trí, thuyết, thuộc phàm phu và cảnh, trí, thuyết của Bồ- tát, thể của cả ba là khác nhau hay giống nhau?
Đáp: Vì trụ tướng, nên chẳng đồng, vì chiếu giải nên chẳng khác. Cho nên không nhất định.
Tiếp theo là phần hai: Nói riêng về cảnh và trí. Trong đó có ba phần: 1. Cảnh trí của phàm; 2. Cảnh trí của Thánh; 3. Nói và nghe.
Trong phần một cảnh trí của phàm. Chia làm ba phần:
Nêu chung về quả báo.
Giải thích về nghiệp của ba cõi.
Kết về nghiệp quả là không.
Đây là phần một- Nêu chung về quả báo.
Kinh: Quả báo ba cõi của hữu tình là hư vọng.
Giải thích: Đây là nói về phần đoạn sinh tử trong ba cõi.
“Hữu tình” là hữu tình thế gian.
“Quả báo”: Nghiệp quả nơi sáu thú.
“Ba cõi” là khí thế gian bên ngoài.
“Hư vọng” nhân và quả đó, cả hai đều không thật. Như kinh Bất Tăng Bất giảm nói: Pháp thân thanh tịnh bị các phiền não làm lay động, nên qua lại nơi sinh tử, gọi là chúng sinh. Nói về các hữu tình, bản tính thanh tịnh, vì bị nghiệp vô minh làm lay động nên ngủ mê trong ba cõi, trôi chuyển trong sáu đường, qua lại sinh tử, giống như diễn viên thay đổi nhiều vai, đều là hư vọng.
Sau đây là phần hai - Giải thích về nghiệp ba cõi, trong đó chia làm ba phần: 1. Nghiệp nơi Dục giới.
Kinh: Dục giới phân biệt đã gây tạo các nghiệp.
Giải thích: “Dục giới” là cảnh giới thuộc về hai loại tham thực và

* Trang 661 *
device

dục. nghĩa là cả bốn thú thì hoàn toàn, cõi Trời thì một phần và nơi chốn nương dựa đều gọi là Dục giới.
“Phân biệt”: Là hữu tình nơi Dục giới, các thức tán động, thân khác nhau, tưởng khác nhau, nhiều loại khổ vui, khởi vọng phân biệt.
“Đã gây tạo”: nghĩa là thân khẩu ý vọng tưởng tạo tác.
“Các nghiệp”: Thể của nghiệp là Tư. Nghiệp hành phước, phi phúc, như đã giải thích trên.
Kế tiếp là phần hai - Nói về nghiệp của Sắc giới
Kinh: Tạo nghiệp của bốn tĩnh lự định của cõi Sắc.
Giải thích: “Sắc” là Sắc giới.
“Bốn tĩnh lự địa”: như đã giải thích ở trên.
“Định” là tâm một cảnh tính.
“Tạo nghiệp” lược có ba loại: 1. Tầm tứ: nghĩa là sơ tĩnh lự có tầm có tứ. Nếu trung gian thiền thì không có tầm, chỉ có tứ. Ba tĩnh lự tiếp theo thì không có tầm, không có tứ. Cùng với ba loại nầy tương ưng với định tịnh, đó tức là hành chẳng động, có thể sinh ra những nghiệp kia.
Tiếp theo là phần ba - Nêu nghiệp của vô Sắc giới.
Kinh: Những nghiệp khởi do bốn định không ở vô sắc.
Giải thích: Hai chữ “vô sắc” như đã giải thích trên.
“Bốn không” là 1. Không vô biên xứ; 2. Thức vô biên xứ; 3. Vô sở hữu xứ; 4. Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
“Định”: nghĩa như đã nêu trên. Không có tầm, tứ, chỉ có những khởi nghiệp do định thắng tịnh. Như Luận Câu-xá nói: Khi tu gia hạnh, suy tư về vô biên không, lìa đệ tứ thiền, sinh lập không vô biên xứ, nương theo cận phần này mà các đạo vô gián, nhàm chán hữu lậu nơi các cõi dưới. Cả ba thô, khổ, chướng, tùy một hành tướng, các đạo giải thoát, vui nơi căn bản không. Tĩnh, diệu, ly cả ba, tùy một hành tướng, đắc sinh bốn uẩn tạo thành thân. Nương theo mệnh căn nơi chúng đồng phận thọ hai vạn kiếp. Ba xứ như Thức v.v... theo đó mà biết thọ bốn vạn kiếp, sáu vạn, tám vạn kiếp, do định dần dần thù thắng.
Dưới đây là phần ba - Kết về nghiệp quả không, trong đó chia làm hai phần:
1. Nghiệp quả không.
Kinh: Nghiệp quả của ba hữu, tất cả đều không.
Giải thích: “Ba hữu”: là Dục hữu, Sắc hữu, vô sắc hữu.
“Nghiệp quả”: Nghiệp là nghiệp thiện, bất thiện hữu lậu và lực trợ duyên là phiền não chướng. Quả là dị thục của các thú cảm nhận, như thân mệnh dài ngắn, tùy theo lực nhân duyên có hạn định, là quả

* Trang 662 *
device

phần đoạn.
“Tất cả đều không”: Tức những thứ kia đều không có tự tính, đều là không.
Dưới đây là phần hai - Kết về vô minh không.
Kinh: vô minh căn bản nơi ba cõi cũng không.
Giải thích: “Vô minh căn bản”: Như Luận Duy thức nói: Thức thứ bảy đều thường hành tuy vô minh, thường tương tục nhưng chẳng thể phát nghiệp. Thức thứ sáu thì mê lý mà khởi, chỉ chấp giữ lấy có thể phát các hành phước v.v... chính là đứng đầu của duyên sinh, làm căn bản.
Như luận Khởi Tín nói: vô minh có hai loại: 1. Căn bản; 2. Cành ngọn. Tướng ngọn cành thì tế, nghĩa là nghiệp chuyển hiện, dựa nơi hiện thức đó khởi các sự thức. Tức như kinh Lăng Già nói: “Gió cảnh giới lay động, sóng bảy thức lưu chuyển” cùng nhau dẫn phát mà thọ nhận phần đoạn sinh, tức là cành ngọn. “Căn bản” là vì không biết  như thật về pháp chơn như, tâm bất giác khởi mà có niệm đó. Niệm không có tự tướng, không lìa bản giác, giống như người mê, dựa vào phương mà mê, nếu lìa phương, thì không có mê. Chúng sinh cũng vậy, vì nương theo giác mà mê, nếu lìa tính giác thì không có gì là không giác, đó là “căn bản”.
“Cũng không”: Há chỉ là nghiệp quả vì không có tự tính nên không, mà ngay cả vô minh căn bản mà những nghiệp quả kia nương vào, cũng không có tự tính, nên cũng không.
Tiếp đến là phần hai - Nêu rõ cảnh trí của bậc Thánh. Trong đó chia làm ba:
1. Nêu Biến dịch không:
Kinh: Các địa của Thánh vị vô lậu sinh diệt, ở trong ba cõi, vô minh tập còn lại quả báo biến dịch, cũng lại đều không.
Giải thích: “Thánh vị”: Đây là nói bậc chứng đắc, chẳng phải hạng phàm phu đạt được.
“Các địa”: theo kinh cũ dịch là “ba địa chín sinh diệt”. Ba địa là địa thứ tám, thứ chín, và mười. Mỗi địa đều có mới, trụ, chung sinh là chín sinh diệt. Kinh Lăng già bản bốn quyển nói: Bồ-tát Ma-ha-tát đắc pháp nhẫn vô sinh, trụ nơi địa thứ tám, chuyển các tâm xả, đắc ý sinh thân.
Lại nữa, quyển bốn nói: Đại Tuệ! Thanh văn, Bích chi Phật, vì chưa chứng pháp vô ngã, chưa đắc lìa biến dịch sinh bất tư nghị. Lại nữa, kinh phu nhân nói: 1. A-la-hán; 2. Độc giác; 3. Bồ-tát đã đắc tự tại,

* Trang 663 *
device

thọ thân biến dịch.
“Tự tại” tức là địa thứ tám đắc tự tại ở tướng và cõi.
Lại nữa, kinh Lăng già quyển ba nói: Có ba loại ý sinh thân: Ý sinh thân do Tam muội lạc chánh thọ ý sinh thân do, giác tính tự tính pháp và Ý sinht hân do, chủng loại câu sinh vô hành tác. Thuộc địa thứ mười: Từ sơ địa đến địa thứ bảy thì đắc thân thứ nhất. Địa thứ tám thì đắc thân thứ hai, từ địa thứ chín đến địa thứ mười thì đắc thân thứ ba. Do đó mà nói: chỉ thẳng hướng đến Bồ-tát. Cả ba đoạn văn trên đều giống nhau. Thanh văn, Độc giác, cả hai kinh đều nói: Hàng Nhị thừa vô học, hồi tâm hướng đại thừa, địa tiền cũng đắc thọ sinh biến dịch huống nữa là chư Bồ-tát đã đạt địa thứ nhất.
Nói “vô lậu” ở đây là nói về nhân. Lậu là phiền não, khởi nhiều lỗi lầm không cùng tận. Trí này không có lậu đó, nên bảo là vô lậu.
“Sinh diệt”: Tuy căn bản trí, tự thể sinh diệt, nhưng chứng bất sinh, cho nên chẳng phải là nhân của biến dịch, chỉ sau khi đắc duyên pháp sinh diệt, có phân biệt, mới làm nhân của biến dịch. Luận Duy thức nói: nghĩa là các nghiệp vô lậu có phân biệt làm nhân. Ở trong ba cõi, các vô minh tập còn sót lại làm duyên. Chướng có hai loại: Bậc đắc biến dịch thì không có phiền não chướng, chỉ có sở tri chướng. Đó là sự sót lại của phiền não trong ba cõi. Sở tri chướng tức là vô minh. Kinh Phu Nhân nói: “vô minh trụ địa”. Ngài Từ Ân thì dịch là “vô minh tập địa, vì từ vô thủy đến nay do vô minh huân tập”. Luận Duy thức quyển tám nói: “Do duyên trợ lực của sở tri chướng nên làm duyên”. vô lậu làm nhân, sở tri chướng làm duyên chiêu cảm quả dị thục thù thắng vi tế.
“Biến dịch”: Đó là tên gọi. Biến: là cải đổi. Dịch là chuyển dịch. Chuyển đổi thân mệnh, gọi là biến dịch. Ở đây có ba tên gọi. Luận Duy thức nói: Do nguyện lực bi, chuyển đổi thân mệnh, không có hãn định, gọi là biến dịch hoặc gọi là ý thành thân, tức do nguyện lực bi, do ý nguyện mà thành. Còn gọi là Biến hóa thân , vì do lực vô lậu chuyển khiến trở nên khác xưa, như biến hóa.
“Quả báo”: Nghĩa là chư Bồ-tát, nương thân cõi Dục Sắc, tùy các giới, địa, khiến thân đó chuyển đổi, với dị thục vô ký vi tế, sáng, diệu, trong sáng nơi tính của năm uẩn. Chỉ vì thân tự loại và các cảnh của Bồ- tát ở vị sau tốt hơn, chẳng phải là cảnh kém, cho nên đâu cần chiêu cảm quả ác hữu lậu. Để nhằm tự chứng Bồ-đề, tạo lợi lạc cho người khác, nghĩa là: các Bồ-tát đã mãi mãi đoạn trừ, điều phục phiền não chướng, cho nên không chịu thọ nhận thân phần đoạn, sợ bị uổng phí nhiều thời

* Trang 664 *
device

gian tu hạnh Bồ-tát, bèn dùng nhân nguyện lực của định thù thắng vô lậu, như pháp kéo dài thọ mạng, hổ trợ hiện thân, khiến được dài lâu, cùng với quả không dứt. Như vậy, nguyện lực định trợ giúp, luôn luôn cho đến khi chứng đắc Bồ-đề vô thượng, đâu cần tác động của sở tri chướng? Do chưa viên chứng đại bi vô tướng, không chấp Bồ-đề, hữu tình là thật có, thì không do đâu phát khởi bi nguyện mãnh liệt. Lại nữa, vì sở tri chướng làm chướng ngại đại Bồ-đề, vì để đoạn trừ vĩnh viễn, cho nên lưu giữ lại thân mà trụ. Lại nữa, kinh Lăng-già nói: Tùy nhớ nghĩ về cảnh giới của bản nguyện, vì để thành thục cho chúng sanh, đắc tự giác về Thánh trí, do các nguyên nhân như vậy nên tạo mọi chiêu cảm. Dựa theo đó mà xét thì tính của biến dịch sinh tử là thuộc về quả dị thục hữu lậu; đối với nghiệp vô lậu là quả tăng thượng. Nếu có Thánh giáo nói là vì vô lậu xuất ba cõi tức tùy thuộc nhân hỗ trợ mà nói như thế. Như kinh Phật Đại nói: Có Tịnh độ vi diệu vượt ngoài ba cõi, Bồ- tát địa thứ mười nên sinh ở trong đó. Nói “cũng lại đều không”. Chẳng những phần đoạn sinh tử vì không có tự tính nên không, mà ngay cả sinh tử biến dịch không có tự tính này cũng là không.
Dưới đây là phần hai - Nêu Đẳng giác không
Kinh: Bồ-tát Đẳng giác, đắc định Kim cang, hai thứ nhân quả của sinh tử là không, Nhất-thiết-trí cũng không.
Giải thích: Bồ-tát Đẳng giác: là vị Đẳng giác ở sau Địa thứ mười.
Đắc định Kim cang, là định thú thắng sau cùng.
Hai thứ nhân quả của sinh tử là không: nghĩa là Bồ-tát đó do trị được hai chướng vi tế của hai loại sinh tử là phần đoạn và biến dịch.
Hỏi: Ở ngôi vị này mà có phần đoạn sinh tử sao?
Đáp: Do phiền não chủng làm nhân. Lại nữa, do vô lậu kéo dài phần đoạn uẩn mà thành là biến dịch. Lại nữa, vô minh căn bản từ gốc hướng ngọn, làm nhân.
“Nhất-thiết-trí” là trí của chủ thể đoạn. Chủ thể đoạn và đối tượng được đoạn kia đều không có tự tính, nên bảo là cũng không.
Tiếp theo là phần ba - Nêu Quả đức không.
Kinh: Phật vô thượng giác, chủng trí viên mãn, trạch phi trạch diệt, pháp giới chân tịnh tính tướng bình đẳng, ứng dụng cũng không.
Giải thích: “Phật vô thượng giác”: Tiếng Phạm gọi là Phật đà, nghĩa như trên đã nêu. Thù thắng không gì sánh nên gọi là Vô thượng giác. Đây là nêu chung.
“Chủng trí viên mãn”: Chủng tức là trí sự. Trí là trí lý tức là Trí và đức viên mãn.

* Trang 665 *
device

“Trạch phi trạch diệt”: Tức là trạch diệt và phi trạch diệt. Trạch tức là Tuệ tịnh, đoạn hoặc hiển bày “như”, gọi là trạch diệt. Duyên khuyết mà hiển bày như không do ở lực trạch diệt, gọi là phi trạch diệt, tức giải thoát viên mãn.
“Pháp giới chơn tịnh”: Chân là chơn như, pháp giới thanh tịnh, nhờ ở pháp thân viên mãn.
“Tính tướng bình đẳng”: Tính là chơn như, tướng là trí, đều đã viên mãn tột cùng tức là bình đẳng.
“Ứng dụng”: là đại bi cảm nhận dẫn đến thân ứng, hóa. Dụng mà thường tịch lặng, nhờ ứng hóa đủ đầy. Tất cả hằng sa công đức nơi ba thân ba đức mà Như Lai hiện có cũng đều là không.
Dưới đây là phần ba - Nói về thuyết giảng và nghe đều không.
Trong có hai phần: 1. Thuyết giảng và nghe không
Kinh: Này thiện nam! Nếu có người tu tập Bát-nhã Ba-la-mật đa, người thuyết giảng người nghe, thì ví như người ảo thuật, không có nói, không có nghe, pháp đồng pháp tính, giống như hư không.
Giải thích: “Nếu có người tu tập Bát-nhã...” nghĩa là: nếu nói nghe không có tướng của nói, nghe.
“Ví như...” là nêu dụ nói rõ.
Hai câu dụ cho nhân, hai câu dụ cho pháp.
“Ví như người ảo thuật”: là những người biến hóa giả tạo. Hoặc như người gỗ, chúng tuy là chuyển động, nhưng không có chủ tể. Quán thân như huyễn, tuy có nói nghe nhưng mất tướng nói nghe vì không phân biệt.
“Pháp đồng pháp tính, giống như hư không”: Chữ pháp ở trước là những pháp vốn có tỏ ngộ hiểu rõ lý sự. Đồng pháp tính, tức là chơn như. Ở chỗ ngộ hiểu, tinh tấn tu hành, hiểu rõ tướng tức là tính, giống như hư không.
Kế tiếp là phần hai - Kết về nhân, pháp không
Kinh: Tất cả pháp đều như.
Giải thích: Nếu có phân biệt thì thấy nhân và pháp khác nhau mà trụ. Nếu không phân biệt thì tất cả pháp đều như.
Dưới đây là đoạn văn lớn thứ ba: Tổng kết về phần Hộ trì quả.
Kinh: Đại vương! Bồ-tát Ma-ha-tát hộ trì quả Phật là như vậy.
Giải thích: Như trên đã nói, hỏi đáp chung và riêng, rộng nói về tu hành tướng không phân biệt, hộ trì quả Phật là làm như vậy.
Tóm lại, phần hỏi đáp riêng đã xong.
Tiếp theo là đoạn văn thứ ba - Hỏi thẳng đáp thẳng.

* Trang 666 *
device

Trong đó chia làm ba phần: 1. Như Lai nêu hỏi; 2. Vua Ba-tư-nặc đáp; 3. Như Lai ấn kết.
Đây là phần một - Như Lai nêu hỏi,
Kinh: Bấy giờ,đức Thế Tôn bảo Vua Ba-tư-nặc, ông dùng tướng gì mà quán Như lai.
Giải thích: Trên đã nói rõ quả đức Bát-nhã. Ý hỏi ở đây Như Lai tức tướng mà quán tính. Lại nữa, lúc ấy, đại chúng tuy nghe thuyết giảng về thắng không, nhưng chưa hiểu về vong tướng, vì vậy Phật nêu hỏi khiến chánh quán.
“Ông dùng tướng gì” Lấy tướng hữu vi hay là lấy tướng vô vi để Quán Như Lai.
Tiếp theo là phần hai - Vua Ba-tư-nặc đáp:
Trong đó chia làm ba phần: 1. Nói thẳng thật tướng; 2. Dựa theo pháp nói chit ếit; 3. Kết về quán Như Lai.
Đây là phần một - Nói thẳng thật tướng.
Kinh: Vua Ba-tư-nặc thưa: Quán thật tướng thân, quán Phật cũng vậy.
Giải thích: Thế Tôn trước tiên là hỏi về quán Như lai. Vua Ba-tư-nặc lại đáp về quán thật tướng của thân. Hỏi và đáp khác nhau, vì có bốn nghĩa: 1. Khiến cho người quán tỏ ngộ nhân biết rõ quả, quán thật tướng của mình giống với Như Lai, vì pháp thân cùng một; 2. Khiến cho người quán rõ ngộ quả biết rõ nhân. Pháp thân của Như Lai cùng một thể với chính mình, chỉ cần chứng lý viên mãn thì thành Phật; 3. Khiến người quán tỏ ngộ nhân và quả là đồng. Ở chỗ tự thân có đủ hằng sa công đức của Như Lai tương ứng với chí cầu; 4. Khiến người quán tỏ ngộ, nhân và quả là đồng, tu hai lợi đều không trụ nơi tướng, tức là chứng thật tướng bình đẳng nơi các pháp. Vì đủ các nghĩa ấy nên nêu về tự thân.
“Thật tướng”: là chân thật vô tướng, gọi là thật tướng.
“Quán Phật”: Phật có ba thân: 1. Quán hóa thân, quyền ứng thị hiện; 2. Quán Báo thân, năm uẩn chơn thường; 3. Quán Pháp thân, hiển do hai không. Pháp thân chơn thường là đối tượng quán ở đây, hóa tức là pháp. Nhưng văn kinh này phần sau nói chút ít khác với phẩm Kim cang thân và phẩm Phạm hạnh trong kinh Niết-bàn, văn niệm Phật, tán thán Pháp thân trong Kinh vô lượng nghĩa, Phẩm A-súc Phật trong kinh Duy-ma-cật, phẩm quán như lai trong kinh vô cấu xứng.
“Cũng vậy”: là quán tự thật tướng cũng giống như pháp thân Phật, cho nên bảo là cũng vậy.

* Trang 667 *
device

Sau đây là phần hai - Dựa theo pháp nói chi tiết riêng. Trong đó có sáu mươi lăm câu, chia làm năm loại: 1. Dựa theo sắc tâm, văn có tám đối; 2. Dựa theo sự tướng, văn có tám đối; 3. Dựa theo cấu tịnh, văn có sáu đối; 4. Dựa theo tri kiến, văn có mười đối; 5. Dựa theo bỏ, nêu, văn có hai đối. Chung và riêng khác nhau có ba mươi ba đối.
Phần một - Dựa theo sắc tướng, gồm tám đối. Đây là phần một- Ba tế đều không.
Kinh: Không có tế trước, không có tế giữa.
Giải thích: Tế là bờ mé biên vực nghĩa là pháp hữu vi bị rơi vào ba đời. Có hai loại ba đời: 1. Ba đời lưu chuyển: Đã qua đi gọi là về trước, như ngày hôm qua, hôm kia. Chưa đến gọi là về sau như ngày mai, ngày mốt; 2. Ba đời pháp hành: chưa đến gọi là trước, phía trước, như nói tiền lộ, con đường phía trước. Đã đi qua gọi là sau, như nói: qua sáu. Pháp thuộc sắc tâm, tướng tự dời đổi, thành ra ba đời, thật tướng vô vi, không có trước, sau, giữa, nên bảo là vô tế.
Tiếp theo là phần hai - Ba tế tức lìa.
Kinh: Chẳng trụ ba tế, chẳng lìa ba tế.
Giải thích: Trên đã nói thể của vô vi không có ba tế. Ở đây nói vô vi không trụ nơi ba tế, tuy pháp vô vi có tự tính trụ, nhưng trong đó có sự khác nhau là trụ và chẳng trụ. nghĩa là: do tính của thật tướng tự nó là rỗng lặng, tịch tĩnh, không thể nói là trụ ở đây hay trụ ở kia, nên bảo là chẳng trụ. Hiện bày khắp tất cả pháp, nên không thể nói là lìa, thể chẳng phải là trụ lìa, mà được gọi là trụ lìa. Nếu nhất định trụ thì lìa tức không thể cùng thời. Các đoạn văn sau cũng theo với lý đó mà hiểu.
Dưới đây là phần ba - Năm uẩn tức lìa.
Kinh: Chẳng trụ năm uẩn, chẳng lìa năm uẩn.
Giải thích: Năm uẩn sắc tâm: nghĩa là tích tụ. Thật tướng chẳng phải tụ nên bảo là chẳng trụ. Hiện bày khắp sắc tâm, cho nên bảo là chẳng lìa.
Kế tiếp là phần bốn - Bốn đại tức lìa.
Kinh: Chẳng trụ bốn đại, chẳng lìa bốn đại.
Giải thích: Bốn đại, là địa, thủy, hỏa, phong. nghĩa là: cứng, ướt v.v... đến phần sau sẽ nêu đủ. Một khi khởi ắt đều có, xứ vô sắc thì không. Thật tướng chẳng phải là những thứ đó, nên bảo là chẳng trụ. Thể hiện bày khắp cả bốn đại, cho nên bảo là chẳng lìa.
Sau đây là phần 5 - Sáu xứ tức lìa.
Kinh: Chẳng trụ sáu xứ - chẳng lìa sáu xứ
Giải thích: Sáu xứ: là sáu xứ nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý. Năm xứ

* Trang 668 *
device

trước là sắc. Như luận Câu xá nói: “Thân căn chín sự, mười sự là các căn khác, ý xứ thứ sáu, là tâm pháp” đều là những môn xứ do tâm, tâm sở sinh ra. Thật tướng chẳng phải là những thứ đó, nên bảo là chẳng trụ. Thể thì hiện khắp cả sáu xứ, nên bảo là chẳng lìa.
Kế đến là phần sáu: Hợp ba đối nói.
Kinh: Chẳng trụ ba cõi, chẳng lìa ba cõi. Chẳng trụ phương, chẳng lìa phương, minh và vô minh bình đẳng.
Giải thích: Đối thứ sáu là ba cõi tức lìa. Thể của thật tướng chẳng phải là nghiệp quả của sinh tử, nên chẳng trụ. Ba cõi, thể ở khắp những thứ kia, nên bảo là chẳng lìa.
Đối thứ bảy là: mười phương tức lìa. Nói phương là đựa theo sắc mà lập. Mặt trời mọc ở phương Đông, lặn ở phương Tây, đúng ngọ là Nam, nửa đêm là bắc, bốn góc của phương là bốn hướng, trên và dưới, thành ra mười phương. Lại nữa, trên một hạt bụi đều có phương. Nay ở đây nói về trụ và lìa. Có hai giải thích: 1. Môn dứt bỏ tướng: Không có xứ nào có thể trụ, cho nên bảo là chẳng trụ phương. Không có chấp nào có thể xa lìa, nên bảo là chẳng lìa; 2. Môn Hiển đức: Thật tướng thì luôn vượt quá hữu, nên bảo là chẳng trụ phương. Dụng thì hiện bày khắp cả pháp giới, nên bảo là chẳng lìa phương.
Đối thứ tám là: Sáng tối tức lìa. Về minh và vô minh thì có hai Giải thích: 1. Dựa theo sắc mà nói, thì ngày và đêm khác nhau. Lại thể có ánh sáng và thể không có ánh sáng nên sáng và tối khác nhau. Thật tướng thì chẳng sáng chẳng tối; 2. Dựa theo tâm mà nói: tịnh tuệ vô lậu, gọi đó là minh. Hữu lậu mê tối, gọi đó là vô minh. Thật tướng thì chẳng phải là tâm, chẳng phải là sáng tối.
“Đẳng”: là chẳng trụ chẳng lìa.
Dưới đây là phần hai - Dựa theo sự tướng mà nói. Văn có tám đối, trong đó chia làm hai phần. Bốn đối đầu là cùng phủ định để nói rõ.
Kinh: Chẳng phải một chẳng phải khác. Chẳng phải đây, chẳng phải kia. Chẳng phải tịnh, chẳng phải uế. Chẳng phải hữu vi, chẳng phải vô vi.
Giải thích:
1. Đối nhất, dị (chung một, riêng khác) có hai nghĩa:
a. Môn lìa tướng: không bị hữu câu thúc, nên bảo là chẳng phải một. Thể hiện khắp cả có không đều, nên bảo là chẳng phải khác.
b. Môn hiển đức: Thể đủ vạn đức, cho nên bảo là chẳng phải một. Vạn đức đều như, cho nên bảo là chẳng phải khác. Do vậy mà nói là chẳng phải một chẳng phải khác.

* Trang 669 *
device

2. Đối thử, bỉ (đây, kia). Nói đây và kia là: Đây là sinh tử, kialà Niết-bàn. Sinh tử và Niết-bàn, là mê và ngộ đối đãi, lìa ngôn tuyệt đãi, xưa nay bình đẳng, thì đâu là đây, kia. Lại vật đây kia là nương nơi sắc xứ mà thuyết. Như chẳng phải tức, lìa, chẳng phải đây, kia.
3. Đối tịnh, uế: Tịnh uế, nghĩa có hai giải thích:
Dựa theo sắc mà xét. Tịnh độ là chỗ ở của tất cả Thánh chúng. Uế độ là chỗ ở của tất cả phàm ngu. Lại nữa, Thánh và phàm, tịnh và uế, thật tướng không phải sắc, nên không phải tịnh uế.
Dựa theo tâm mà xét, các tuệ vô lậu, gọi là tịnh. Khách trần phiền não, gọi là uế. Thật tướng thì chẳng phải tâm, cho nên chẳng phải tịnh uế. Do vậy mà bảo là chẳng phải  tịnh uế.
4. Đối vi và vô vi: Chẳng phải hữu vi là các pháp hữu vi, niệm niệm dời đổi. Thật tướng thì vắng lặng, cho nên chẳng phải hữu vi, chẳng phải vô vi: Nhưng thật tướng đó tức chơn vô vi, vì để ngăn chặn sự chấp giữ nên bảo là “chẳng phải”.
Tiếp đến là phần hai - bốn đối sau, dùng “Cùng không có” để nói rõ.
Kinh: Không có tự tướng, không có tha tướng. Không có danh, không có tướng. Không có mạnh không có yếu, không có chỉi bảo, không có diễn thuyết.
Giải thích:
1. Đối không có tự tha. Nói tự tha là dựa theo sắc tâm mà lập, hình đối đãi nhau. Đối tha nói tự, đối tự nói là tha. Thật tướng thì dứt đối đãi nên không có tự tha.
2. Đối không có danh tướng. Danh là năng thuyên (vật chủ diễn bày) tướng là sở thuyên (vật bị diễn bày), thông cả có không đều. Thật tướng thì chẳng phải là những thứ đó, vì nó không có danh tướng.
3. Đối không có mạnh, yếu: Nói cường nhược (mạnh yếu) là các lực của sắc... dựa theo đối đãi với quán mà nói. Thật tướng chẳng phải những thứ đó, vì nó không có mạnh hay yếu.
4. Đối Không có chỉ bảo, diễn thuyết: Chỉ bảo và diễn thuyết là vì có tướng mới có thể chỉ bày, có danh mới có thể diễn nói. Thật tướng thì không có tướng, nên không thể chỉ bày. không có danh, nên không thể diễn nói.
Dưới đây là phần ba. Dựa theo sự nhơ sạch nói rõ. Văn có sáu đối.
Kinh: Chẳng phải Bố thí, chẳng phải bỏn xẻn. Chẳng phải giới, chẳng phải phạm. Chẳng phải nhẫn, chẳng phải sân. Chẳng phải tinh

* Trang 670 *
device

tấn chẳng phải lười biếng. Chẳng phải định, chẳng phải loạn. Chẳng phải trí chẳng phải ngu.
Giải thích: Đây là dùng hạnh sáu độ, đối lại với sáu tệ cấu. Quán thiện ác đối đãi, có Bố thí và keo xẻn. v.v... Thật tướng thì dứt tuyệt mọi đối đãi, vì chẳng phải là những thứ đó.
Tiếp theo là phần bốn - Dựa theo tri kiến nói rõ. Văn có mười đối, trong đó chia làm hai phần một. Có sáu đôi dựa theo tướng nói rõ.
Kinh: Chẳng phải lai phi khứ, chẳng phải nhập phi xuất, phi phước điền chẳng phải không phước điền, chẳng phải tướng chẳng phải vô tướng, chẳng phải thủ phi xả, chẳng phải đại phi tiểu.
Giải thích:
1. Đối lai và khứ: Các pháp thì có động, có đến có đi. Thật tướng thì chẳng động, vì không có đến, đi.
2. Đối xuất và nhập: Mê thì nhập sinh tử, ngộ thì xuất sinh tử, cho nên có nhập có xuất. Lại nữa, pháp vãng lai (qua lại) có sự nhập xuất. Thật tướng thì tịch nhiên, vì chẳng nhập chẳng xuất.
3. Đối phước điền không hước điền: Điền có bốn loại như luận Bà-sa đã nói: hướng đến, khổ tạo ân đức sinh trưởng phước. Thật tướng thì chẳng phải hữu, cho nên chẳng phải phước điền. Thật tướng chẳng phải không, cho nên chẳng phải không phước điền. Lại nữa, vì tính không nên chẳng phải phước điền, vì đủ các đức, nên chẳng phải không phước điền.
4. Đối chẳng phải tướng, vô tướng: Thật tướng thường tịch , cho nên chẳng phải hữu tướng. Diệu dụng tùy duyên, cho nên chẳng phải vô tướng.
5. Đối chẳng phải thủ xả: Pháp hữu vi có thể thủ, có thể xả. Thật tướng vô vi thì phi thủ xả.
6. Đối chẳng phải đại, tiểu: pháp có hình chất có thể định được lớn nhỏ. Thật tướng của nó không có hình chất nên chẳng phải đại, tiểu.
Tiếp đến phần hai - Dựa theo cảnh nói rõ. Có bốn đối:
Kinh: Chẳng phải thấy, chẳng phải nghe, chẳng phải nhận biết, chẳng phải hiểu biết.
Giải thích: Thật tướng thì chẳng phải sắc, cho nên chẳng phải thấy. Phi thanh cho nên chẳng phải nghe. Phi hương, vị, xúc cho nên chẳng phải nhận biết. Chẳng phải pháp trần, cho nên chẳng phải hiểu biết.
Tiếp theo là phần 5 - Văn có hai đối. Dựa theo nêu, bỏ mà tỏ bày.

* Trang 671 *
device

Kinh: Tâm hành xứ diệt - Ngôn ngữ đạo đoạn, đồng chơn tế, đẳng pháp tính.
Giải thích: Tâm hành xứ diệt - là tâm duyên lự dứt.
Ngôn ngữ đạo đoạn: là ngôn thuyết chẳng thể diễn bàn.
Đồng chơn tế, đẳng pháp tính: nghĩa là Vua Ba-tư-nặc quán thật tướng thân, thể giống với chơn tế, lượng ngang với pháp tính. Thế nhưng các hữu tình từ vô thủy đến nay vì ngã pháp điên đảo, vì lực huân tập mà tự tha sai biệt, do vì nghiệp lực mà hình hài bị chiêu cảm ở sáu đường khác nhau. Xét về thật tướng thì đồng với chơn tế, ngang với pháp tính.
Dưới đây là Phần ba - Kết về quán Như Lai
Kinh: Con dùng tướng mà quán Như Lai.
Giải thích: Vua Ba-tư-nặc nói: Con dùng những tướng đã nói trên để quán Như Lai.
Phần trên là phần trả lời thẳng, đã xong.
Tiếp đến là phần ba - Như Lai ấn kết. Trong đó chia làm hai. 1. Ấn chứng những lời đã nói.
Kinh: Phật bảo: Này thiện nam! Như ông đã nói, các lực vô úy các pháp bất cộng... hằng hà sa công đức của chư Như Lai đều là như vậy. Giải thích: Này thiện nam! Như ông đã nói: Tức không chỉ thật tướng mà thật sự chư Phật chứng trí bình đẳng, toàn bộ mười lực, bốn vô úy, hằng hà sa công đức, các pháp bất cộng v.v… như ông nói, đều là như vậy.
Sau đây là phần hai - Biện minh quán chánh tà.
Kinh: Người tu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, phải quán như vậy, nếu quán khác đây, gọi là quán tà.
Giải thích: Người tu Bát-nhã phải quán như vậy.
“Tha quán”( quán khác): ở đoạn văn trên, chỉ nghiêng lệch giữ lấy một vế tức chẳng phải chánh quán, đều gọi là khác, là quán tà.
Đoạn văn lớn thứ ba nêu nghe pháp được lợi ích.
Kinh: Khi thuyết giảng pháp ấy, vô lượng đại chúng, đắc pháp nhãn thanh tịnh.
Giải thích: Đức Phật trả lời vua, thuyết giảng về hộ trì quả Phật, vô lượng đại chúng nghe pháp đắc pháp nhãn thanh tịnh.
Pháp nhãn tịnh: là tuệ vô lậu. Nếu chứng ngã không, tức là Sơ quả. Người chứng pháp không, tức là Địa thứ nhất.
 
---------------------

* Trang 672 *
device

PHẨM THỨ BA: BỒ-TÁT HẠNH
 
Giải thích phẩm này, văn chia làm ba: 1. Biện minh ý nối tiếp. nghĩa là: Hai vấn đề được nêu ở đầu phẩm trước, thì phần một trình bày về quả đức của phẩm trước đã nói xong. Tiếp sẽ biện minh về nhân thù thắng đầy đủ ở đây. Khiến người tu hành, quán quả tu nhân, vui nguyện tiến tu, nên có phẩm này; 2. Giải thích tên phẩm; Bồ-tát là như phẩm Tự đã nói. Hạnh là khởi bi trí, tu hạnh nhị lợi (tự lợi lợi tha) là đạo vô trụ. Cách dịch cũ là “giáo hóa” là căn cứ theo môn lợi tha. Đạt được tâm bi đồng thể, thì lợi tha tức là tự lợi, cũng không nhau gì sai; 3. Chia văn giải thích, trong đó phân làm ba phần:
Vua Ba-tư-nặc.
Như Lai chánh đáp.
Nghe pháp được ích .
Đây là phần một - Vua Ba-tư-nặc hỏi - nghĩa đó là sao?
Kinh: Bấy giờ, Vua Ba-tư-nặc bạch Phật: Thế Tôn! Hộ trì hạnh thập địa, Bồ-tát Ma-ha-tát phải tu hành như thế nào? Làm sao giáo hóa chúng sanh? Lại dùng tướng gì mà trụ để quán sát?
Giải thích: Hộ hạnh thập địa: là nhắc lại câu hỏi trước.
Bồ-tát Ma-ha-tát: là nói về người năng chủ hộ trì, (chủ thể) cả người chưa tu và người đã tu.
“Phải tu hành...” là chánh nói về ba câu hỏi.
Ý hỏi: người phát khởi tu đại thừa thì tu hành như thế nào? Nếu người tu hành thì làm sao để hóa độ tạo lợi? Hoặc tu hoặc hóa thì làm thế nào quán sát được lìa chướng, đạt đến quả đức viên mãn? Chính là để mong cầu quả đức vô thượng nên từ đầu đến cuối, chủng tánh không bị đoạn, mà nêu ba câu hỏi, không tăng không bớt. Ba câu hỏi này, là ba loại diệu quán của người phát tâm cầu Bồ-đề. Chán lìa hữu vi, vui cầu Bồ-đề, thương xót hữu tình. Ba loại tâm này theo thứ lớp sinh khởi, là đoạn, tu, hóa lợi. Lấy sau làm trước nên cũng được gọi là ba tụ tịnh giới: nhiếp thiện pháp giới, nhiếp chúng sinh giới, nhiếp luật nghi giới. Theo thứ lớp của trị đoạn, thì tu hành hóa lợi, lìa xa các chướng. Thuận theo ba câu hỏi, tức là nhân của ba đức Trí, Ân, Đoạn. Như thứ tự, có thể chứng đắc được quả Báo, hóa, Pháp thân cứu cánh.
Dưới đây là phần hai - Phật đáp riêng từng phần; gồm ba: 1. Đáp về tu hành; 2. Đáp về hóa độ chúng sinh; 3. Đáp về quán sát.
Trong phần một, đáp về tu hành. Văn chia làm hai: 1. Lược nói năm nhẫn; 2. Rộng nói năm nhẫn. Trong phần lược nói, văn lại chia

* Trang 673 *
device

làm ba:
1. Nêu chung về năm nhẫn.
Kinh: Phật nói: Đại vương! Chư Bồ-tát Ma-ha-tát nương vào pháp năm nhẫn để tu hành.
Giải thích: Đó là nêu chung. Dưới đây là phần hai - Liệt về năm nhẫn.
Kinh: Đó là Phục nhẫn, Tín nhẫn, Thuận nhẫn, vô sinh nhẫn, mỗi nhẫn đều có thượng, trung, hạ, còn Tịch diệt nhẫn chỉ có thượng và hạ. Giải thích: Nhẫn nghĩa là chấp nhận nhẫn chịu. Lấy tuệ làm  thể, tương ứng với trợ bạn đủ tính năm uẩn.
Phục nhẫn: Phục là chiết phục. Ở ngôi vị Tam hiền, chưa tự mình chứng được lý, nương theo lực thắng giải mà tu chánh quán, cả hai môn phước và trí, tự lợi lợi tha đều chưa mất tướng. Phân biệt hai chướng khiến cho không khởi hiện hành. hai tùy miên Thủ đã điều phục nhưng chưa đoạn dứt, nên gọi là Phục nhẫn. Tức nhẫn của nhẫn, nhẫn có phục ấy. Với ba nghĩa trên mà được tên, tức là Tương tự giác trong luận Khởi Tín nói.
Tín nhẫn: Tín là chứng tín, Sơ địa, hai địa, ba địa gọi là Tín nhẫn.
Thuận là thuận hướng, thuận hướng vô sinh. Địa thứ năm, địa thứ sáu, gọi là Thuận nhẫn.
Vô sinh: gọi là “Như” Địa thứ bảy, địa thứ tám, địa thứ chín tuệ thường chiếu lý, gọi là vô sinh nhẫn.
Tịch diệt tức “Như”. Địa thứ mười, Phật địa, chiếu tịch, tịch chiếu, gọi là tịch diệt nhẫn.
Vì đại quả khó chiêu cảm, nên phải trải qua năm nhẫn, vì vạn hạnh khó đủ nên lần lượt mà tu. Từ nhân đến quả, tổng cộng mười bốn nhẫn.
Nhưng bàn về năm nhẫn này, thì Kinh Luận nói khác nhau:
Như Kinh Bản Nghiệp Anh lạc lược chia làm sáu tính: 1. Tập chủng tính: tức là thập trụ; 2. Tính chủng tính: tức là thập hạnh; 3. Đạo chủng tính tức là mười hồi hướng; 4. Thánh chủng tính tức là địa thứ mười; 5. Đẳng giác tính là tâm Kim cang tâm; 6. Diệu giác tính là địa Như Lai. Còn gọi là sáu tuệ: văn tuệ, tư tuệ, tu tuệ, vô tướng tuệ, tịch chiếu tuệ, tuệ tịch chiếu, như theo thứ tự của sáu tính. Với sáu sinh kia đủ nêu rõ bốn mươi hai quả vị Hiền Thánh. Tuy năm nhẫn ở kinh này khác với số kê về sáu tính ở kinh kia, nhưng hai tính sau của kinh kia kết hợp là Tịch diệt nhẫn của kinh này thì nghĩa không gì sai.
Lại nữa, Luận Du-già quyển bốn mươi bảy nói về mười ba trụ:

* Trang 674 *
device

1. Chủng tính trụ: tức là bản tính trụ chủng tính, chưa nhập tăng kỳ, tức giống với vị thập thiện của kinh này. Luận kia nói: nghĩa là tính của chư Bồ-tát vốn tự nhân hiền, tự thành tựu công đức của Bồ-tát. Bồ- tát ứng hợp với nhiều pháp thiện, cũng hiển hiện do tính nhân hiền, gấp tạo phương tiện, khiến chuyển ở thiện, chẳng do xét chọn, có chỗ chế ước, có chỗ phòng giữ. Trụ trong trụ này thì trụ giữ tất cả chủng tử Phật pháp. Ở trong tự thể, đã có đầy đủ tất cả Phật pháp, tất cả chủng tử, Không thể hiện khởi phiền não thượng phẩm trói buộc, tạo nghiệp vô gián, hoặc đoạn thiện căn. Nói chi tiết như trong Luận kia.
2. Thắng giải hạnh trụ: Tức giống với ba phẩm của phục nhẫn ở kinh này. Luận ấy nói: chư Bồ-tát từ mới phát tâm cho đến chưa đắc ý lạc thanh tịnh, toàn bộ tất cả các hành Bồ-tát, nên biết đều gọi là Thắng giải hạnh trụ. Ở trong trụ này, hiện bày khắp ở tất cả Bồ-tát trụ còn lại và Như Lai trụ, đều gọi là phát khởi hướng đến (Phát thú). Trong trụ trước, tuy tu các thiện, vì tính nhân hiền, nhưng những điều mình đã làm đều chẳng phải là Bồ-đề, cố ý mà làm, chưa được gọi là phát khởi hướng tới, không nhập tăng kỳ. Còn những thứ tu ở trụ này đều gọi là phát khởi hướng tới. Nhưng trong trụ này, bằng lực tư trạch gia hạnh thực hành mạnh hơn, vì tu tuệ chưa đắc kiên cố, tương tục không thối chuyển. Pháp sư Từ Ân nói: Đó là nói chưa đạt. Tu tuệ vô lậu, không phải nói trụ này không đạt tu tuệ hữu lậu. Hoặc đó là nói về khi mới phát tâm. Bồ-tát mười tín, tám tướng thành đạo, chưa vượt quá năm thứ sợ hãi, những tu tuệ vốn có chưa kiên cố. Lại nữa, ở trong ba xứ quên mất chánh niệm.
Ở cảnh giới vừa ý hay không vừa ý, sáu cảnh như sắc v.v... tâm bị điên đảo, quên mất chánh niệm.
Ở trong những thân thọ sinh, đã thọ sinh rồi thì quên mất những chuyện kiếp trước.
Với các pháp đã thọ trì, quên mất những điều đã làm, đã nói trước đây. Hoặc ở một thời nào đó, đầy đủ trí tuệ minh mẫn, vì người khác mà thuyết pháp, cố gắng mà chuyển, như bắn tên ở trong bóng tối hoặc trúng hoặc không trúng. Hoặc ở một thời, với đại Bồ-đề, tuy đã phát tâm nhưng lại thối bỏ. Hoặc có lúc dứt bỏ những luật nghi tịnh giới mà mình đã thọ học, không thể thọ học. Hoặc có lúc xả bỏ việc làm lợi lạc cho hữu tình sinh ra nhàm chán việc làm lợi ích an lạc chưa được rộng lớn. Ở trong những thứ chư Bồ-tát học, chưa thể học hết. Đối với những tướng của Bồ-tát, đều chưa thành tựu, chưa thể hiện bình đẳng trong những gia hạnh chân chính của hai loại Bồ-tát xuất gia và tại

* Trang 675 *
device

gia. Những tướng trạng của các hành đã nói ở đây, khi hạ nhẫn chuyển sang các hành thượng phẩm, khi trung nhẫn chuyển thì các hành ở trung phẩm, khi thượng phẩm chuyển thì các hành ở hạ phẩm, mà mỏng nhẹ dần. Lúc nhập Sơ địa thì tất cả những tướng này đều không có.
3. Cực hoan hỷ trụ: còn gọi là Tịnh thắng ý lạc trụ, tức là tín nhẫn bậc hạ của kinh này.
4. Tăng thượng giới trụ: Tức là tín nhẫn trung phẩm.
5. Tăng thượng tâm trụ: Tức là tín nhẫn thượng phẩm.
6. Giác phẩm tương ưng tăng thượng tuệ trụ: Tức là thuận nhẫn hạ phẩm.
7. Các đế tương ưng tăng thượng tuệ trụ: Tức là thuận nhẫn trung phẩm.
8. Duyên khởi lưu chuyển chỉ tức tương ưng tăng thượng tuệ trụ: Tức là thuận nhẫn thượng phẩm.
9. Vô tướng hữu công dụng trụ: Tức là vô sinh nhẫn hạ phẩm.
10. Vô tướng vô công dụng tru: Tức là vô sinh nhẫn trung phẩm.
11. Vô ngại giải trụ: Tức là vô sinh nhẫn thượng phẩm.
12. Tối thượng thành mãn Bồ-tát trụ: Tức là tịch diệt nhẫn hạ phẩm.
13. Tối cực Như Lai trụ: Tức là tịnh diệt nhẫn thượng phẩm.
Tuy mười ba trụ so với mười bốn nhẫn, là thiếu một àm lại rộng. Vì chủng tính trụ thứ nhất, không gồm thâu nhẫn. Giống với tụng sau của kinh này nói vị thập thiện. Nếu lấy vị Thập thiện làm phương tiện nhẫn thì con số của luận kia so với kinh này là tương đương. Luận Nhiếp Đại Thừa thì từ mười Tín cho đến Phật địa gồm có ba mươi bốn nhẫn. Địa tiền có ba nhẫn, trong địa thứ mười, mỗi địa có ba nhẫn thành ba mươi nhẫn, Phật địa có một nhẫn, thành ra là ba mươi bốn nhẫn. Lại nữa, Ngài Chân đế chú thích: năm nhẫn này, mỗi nhẫn trị ba chướng. Luận Du-già quyển bảy mươi chín nói là địa thứ bảy. Luận Duy thức thì nói là: Năm vị tu tập, đều cùng thuộc về năm nhẫn trong kinh này. Người giảng xin nêu ra như vậy.
Hỏi: Kinh liệt kê các nhẫn nói là thượng, trung, hạ. Thuận lý thì phải nói là hạ, trung, thượng, vì sao không theo thứ tự như thế?
Đáp: Căn cứ theo chủ thể hành hạnh thì lý thật phải vậy, nhưng nếu dựa theo chướng để đối trị thì cũng không trái với lý.
Tiếp sau là phần ba. Kết luận, chỉ bày tu hành.
Kinh: Gọi là Bồ-tát tu hành Bát-nhã Ba-la-mật đa
Giải thích: Là phần kết.

* Trang 676 *
device

Sau đây là phần hai - Nói rộng về năm nhẫn, trong đó chia làm hai: 1. Rộng nói về năm nhẫn; 2. Kết luận, tu các nhẫn.
Nói rộng về năm nhẫn, văn lại chia làm năm:
1. Nói về Phục nhẫn, trong đó chia làm ba phần:
Tập chủng tính.
Tính chủng tính.
Đạo chủng tính.
Trong phần một - Tập chủng tính, chia làm ba:
Nêu vị - Biện minh tướng.
Chánh giải tu hành.
Kết làm Thánh thai.
Đây là phần một - Nêu vị biện minh tướng
Kinh: Này thiện nam! Thứ nhất là vị Phục nhẫn, khởi tập chủng tính, tu hạnh Thập trụ.
Giải thích: “Vị Phục nhẫn”: Trong năm nhẫn, Phục nhẫn xếp thứ nhất. Bên trong phục nhẫn, là vị đầu tiên trong ba phẩm, bắt đầu nhập vào Tăng kỳ, nên gọi là “thứ nhất”. “Phục” nghĩa là chiết phục, “nhẫn” nghĩa như trên. “vị” là ngôi vị, vị thứ. Đây là hạ nhẫn.
“Khởi tập chủng tính”: Khởi là sinh khởi, vượt qua thập thiện trước đó, nhập vào vị nhẫn. Tập là tu tập. “chủng tính” là tương ưng thuận lý, làm nhân thù thắng cho về sau này, nên được gọi là “chủng” do hiện chủng huân tập, tập thành tính.
“Tu hạnh thập trụ”: Kinh này chỉ lược nêu không liệt kê các tên gọi của thập trụ. Như kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập trụ nói; là Phát tâm trụ, Trị địa trụ, Tu hành trụ, Sinh quý trụ, Cụ túc phương tiện trụ, Chánh tâm trụ, Bất thối trụ, Đồng chơn trụ, Vương tử trụ, Quán đảnh trụ. Về hành tướng của trụ thì đến đoạn sau sẽ nêu rõ.
Kế tiếp là phần hai - Chánh giải tu hành, trong đó có bốn:
1. Tướng Phát tâm:
Kinh: Một là Tướng phát tâm, có hằng hà sa chúng sanh thấy Phật Pháp Tăng.
Giải thích: “Một là tướng phát tâm”: Ngài Tam Tạng Trương Nhĩ nói: Thứ nhất là tập chủng tính có ba tướng phát tâm: 1. Phát tưởng giả; 2. Phát tưởng khinh; 3. Tín tưởng phát.
Phát tưởng giả: Nhờ ba loại lực: 1. Thiện hữu lực: là thiện tri thức; 2. Hạnh lực: là thọ luật nghi; 3. Pháp lực: là hai nhân chung và riêng. Chung là Như Lai tạng. Biệt là năm căn như Tín... nhờ ba lực đó, ở Bồ-đề Phật, giả khởi tưởng Bồ-đề, để cầu tự an và an cho các hữu tình.

* Trang 677 *
device

Giống như các Thanh văn quán các thứ chẳng phải màu xanh, giả khởi tưởng màu xanh nên có thể chế phục được hoặc. Đây cũng vậy nên gọi là phát tưởng giả. Từ đó về sau, những tưởng tiếp theo, tu tập không ngừng, nghĩa còn khó biết, ví như sợi lông nhẹ, không vướng mắc vào đâu, gọi là phát tưởng khinh. Tiếp tục, những tâm sau này, ngọc tín hiển hiện, gọi là tín tưởng phát, đắc nhập mười tín, gọi là Tướng phát tâm.
“Có hằng hà sa chúng sanh”: Đây là nói về số người phát tâm tuy nhiều, nhưng người đạt đến bất thối, nhập vào vị nhẫn thì con số rất ít. Ví như trứng cá và hoa của cây Am La, cả hai thứ đó tuy số rất nhiều nhưng kết thành cá con và trái thì rất ít.
“Thấy Phật Pháp Tăng”: là nói về duyên phát tâm, hoặc lại nghe thuyết về tam bảo nhất thể, tự tính thường trụ, hoặc thấy biệt tướng của trụ trì Tam bảo, do lực chỉ dạy, ở trong Tam bảo, phát khởi vô thượng, tưởng phước điền, tốt đẹp sinh tin chắc, nhập vào mười tín.
Tiếp sau là phần hai - Nói về tâm mười tín:
Kinh: Phát khởi mười tín, là tâm tín, tâm niệm, tâm tinh tiến, tâm tuệ, tâm định, tâm bất thối, tâm giới, tâm nguyện, tâm hộ pháp, tâm hồi hướng, tức đủ mười tâm đó.
Giải thích: Câu đầu là nêu chung:
Tâm Tín: là trong lắng làm tính, khéo thuận Tam bảo, lìa bất tín.
Tâm Niệm: là tính ghi nhớ rõ, khiến cho tâm chẳng đoạn, lìa sự quên niệm.
Tâm Tinh tiến: cả ba nghiệp đều cố gắng, đều khiến bất thối, lìa biếng nhác.
Tâm Tuệ: là lựa chọn làm tính, khiến tâm trị đoạn lìa ác kiến. Tâm Định: là chuyên chú làm tính, khiến tâm chẳng động, lìa tán loạn.
Năm tâm trên tức là năm căn, sinh ra tất cả các công đức, cũng tức là năm lực, không bị tất cả những chướng ngại mình đối trị làm khuất động.
Tâm Bất thối: khiến cho năm căn lực, có đủ sức chịu đựng, sẽ không bị thối chuyển khởi tà kiến mạnh chặt đức thiện căn làm xiển đề. Vì vậy mà quyển sau nói: “Nếu đạt đến vị nhẫn, nhập chánh định tụ , không tạo năm nghịch, không hủy báng Phật pháp”. Do vậy mà nói đạt đến tâm thứ sáu thì không bị những thứ bất thiện làm cho thối động. Là tín bất thối trong bốn bất thối.
Tâm Giới: ngăn chặn đề phòng thân, ngữ, khiến cho tâm được điều hòa, lìa sự phá giới.

* Trang 678 *
device

Tâm Nguyện: Về thể thì như trên đã nói, cầu Bồ-đề, nguyện lợi lạc hữu tình, nguyện không bị gián đoạn.
Tâm Hộ Pháp: Là thủ hộ sáu căn, lìa cảnh trần, bảo vệ, giữ gìn chín tâm kia, đừng để bị mất, hoặc với Tam bảo, không tiếc thân mạng, thường bảo vệ.
Tâm Hồi hướng: Là chín tâm đã tu trên và Hạnh thù thắng, hồi hướng thí cho chúng sanh, hồi hướng cầu Bồ-đề, Hồi hướng Niết-bàn, không cầu pháp Thế gian và Nhị Thừa.
Lại nữa, Kinh Anh Lạc nói: Mười tâm hổ trợ nhau, mỗi tâm có mười, tức là tu hành môn trăm pháp sáng tỏ, thường phát vô lượng vô đại nguyện, hữu hành, vô hành, đắc nhập Tập chủng tính.
Đủ mười tâm: Là đối với mười tâm, cần phải tu cho đầy đủ, thiếu một trong những tâm đó thì chẳng phải là ngôi vị này. Mười thứ đó đều gọi là tâm, vì tâm thì lấy duyên lự làm chính. Năm tâm từ tâm tín đến tâm thứ năm là tâm Sở Pháp luôn dựa nơi tâm trụ khởi tất tương ưng. Năm tâm sau từ tâm bất thối là thắng dụng của chúng. tâm tự tại, nên đều gọi là tâm. Đoạn trên kinh này đã nói: “Thứ nhất là vị phục nhẫn, khởi tập chủng tính, tu hạnh thập trụ.” Nay liệt kê ra mười Tín, nói là đủ mười tâm, tức là ý nói người tu đủ cả mười tâm mới nhập Thập trụ. Do đâu mà biết? Kinh Anh Lạc nói: Cả Hiền và Thánh, có mười tâm đó, mới gọi là Thập Trụ.
Trong kinh Hoa Nghiêm vốn nói đủ cả hạnh vị. Địa Tiền có ba mươi, Thập trụ là đầu không khác với thập tín, không ứng hợp thập tín tức cho là ngoại phàm. Tức trái với vị Phục nhẫn ở kinh này. Do đây Thập Thiện, tuy là tu hành, nhưng có tiến có thối giống như lông tơ. Với mười ngàn kiếp, tu tập tăng thắng, đầy đủ không thối chuyển mới gọi là nhập kiếp, xưng là vị Tập nhẫn, tức trong Thập trụ thuộc về Phát tâm trụ.
Dưới đây là phần ba: Lợi sinh sai khác.
Kinh: Mà Nhưng có thể giáo hóa một phần ít các chúng sanh
Giải thích: Nói về lợi tha. Như đoạn sau nói: “Tập chủng Đồng luân, giáo hóa hai thiên hạ. Kinh Hoa Nghiêm nói: Bồ-tát trụ này khuyên học mười pháp, là siêng cúng dường Phật, thích trú nơi sanh  tử, chủ đạo hướng dẫn thế gian, khiến trừ nghiệp ác, dùng pháp thắng diệu thường hành dạy bảo, tán thán pháp vô thượng, học công đức Phật, sinh trước chư phật, thường nhờ thâu nhận, tạo phương tiện diễn thuyết Tam muội tịch tĩnh, tán thán việc xa lìa sinh tử luân hồi, làm chỗ quy y cho những chúng sanh khổ nạn.

* Trang 679 *
device

Pháp thứ ba - Chủ đạo thế gian, tức là Luân vương này.
Pháp thứ mười: Làm chỗ quy y cho chúng sanh khổ nạn, tức là tám tướng thành Phật.
Kinh này nói: “giáo hóa các chúng sanh”, tức là trong kinh Hoa Nghiêm nói thế, xuất thế giáo hóa.
Hỏi: Sau khi gồm vào bậc đầu, phải biết Thập trụ, Nếu vậy sao lại nói là giáo hóa một phần nhỏ.
Đáp: So với Thập thiện trước thì có thể nói là lớn, nhiều. Nhưng so với những ngôi vị sau thì chỉ nói là một phần nhỏ.
Tiếp theo là bốn phần - Vượt địa Nhị thừa.
Kinh: Vượt quá, tất cả Địa Thiện của Nhị Thừa.
Giải thích: Vượt qua quả Hữu học và vô học của Nhị Thừa.
Tất cả Địa Thiện: Theo kinh Đại Bát-nhã: Cả ba Thừa cùng hành chung địa thứ mười: 1. Càn-tuệ-địa; 2. Tính Địa; 3. Bát Nhân Địa; 4. Kiến Địa; 5. Bạc Địa; 6. Ly Cấu Địa; 7. Dĩ Biện Địa; 8. Độc Giác Địa; 9. Bồ-tát Địa; 10. Như Lai Địa.
Trong địa thứ mười này, Bồ-tát là địa thứ chín. Nay Tập chủng vị ở đây, do phát đại tâm, cùng tu hai lợi, tuy là Hạ nhẫn nhưng vượt cả địa thứ tám trước, nên bảo là vượt quá tất cả địa thiện. Lại nữa, nói theo nghĩa thì Nhị thừa đều dùng Hữu Kiến mà tu vô học, Bồ-tát thì siêu vượt những thứ kia, nên bảo là tất cả.
Sau đây là phần ba - Kết, làm Thánh thai.
Kinh: Đó là Bồ-tát, bắt đầu nuôi dưỡng tâm, là Thánh thai.
Giải thích: Ở Vị ba Hiền, đều gọi là Thánh thai. Nêu ra ở đây là thâu nhiếp gồm luôn ở những ngôi vị khác.
Thai: Tự chủng làm nhân, bạn thiện làm duyên, do Tịnh pháp giới, đẳng lưu của nghe, chánh pháp, tu tập nuôi lớn. kiến đạo của sơ Địa, sinh vào nhà Phật.
Tiếp đây là phần hai - nói về tính chủng tính, trong đó có ba phần: 1. Nêu vị, biện minh tướng; 2. Chánh giải tu hành; 3. Kết, vượt đảo tưởng.
Đây là phần một - Nêu vị, biện minh tướng.
Kinh: Lại nữa, Bồ-tát Tính chủng tính tu hành mười loại Ba-la- mật-đa.
Giải thích: Tính chủng tính: Tính nói ở đây là tính của Tập chủng trước đã tu tập mà thành, nên bảo là Tính. Nói? “chủng tính”: Tập chủng tính trước đã hiện rõ, như nhân đồng loại, dẫn sinh ra chủng tính này. Tức là hạt giống của Tính, tính chất của hạt giống.

* Trang 680 *
device

Hỏi: Luận Du-già nói: 1. Bản tính trụ chủng tính. 2. chủng tính do tu tập mà thành.
Kinh này lại nói: 1. Tập chủng tính; 2. Tính chủng tính. Vì sao Kinh và Luận nói về hai tính đó thứ tự trước sau lại trái nhau?
Đáp: Ý trong Luận nói là: Trước tiên lấy tính làm gốc, nương theo gốc tu tập, sau đó quen dần thành tính. Ý trong Kinh nói là: Trước tiên là tu tập, tập thành chủng tính, sau đó lấy cái tập thành làm tính chủng tính. Luận thì dựa theo góc tập, chưa tập, đã tập, còn Kinh thì chỉ Tu tập, mới tập, Tập lâu. Mỗi cách nói đều căn cứ theo một nghĩa, cũng không trái nhau .
Nói Bồ-tát: là Bồ-tát Thập hạnh. Như Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập hạnh nói là: Hạnh Hoan hỷ, Hạnh nhiêu ích, Hạnh không trái nghịch, Hạnh không quấy nhiễu, Hạnh lìa Si Loạn, Hạnh Thiện Hiện, hạnh không chấp trước, hạnh nan đắc, hạnh thiện pháp, hạnh chơn  thật.
Tu hành mười loại Ba-la-mật đa: là thực hành mười độ. Bồ-tát Thập hạnh, mỗi bậc tu một Hạnh, tức là mười độ.
Tu hành những gì? Các hành Bố thí, Trì giới... gọi là Ba-la-mật đa. Luận Duy thức nói: phải được thâu nhận thọ trong bảy tối thắng, mới có thể kiến lập Ba-la-mật-đa. 1. An trụ tối thắng; nghĩa là phải An trụ nơi chủng tánh Bồ-tát; 2. Y chỉ tối thắng; là phải y chỉ nơi tâm Đại Bồ- đề; 3. Ý Lạc tối thắng: là phải thương xót tất cả Hữu tình; 4. Sự nghiệp tối thắng: là phải thực hành đủ tất cả sự nghiệp; 5. Xảo tiện tối thắng: là phải thuộc về trí vô tướng. 6. Hồi hướng tối thắng: là phải Hồi hướng đến Bồ-đề vô thượng; 7. thanh tịnh tối thắng là không bị hai chướng xen tạp. Nếu người thọ trì chẳng thuộc về bảy điều trên thì những hạnh mà mình tu chỉ gọi là Bố thí... chẳng phải là đến bờ giác (Ba-la-mật). Bồ-tát ở Ngôi vị này, nương theo tương tự mà tu chứng, những hạnh khi đăng Địa đều đạt đến bờ giác.
Tiếp đến là phần hai - Chánh giải tu hành. Trong đó chia làm ba: 1. Nêu mười đối trị. 2. Chánh giải về đối trị , 3. Lợi sinh sai khác, đây là phần một - Nêu mười đối trị.
Kinh: khởi 10 đối trị:
Giải thích: Khởi: nghĩa là Sinh khởi. 10: là nêu chung.
Đối là đối quán. Trị tức là trị bỏ.
Kế tiếp là phần hai - Chánh giải về đối trị. Văn có ba phần:
1. Đối trị bốn đảo:
Kinh: Nghĩa là quán sát thân, thọ, tâm, pháp là bất tịnh, các khổ,

* Trang 681 *
device

vô thường vô ngã.
Giải thích: Quán sát: Quán: là Đối Quán. Sát: là xem xét, thẩm xét.  Thể của quán là Tuệ.
Thân Thọ tâm pháp; là cảnh sở quán. Thân: là sự tương tục. Như trong Trí Luận nói: Thân: là sắc uẩn Thọ: là Thọ uẩn. Tâm là Thức uẩn. Pháp xứ, pháp giới đều gọi là pháp. Bất tịnh v.v... là hành của năng tri. Do lực vọng phân biệt từ vô thủy đến nay, nên đối với Thân, thọ v.v... cho là tịnh. Nhờ quán sát mà biết Thân là bất Tịnh, biết Thọ đều là khổ, biết tâm là vô thường, biết pháp là vô ngã, nên lìa tưởng điên đảo. Lại nữa, hiểu rõ được Thân, Thọ... tự tính của chúng là “không”, thì đều Lìa bỏ tất cả đảo.
Sau đây là phần hai - đối trị ba độc:
Kinh: đối trị ba căn bất thiện: tham, sân, si. khởi ba loại căn thiện: thí, từ, tuệ.
Giải thích: Trị: là nêu chung năng tri và sở tri tham sân si là sở tri. nghĩa là: Do ý thức đối cảnh vừa ý thì sự tham muốn càng tăng theo, với cảnh không vừa ý thì sân hận tăng theo. Cảnh trung bình thì vô minh tăng theo. Vì ba loại căn bất thiện căn đó mà sinh ra mạn... và tùy phiền não. Nếu cả ba thứ đó đều được điều phục thì các tùy phiền não khác cũng được chế phục.
Khởi thí, từ, Tuệ: là hành của năng trị. Thí là không tham, xả   thí tài và pháp. Từ: là không sân, cho người khác niềm vui. Tuệ là do không Si, tức là Chánh Tuệ. Nhờ ba loại căn thiện đó mà sinh ra các công đức của vạn hạnh.
Kế đến là phần ba - Đối trị Tam thế (ba đời).
Kinh: Quán sát ba đời: nhẫn nhân của quá khứ; nhẫn nhân quả của hiện tại, nhẫn quả của vị lai.
Giải thích: Thể của nhẫn tức là Tuệ đã giải thích như trên.
Quán nghiệp quá khứ, khởi nhẫn nhân quá khứ từng làm. Quán sắc tâm hiện tại là quả của nhân quá khứ từng làm, là nhân của quả đương lai mà khởi nhẫn về nhân quả. Quán pháp vị lai khởi nhẫn về quả đương lao.
Quán pháp vị lai, khởi Quả nhẫn sẽ có. Tuy chỉ là hiện tại, Thể của Quá khứ, vị lai không có, nhưng do sự báo trả và sự dẫn khởi mà giả biến thành Quá Khứ, vị lai. Lại nữa, theo pháp duyên sinh là: vô minh hành làm nhân của đời trước. năm chi thức v.v... làm Quả hiện tại. Ái, Thủ, hữu, làm Nhân hiện tại. Sinh, Lão tử làm Quả vị lai. Đó là dựa theo phần vị nơi Nhân quả của ba đời. Vì để phá chấp cho là không

* Trang 682 *
device

có nhân quả và chấp Đoạn Thường, khiến biết Nhân duyên như huyễn ảo, tựa như có quán sát. Bồ-tát ở vị này, quán bốn thứ; Thân, Thọ tâm pháp... để lìa bốn đảo. Quán ba thứ tâm v.v... mà lìa sự trói buộc trong tu hành. Quán pháp ba đời (thời gian) có nhưng không thật. Vì vậy khiến cho quán sát, để tu hạnh tốt  hơn.
Dưới đây là phần ba - Phạm vi lợi sinh.
Kinh: Bồ-tát nơi vị này,  rộng làm Lợi ích chúng sinh
Giải thích: Tính Chủng làm Ngân Luân vương, hóa độ ba thiên hạ, hơn vị  Tập chủng trước, cho nên bảo là rộng làm lợi ích.
Kinh: vượt quá các tưởng Ngã kiến, Nhân kiến, Chúng sanh kiến... không bị các tưởng điên đảo của ngoại đạo hủy hoại.
Giải thích: Ngã, Nhân v.v... là các loại Ngã như Thọ giả, Tác giả, Mệnh giả, Sĩ phu.
Ngoại đạo: là các Sư của Tà Luận
Tưởng đảo: là bốn tưởng đảo, tương ưng với bốn tướng điên đảo.
Không thể hủy hoại: Người năng chấp (tà sư) và pháp sở chấp của họ (tà pháp) không thể hủy hoại, Vì do lực Thắng giải của Bồ-tát đó đều vượt qua các tà sư, tà pháp.
Sau đây là phần ba: Nói về Đạo chủng tính. Văn có ba phần như trên: 1. Nêu vị, biện minh Tướng:
Kinh: Lại nữa, Bồ-tát Đạo chủng tính tu mười Hồi hướng.
Giải thích: Đạo chủng tính: là địa thứ nhất bình đẳng với Thánh đạo. Đây dẫn khởi cho kia sinh làm hạt giống cho Đạo. Tính của Hạt giống, hạt giống của Đạo, gọi là Đạo chủng tính, cả hai đều nương vào chủ.
Nói Bồ-tát: là nêu người thực hành (chủ thể).
Tu Mười hồi hướng: là Lược nêu. Như Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thập Hồi hướng nói: là Hồi hướng cứu hộ tất cả chúng Sanh, lìa chúng sanh. Hồi hướng Bất Hoại. Hồi hướng đẳng nhất thiết Phật. Hồi hướng đến tất cả xứ. Hồi hướng vô Tận Công Đức Tạng. Hồi hướng tùy thuận kiên cố tất cả Thiện căn. Hồi hướng Cùng Tùy Thuận tất cả chúng Sanh. Hồi hướng chơn thật. Hồi hướng giải thoát không bị vướng mắc, không bị trói buộc. Hồi hướng vô lượng pháp giới bình đẳng. nghĩa của chúng như sau sẽ giải thích.
Tiếp đến là phần hai - Chánh giải tu hành. Trong đó có hai phần:
1. Nêu chung về mười nhẫn:
Kinh: Khởi mười tâm nhẫn
Giải thích: Đây là nêu chung.

* Trang 683 *
device

Sau đây là phần hai - Chánh biện minh về đối trị. Trong đó có ba:
1. Đối quán năm nhẫn.
Kinh: nghĩa là quán năm uẩn: Sắc , thọ, tưởng, hành, thức, đắc giới nhẫn, định nhẫn, tuệ nhẫn, giải thoát nhẫn, giải thoát tri kiến nhẫn.
Giải thích: Năm uẩn và nhẫn, nghĩa chúng như trên đã giải thích. Đối quán năm uẩn, đắc uẩn giải thoát. nghĩa là, Quán lỗi lầm của tự thân, lời nói, do Lực của tư nguyện, chặn ngừa bảy chi tội về thân ngữ mà đắc giới nhẫn. Tiếp nữa là quán Thọ uẩn, vọng sinh thâu nạp các thọ lay động, do Định Chuyên chú mà đắc Định nhẫn. Tiếp nữa là quán Tưởng uẩn, giữ lấy những hình ảnh yêu, ghét... lý luận phân biệt, khởi lên các danh từ, ngôn ngữ, lời nói, như Họa sĩ, tô màu vẽ cảnh, do Tuệ phân biệt lựa chọn giản trạch mà đắc Tuệ nhẫn, Tiếp nữa là quán hành uẩn, tạo tác nhiều loại nghiệp trong ba cõi, bị sinh tử trói buộc, do Tuệ lìa trói buộc (Ly hệ) mà giải thoát tự tại, đắc Giải thoát nhẫn. Sau là quán Thức uẩn, do vọng tưởng phân biệt, khởi các tri kiến chấp giữ sáu trần. Do Tuệ không phân biệt, (vô phân biệt trí) mà giải thoát thanh tịnh, đắc giải thoát tri kiến nhẫn. Từ đối năm uẩn mà đắc giải thoát uẩn. Đó là dựa theo ngôn thuyết mà kiến lập theo thứ tự. Như theo thật nghĩa thì dùng Tuệ vô phân biệt, quán năm uẩn đều là không, ở trong từng mỗi niệm đều có đủ năm nhẫn.
Kế tiếp là phần hai - Đối quán ba nhẫn
Kinh: Quán nhân quả trong ba cõi đạt được không nhẫn, vô tướng nhẫn, vô nguyện nhẫn.
Giải thích: Ba cõi là Xứ nương tựa để quán.
Nói Nhân quả: Là nghiệp nhân, thức quả tức là chủ thể sinh. Quán năng cảm, sở cảm mà đắc ba nhẫn. nghĩa là đối với ba cõi và nhân quả kia, chấp là có “thể” thật, quán đó là không chỉ do biến kế mà đắc không nhẫn. Không đó hiển rõ ra Chơn Như thanh tịnh, không có mười tướng, cho nên đắc vô tướng nhẫn, Nhân và Quả Hữu Lậu là hư vọng chúng sinh, nương theo đó mà tu hành, đối với nhân quả này không nguyện cầu nên đắc vô nguyện nhẫn
Dưới đây là phần ba - Đối quán hai  nhẫn.
Kinh Quán hai đế giả thật, các pháp vô thường, đắc vô thường nhẫn. Tất cả pháp không, đắc vô Sinh nhẫn.
Giải thích: Quán hai đế Giả Thật; Giả tức là Thế Tục. Thật tức là Thắng nghĩa, là nêu hai đế.
Các Pháp vô thường, đắc vô thường nhẫn Hữu Vi thì biến đổi tàn

* Trang 684 *
device

lụi, sát-na không dừng, đắc vô thường nhẫn. Quán tất cả pháp không có tự tính, Thể rỗng lặng, chẳng sinh diệt, đắc vô sinh nhẫn. Cả hai thứ đó dẫn khởi sinh ra hai loại chánh quán an lập và phi an lập đến phần sau sẽ nêu rõ. Bồ-tát ở vị này quán uẩn lưu chuyển, đắc uẩn giải thoát. Quán nhân quả trong ba cõi, đắc Tam không nhẫn. Quán hai đế thật giả, đắc vô sinh nhẫn, đều là nương theo giải thoát đối trị Đảo, tiến tu dẫn sinh Thánh đạo mà chứng Địa thứ nhất.
Kế đến là phần ba - kết, nói rõ việc hóa độ lợi ích.
Kinh Bồ-tát ở vị này, làm Chuyển Luân vương, có thể rộng hóa độ tạo lợi lạc cho tất cả chúng sinh.
Giải thích: Tức là kim Luân vương, giáo hóa bốn thiên hạ, vượt qua vị trước, nên bảo là “rộng hóa độ”.
Sau đây là phần hai - Nói về vị Tín nhẫn. Văn chia làm ba phần như trên: 1. Nêu nhẫn, biện về vị.
Kinh: Lại nữa, Bồ-tát Tín nhẫn là Địa Hoan hỷ, Địa Ly cấu, Địa Phát Quang.
Giải thích: Đó là Thánh Vị:
Nói Tín nhẫn: Là chứng Tín. Bồ-tát ở vị này chính mình chứng Chơn như, tam bảo và Giới đều là chứng tịnh, nên ba Địa này cùng gọi là Tín nhẫn. Tuy các Địa sau cũng có bốn thứ này (Tam bảo và giới), nhưng đây là mới bắt đầu hiện chứng được nên gọi là chứng Tịnh, gia hạnh và hậu đắc đa phần là duyên theo đó.
Hoan hỷ: nghĩa là mới bắt đầu đạt được tánh Thánh, chứng đủ cả hai Không, có thể làm ích lợi cho mình và người nên sinh đại hỷ.
Địa: là chỗ nương vào đó mà sinh trưởng, Trí, Như tương ưng. Phần sau sẽ nêu rõ.
Địa Ly cấu: là có đủ tịnh Thi la thanh tịnh, xa lìa các phiền não cấu các thứ hủy phạm giới vi tế.
Địa Phát Quang; là Thành tựu định thù thắng, đại pháp tổng trì, có thể phát vô biên Tuệ Quang vi diệu.
Dưới đây là phần hai: Chánh giải tu hành, trong đó chia làm  hai: 1. Đoạn trừ ba chướng.
Kinh: Có thể đoạn trừ ba chướng, phiền não trói buộc của Sắc Giải thích: Nói ba chướng là: như phần sau của kinh nói: Sơ Địa diệt các Tham trong ba cõi. Địa thứ hai đoạn tập Sân… Địa thứ ba diệt vô minh ám. Ba chướng này đến phần sau sẽ nói rõ. Về chướng bị đoạn như Luận Duy Thức quyển mười nói: Chướng có hai loại:
1. Phiền não chướng.

* Trang 685 *
device

2. Sở tri chướng.
Trong Phiền não chướng, loại do Kiến đạo đoạn thì Nhị thừa kiến đạo, đều có thể đoạn dứt hết. Còn loại do Tu đạo đoạn, thì đến định Kim-Cang mới có thể đoạn dứt hết. Hoặc Bồ-tát thì loại do kiến đạo đoạn đến kiến đạo đoạn hết, còn loại do Tu đạo đoạn thì phải đến định Kim cang, trong một lúc tức thì đoạn dứt. Trong Sở tri Chướng loại do kiến đạo đoạn cũng đến kiến Đạo thì đoạn. Còn loại do tu đạo đoạn thì từ sau Sơ Địa cho đến định Kim-cang mỗi Địa đoạn riêng từng phần. Kinh này nói ác chướng ở ba Địa cùng hiện hành với Tham, Sân, Si và loại do tu đạo đoạn.
Khắp sáu thức, có thể phát khởi nghiệp sắc hoặc là duyên với cảnh sắc, gọi là phiền não sắc, Tự tính của phiền não là pháp trói buộc, nên gọi là “trói buộc”. nghĩa là trong cả ba địa mỗi địa đều tu hạnh thù thắng. Tham đều trừ bỏ vĩnh viễn gọi là đoạn.
Sau đây là phần hai: Nói về các hành. Trong đó chia làm hai:1. Tu các hành; 2. Kết về Hạnh căn bản.
Trong phần một - Tu các hành, lại chia làm bốn:
1. Bốn Nhiếp pháp.
Kinh: hành bốn Nhiếp pháp là bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự
Giải thích: Bố thí v.v... là do tương ưng với các Thiện căn  không tham mà thâu giữ lấy chúng sanh. nghĩa như ở trên đã giải thích, là phương Tiện giáo hóa.
Tiếp theo là phần hai - Nêu bốn vô lượng tâm
Kinh: Tu bốn vô lượng tâm: Từ vô lượng, Bi vô lượng, Hỷ vô lượng, Xả vô lượng.
Giải thích: Từ Bi v.v... là do thiện căn không Sân v.v... tương ứng với sự làm lợi vô lượng. nghĩa như trên đã giải thích là sự thương xót hóa độ.
Kế nữa là phần ba - Nêu bốn Nguyện rộng.
Kinh: Đủ bốn Hoằng Nguyện, đoạn các thứ Triền cái thường hóa độ chúng sanh, tu tri kiến Phật, thành vô thượng giác.
Giải thích: Bồ-tát đã tu ắt đủ vạn hạnh, đại nguyện đã phát có bốn thứ ấy.
Đoạn các triền cái: do phiền não nên trói buộc hữu tình, do chỗ nhận biết nên che lấp thắng tuệ không được hiện khởi. Hoặc là mười Triền, năm Cái, kiến hoặc, tu hoặc theo chỗ ứng hợp, như phân biệt thông thường. Đó là nói về Đoạn.
Thường hóa độ chúng sanh: là tất cả bốn loài hữu tình (tứ sanh) ở

* Trang 686 *
device

trong hai cõi. Đó là nói về thường hóa độ.
Tu tri kiến Phật: là đều tu tập hằng sa diệu hạnh của Chư Phật, Thế Tôn. Đó là nói về thường tu.
Thành vô thượng giác: Nghĩa là Địa thứ nhất này đối với Chánh Giác vô thượng của Chư Như Lai nêu rõ là sẽ chứng đắc. Bốn nguyện rộng này, câu đầu và cuối là tự lợi, hai câu giữa là lợi tha.
Tiếp sau là phần bốn - Nói về ba Giải thoát môn.
Kinh: Trụ nơi ba Giải thoát môn không Giải thoát môn. vô tướng Giải thoát môn, vô nguyện Giải thoát môn.
Giải thích: Nghĩa của ba Giải thoát môn như trên đã giải thích. Nói ba Tam muội thì chung cho cả hữu lậu và vô lậu, nói Giải thoát môn thì vô lậu. Ba Giải thoát môn chung cho cả các Địa.
Dưới đây là phần hai - Kết về Hạnh căn bản.
Kinh: Đó là căn bản của các hành thuộc về Bồ-tát Ma-ha-tát từ sơ phát tâm đến Nhất-thiết-trí.
Giải thích: Đó là các hành như bốn Nhiếp v.v... nghĩa là các Bồ- tát từ mới phát tâm, tùy lực tu tập, cho đến thành Phật, đều dùng những thứ đó làm căn bản các hành.
Tiếp đến là phần ba: Kết về hóa lợi.
Kinh: Lợi ích an lạc cho tất cả chúng sanh.
Giải thích: Bồ-tát Sơ Địa đi đến trăm cõi Phật. Bồ-tát Địa thứ ba đi đến ngàn cõi Phật. Bồ-tát thứ ba Địa đi đến vạn cõi Phật, tạo lợi ích, an lạc cho các chúng sanh ở đó.
Sau đây là phần ba: Nói về vị Thuận nhẫn. Văn có ba phần như trên: 1. Nêu nhẫn biện minh vị:
Lại nữa, Bồ-tát Thuận nhẫn: là Địa Diệm Tuệ, Địa-nan thắng, Địa Hiện tiền.
Giải thích: Nói Thuận nhẫn là: Chủ thể thuận là Tuệ, đối tượng được Thuận là Như. Do Tuệ tùy thuận, thuận hướng, thuận quán, đến vô sinh ở sau tức là nhẫn của nhẫn, gọi là Thuận nhẫn. Như Luận Thập Địa quyển tám nói: Tùy thuận pháp Chơn Như bình đẳng, Địa thứ tư thứ năm đắc nhẫn hạ phẩm, trung phẩm. Địa thứ sáu đắc nhẫn thượng phẩm thảy đều tùy thuận vô sinh pháp nhẫn. Còn nhẫn này thì chẳng phải là vô sinh nhẫn.
Địa Diệm Tuệ: là an trú nơi pháp Bồ-đề phần tối thắng, đốt củi phiền não, lửa Tuệ thêm sáng.
Địa-nan-thắng: hai trí Chơn và Tục, hạnh và tướng kết hợp nhau, khiến tương ưng với rất khó vượt qua.

* Trang 687 *
device

Địa Hiện tiền: Trụ nơi trí duyên khởi, dẫn phát Bát-nhã vô phân biệt tối thắng, khiến trí ấy hiện tiền.
Dưới đây là phần hai - Chính nói về đoạn chướng
Kinh: Có thể đoạn trừ ba chướng, phiền não buộc tâm
Giải thích: Có thể đoạn trừ ba chướng: như phần sau kinh nói. Địa thứ tư vĩnh viễn đoạn thân biên kiến vi tế. Địa thứ năm, đoạn tâm ưa thích cầu Niết-bàn. Của Tiểu thừa. Địa thứ sáu đoạn các tướng thô hiện hành của các tập nhân tập nghiệp nơi ba cõi. Phiền não buộc tâm: Ba chướng nêu trên chỉ là ý thức nên đều gọi là tâm. Nói Phiền não: Như nơi Luận Thập địa đã nói rõ. Sau đây là phần thứ ba: Kết nêu rõ về lợi tha.
Kinh: Có thể với một thân, đến khắp ức cõi Phật trong mười phương, hiện bày thần thông không thể nói hết, biến hóa tạo mọi lợi lạc cho chúng sanh.
Giải thích: Bồ-tát địa thứ tư đi đến ức cõi Phật. Bồ-tát địa thứ năm đi đến trăm ức. Bồ-tát địa thứ sáu đi đến ngàn ức.
Không thể nói hết: Là hiển bày về số nhiều.
Tiếp theo là phần bốn: Nêu rõ về vô sanh pháp nhẫn. Văn gồm ba như trước.
Phần một là nêu nhẫn. Biện về Vị.
Kinh: Lại nữa, Bồ-tát vô sanh nhẫn, là Địa Viễn hành, Địa chẳng động, Địa Thiện tuệ.
Giải thích: Nói vô sanh: Tức là lý chân. Trí chứng đắc lý chân, gọi là vô sanh nhẫn. Kinh giải Thâm Mật. Luận Du-già, Luận Duy Thức đều nói ba Tính gọi là vô sanh: Bản tính vô sanh, tự nhiên vô sanh, Hoặc khổ vô sanh. Nếu trí của chủ thể chứng đắc thì gọi là vô sanh nhẫn. Gồm luôn Như của đối tượng được chứng đắc, gọi là vô sanh pháp nhẫn.
Địa Viễn hành là đạt đến vô tướng trụ, biên vực sau cùng của công dụng, ra khỏi đạo Nhị thừa thế gian.
Địa chẳng động: Là vô phân biệt trí tự nhiên hiện hành tương tục, đối với tướng, dụng, phiền não không thể làm cho lay động.
Địa Thiện Tuệ: Là thành tựu bốn vô ngại giải vi diệu, có thể hiện bày khắp mười phương khéo thuyết giảng chánh pháp.
Sau đây là phần thứ hai chính nêu về đoạn chướng.
Kinh: Có thể đoạn trừ tập khí sắc tâm nơi ba chướng.
Giải thích: Có thể đoạn ba chướng: Như phần sau của kinh nói: Địa thứ bảy đoạn trừ tướng hiện hành vi tế của các nghiệp quả.

* Trang 688 *
device

Địa thứ tám đoạn trừ các công dụng địa thứ chín đoạn trừ chướng không còn trở ngại, tức là đoạn trừ ba chướng.
Tập khí sắc tâm: Là chung cho chủng tử và hiện hành. nghĩa là đối với Sở tri chướng, Địa thứ sáu trước trong địa thứ mười, mỗi Địa đều đối trị một phần, là hạ phẩm của chướng ấy tức các thứ thô trọng của Sắc tâm, nên ba địa này đều đoạn trừ riêng.
Tiếp sau là phần ba tóm kết về lợi tha.
Kinh: Mà có thể thị hiện thân tướng tùy theo loài không thể nói hết, tạo lợi ích cho tất cả chúng sanh.
Giải thích: Bồ-tát địa thứ bảy an trụ ở trăm ức cõi Phật. Bồ-tát địa thứ tám trụ nơi trăm vạn ức vi trần số cõi Phật Bố-tát Địa thứ chín trụ nơi trăm vạn ức A-tăng-kỳ vi trần số cõi Phật, đi đến những cõi kia, hiện thân không thể nói hết, tùy theo loài, tạo lợi ích cho các chúng sanh.
Tiếp sau là phần năm - Nói về Tịch diệt nhẫn. Văn có ba phần như trên.
1. Nêu nhẫn biện vị.
Kinh: Lại nữa, Tịch diệt nhẫn là Phật và Bồ-tát cùng nương theo nhẫn này.
Giải thích: Tịch diệt: tức là Chơn Như. Trí chứng Tịch diệt, gọi là Tịch diệt nhẫn, tức là nhẫn của nhẫn theo hai cách giải thích mà được mang tên. Theo phần sau kinh, nói thì khi nhập vào Địa này thì đoạn dứt mọi chướng của thần thông, đến sau sẽ nêu rõ.
Phật và Bồ-tát: là nêu người năng nhẫn chủ thể. nghĩa là Bồ-tát đó, bắt đầu nhập vào Địa thứ mười, gọi là pháp vân. Ngôi vị sau Địa thứ mười gọi là Đẳng giác.
Cùng nương vào nhẫn này: nghĩa là ở đây so với Phật thì hơn kém khác nhau, nhưng đều cùng một nhẫn.
Tiếp theo là phần hai - Chánh giải tu hành. Trong đó có ba phần:
Hạ thượng nhẫn.
Đẳng Diệu giác.
Tam thân Phật.
Đây là phần một - Nêu Hạ Thượng nhẫn.
Kinh: Định Kim cang Dụ trụ nơi vị Hạ nhẫn gọi là Bồ-tát. Đến nơi Thượng nhẫn gọi là Nhất-thiết-trí.
Giải thích: Định Kim cang dụ là Định thù thắng sau cùng. Định này hiện tiền thì có thể đoạn dứt tất cả các loại chướng vi tế, gọi là định Kim cang. Định này mới bắt đầu khởi ở thân của Bồ-tát gọi là Hạ nhẫn. Nơi vị sau, tức vị giải thoát thành là Nhất-thiết-trí, gọi là thượng nhẫn.

* Trang 689 *
device

Kế đến là phần hai - Nêu Đẳng Diệu giác.
Kinh: Quán Thắng nghĩa đế, Đoạn Tướng vô minh, đó là Đẳng Giác, Nhất tướng, vô tướng, bình đẳng không hai, là Địa thứ mười một Địa Nhất-thiết-trí.
Giải thích: Trên nói “Quán”: tức Chánh Trí của chủ thể quán. Chánh trí có hai: Đẳng giác chiếu tịch và Phật quả tịch chiếu. Đó là Trí làm chủ thể quán, dựa theo Nhân và quả mà chia thành hai.
Thắng nghĩa đế: tức là Chơn như, thể của Chơn như cùng sáng  tỏ, cùng chứng đắc.
Đoạn tướng vô minh: Là chướng vi tế nơi Địa thứ mười một. Có hai giải thích: Thể của vô minh chung cả hai chướng. Chủng tử vi tế đó đến vị này đều đoạn dứt.
2. Vô minh căn bản thì bất Giác. Trí chiếu Bản giác, nên gọi là đoạn. Phần sau sẽ nói rõ.
Đó là Đẳng giác: là kết về Ngôi vị đoạn .
Nhất tướng vô tướng: là nói về quả Phật. Thể của Như và Trí giống nhau, nên bảo là Nhất tướng. Trí khế hợp ngầm với Chơn lý nên bảo là vô tướng.
Bình Đẳng không hai: Là Đạo của Chư Phật ngang bằng nhau, không hai.
Là Địa thứ mười một: Địa thứ mười là Nhân, Phật Địa là Quả. Vượt qua địa thứ mười trước là Địa thứ mười một.
Địa Nhất-thiết-trí: Là Phật Địa viên mãn đó là đạo giải thoát, tóm kết về quả vị.
Tiếp đến là phần ba - Nói về ba thân của Phật. Có ba phần:
1. Nói về thân Pháp tính:
Kinh: Chẳng phải hữu Phi vô, trong lặng thanh tịnh, không đến, không đi, thường trú bất biến
Giải thích: Chẳng phải hữu Phi vô: là công đức của Tính. Nghĩa là Tính Đức nhiều như hằng hà sa của chư Như Lai khác với vạn tượng, nên bảo là chẳng phải hữu. Khác với sừng thỏ là không hề có, nên nói chẳng phải không.
Trong lặng thanh tịnh: Vĩnh viễn lìa bỏ các tướng nên bảo là trong lặng, không cùng kết với hữu lậu nên bảo là thanh tịnh. Là đức vô vi.
Không đến không đi: là Thân pháp tính. Tính bản giác tịnh, thể thường bất sinh, nên bảo là không đến. Thể thường chẳng diệt, nên bảo là không đi. Không tùy tính mê ngộ mà có động tịnh, nên bảo là thường trú. Không tùy theo tính phàm Thánh mà thay đổi, nên bảo là bất biến,

* Trang 690 *
device

tức là Pháp thân.
Sau đây là phần hai - thân Trí đức
Kinh: Đồng Chơn tế, đẳng Pháp tính.
Giải thích: Chơn nói là Chơn tế, tức là Pháp thân.
Nói đồng: là Trí đồng với Lý. nghĩa là chư Như Lai, trong vị Đẳng giác, chướng vô minh đã hết nên đồng với Chân tế. Trong Vị giải thoát, chứng lý viên mãn tột cùng nên ngang với Pháp tính. Đây với Pháp Thân, chẳng phải tức Pháp thân, chẳng phải lìa pháp thân mà đầu hiện bày khắp pháp giới thường an lạc.
Tiếp theo là phần ba - Nói về Ứng, Hóa thân. Trong đó có hai phần: 1. Thân Ứng hóa; 2. Nêu chủ thể hóa, đối tượng được hóa. Đây là phần một thân Ứng hóa.
Kinh: Vô duyên đại bi, thường hóa độ chúng sanh. Vân hành Nhất-thiết-trí thừa đến giáo hóa ba cõi.
Giải thích: Vô Duyên Đại Bi: Bi có bốn loại: 1. Ngoại đạo, phàm phu, khởi nhận thức yêu thương là Bi; 2. Thanh văn, Độc giác duyên khổ dục sinh khởi tâm bi, gọi là quán hành Bi; 3. Bồ-tát vì lợi lạc chúng sinh, chứng đắc đồng thể Bi; 4. Chư Phật Thế Tôn chứng đắc vô duyên Bi.
Thường hóa độ chúng sanh: là nói Ứng thân. Nghĩa là, Chư Như Lai vốn ở cõi thuần tịnh, vị các chúng Bồ-tát trụ Địa thứ mười, tùy theo loài mà hiện thân, hiện đại thần thông, chuyển chánh pháp luân, khiến cho họ thọ dụng an lạc trong pháp thừa, không có gián đoạn, nên bảo là thường hóa độ.
Vận hành Nhất-thiết-trí thừa đến giáo hóa ba cõi: là nói về hóa thân. Chủ thể thừa (cỡi, vận hành) là Bi, đối tượng được thừa (vận hành) là Trí. nghĩa là từ trí tối thanh tịnh của pháp giới sanh ra Trí, Bi, diễn nói các giáo lý. Đó tức là Trí thuộc về sự. Vận hành nơi lý mà trí sinh, vì dùng Nhất-thiết-trí làm đối tượng vận hành.
Đến giáo hóa ba cõi: là xứ của đối tượng được hóa. Thế giới hư không đều là vô biên, nên nêu về chỗ dựa để nói về nơi chốn đến giáo hóa. Như Kinh Pháp Hoa nói: “Các con ta, trước vì vui chơi, đến vào nhà này”. Trưởng giả sợ “vào” kinh này tức là “đến”. Vì sao cần phải giáo hóa? Như kinh kia lại nói: Ta vốn lập thệ nguyện, muốn khiến cho tất cả chúng sanh ngang bằng như ta không khác. Như ta xưa đã nguyện, nay đã đầy đủ, hóa độ tất cả chúng sanh khiến đều nhập Phật đạo, nên hiện Ứng hóa để giáo hóa chúng sanh.
Dưới đây là phần hai - Nói về chủ thể hóa và đối tượng được

* Trang 691 *
device

hóa.
Trong đó chia làm bốn phần:
1. Cảnh của đối tượng được hóa.
Kinh: Này thiện nam! Các loài chúng sanh, tất cả phiền não nghiệp quả dị thục của hai mươi hai căn, không ra ngoài ba cõi.
Giải thích: Các chúng sanh: là tất cả những loài hàm thức sinh ở các cõi, các thú. Cảnh giáo hóa của chư Phật, Bồ-tát hoặc khác nhau, nhưng chủng loại sinh nơi đối tượng được giáo hóa thì chỉ như thế.
Tất cả phiền não: là Lý sự phát nghiệp, sinh ra trợ phát duyên cho tất cả phiền não.
Nghiệp: Là các nghiệp phước và phi phước v.v... nhiễm tịnh, chiêu cảm sinh Nhân.
Quả Dị thục: là Quả vô ký chiêu cảm do thiện nhiễm tác nghiệp nên chiêu cảm quả. Thời gian trước sau chẳng đồng nên gọi là dị. Thục của dị v.v... như thường phân biệt.
Hai mươi hai căn: Như có Tụng nói:
Thủ cảnh tục gia tộc.
Mạng sống quả thọ dụng.
Thế gian, xuất thế Tịnh.
Theo lượng đó lập căn.
Thủ cảnh là sáu căn. Tục gia tộc: Là hai căn Nam, Nữ. Mạng sống tức là Mạng căn. Quả thọ dụng là năm căn: khổ, lạc, ưu, hỷ, xả. Thế gian Tịnh: là năm căn: tín, tấn, niệm, tịnh, tuệ. Xuất thế gian tịnh là ba căn vô lậu: Vị tri đương tri, dĩ tri cụ tri. Về Thể của chúng Tụng kết nói.
Sắc cùng bất tương ưng
Tâm vương và tâm Sở.
Bảy một một chỉ mười.
Ba thể tính tùy ứng.
Hai câu sau là giải thích bốn câu trên. Bảy là bảy sắc căn. một, một là Mạng căn và ý căn. Chỉ mười là mười tâm sở như năm thọ tín v.v... Ba Thể tùy ứng: là ba Thể vô lậu nơi chín căn... Tính tùy ứng: là sắc mạng vô ký, ý năm, thọ ba tín v.v... chỉ là thiện.
Không ra ngoài ba cõi: Là kết về phần đã nói trên, đều nằm trong ba cõi.
Hỏi: Trong hai mươi hai căn, mười chín căn trước là hữu lậu, nên có thể thuộc ở trong giới. Còn ba căn sau cùng thể là vô lậu, sao lại không ra ngoài giới.

* Trang 692 *
device

Đáp: Đây là nói về đối tượng được giáo hóa nên chỉ xét về tướng chung. Lý thật thì ba căn ấy chẳng hệ thuộc trong giới. Nói “không ra ngoài” là có hai nghĩa: 1. Dựa theo chủng loại, chưa khởi hiện hành, theo thức đã nương nên bảo là không ra ngoài; 2. Xét theo hiện hành: Nhị thừa vô học, và tất cả Bồ-tát, chưa đến vị Đẳng giác tuy vô lậu hiện hành ở thức thứ sáu thứ bảy nhưng chỗ nương vào mà phân định thuộc dị thục hữu lậu, thì cũng không ra ngoài.
Dưới đây là phần hai - nói về Thân của chủ thể giáo hóa.
Kinh: Chư Phật chỉ bày, dẫn dắt, ứng hóa pháp thân, cũng không lìa ba cõi.
Giải thích: Chỉ bày dẫn dắt là khai thị, hướng dẫn.
Ứng hóa: Tức là Tha thọ dụng và biến hóa lớn, nhỏ, gọi chung là ứng hóa, chỗ dựa của ứng hóa là pháp giới thanh tịnh, cùng chủ thể dựa Thể là phi tức phi ly, nên nói Ứng và hóa đều gọi là Pháp thân. Nghĩa là: Chư Như Lai ở khắp pháp giới, ứng hiện nơi ba cõi cũng đồng với đối tượng được giáo hóa, nên nói là không lìa.
Tiếp sau là phần ba - Nêu sự sai trái của ngoại đạo.
Kinh: Như có thuyết nói: ở ngoài ba cõi, còn có riêng một cõi chúng sanh gì tức là nói theo kinh Đại Hữu của ngoại đạo.
Giải thích: Chư Phật đã thuyết giảng ngoài ba cõi không có chúng sanh. Nếu nói ngoài ba cõi có chúng sanh nữa, tức là theo cách nói của Kinh Đại Hữu trong sáu cú nghĩa của ngoại đạo Phệ thế sử ca, chẳng phải là lời Phật dạy.
Hỏi: Nếu vậy, cõi báo của Nhị thừa vô học, Bồ-tát Thập Địa cư trụ, chẳng phải là ngoài giới sao.
Đáp: Căn cứ theo trợ duyên tức ở ngoài ba cõi, nhưng thể là dị thục, nên chẳng phải là ngoài.
Dưới đây là phần bốn - Hiển bày về giáo hóa thành phật
Kinh: Đại vương! Ta thường nói: các chúng sanh chỉ đoạn trừ hết vô minh nơi tức gọi là Phật
Giải thích: Hai chướng trong ba cõi gọi chung là vô minh. Chỉ cần đoạn dứt phiền não, chỉ cần tránh được sự trói buộc của cõi đoạn dứt hết Sở Tri gọi là vô minh hết, tức là Phật.
Đã giải thích xong phần hóa độ. Dưới đây là phần ba - Kết về quả vị viên mãn.
Kinh: Tự tính thanh tịnh, gọi là Tính Bản giác, tức là Nhất-thiết- trí trí của chư phật.
Giải thích: Tự Tính thanh tịnh, gọi là Tính Bản giác: Tức là Chơn

* Trang 693 *
device

như. Theo Luận Khởi Tín thì: Câu trước là dứt tuyệt đối đãi, câu sau là đối đãi: Đối Bất giác mà nói là Bản giác.
Tức là Nhất-thiết-trí trí của Chư Phật: có hai thuyết giải thích:
1. Chơn như là Pháp thân của Phật, Pháp thân, Trí thân và tính và Tướng bình đẳng. Thể và tướng cùng theo nhau, cũng được gọi là Nhất- thiết-trí trí. Như thật thì chẳng phải Trí.
2. Chơn Như tức “Nhất-thiết-trí”. Tâm quay về với nguồn gốc, ngầm hợp không khác. Tướng và dụng chẳng phải không có một thể riêng biệt, tức là lấy Chơn như làm Nhất-thiết-trí trí.
Dưới đây là đoạn văn lớn thứ hai, kết về tu các nhẫn.
Kinh: Do đây mà được làm căn bản của chúng sanh, cũng là căn bản của hạnh của Chư Phật, Bồ-tát. Tức chính là mười bốn nhẫn trong năm pháp nhẫn của Bồ-tát vốn đã tu hành.
Giải thích: Do đây mà được làm căn bản của chúng sanh: Có hai thuyết nói:
1. Do Bản giác nêu trên. Nghĩa là do Bản giác tùy theo Bất giác mà đánh thức tính sáu cõi luân hồi trong Ba cõi, nên Bản giác này làm căn bản của chúng sanh. Cũng là căn bản hạnh Chư Phật, Bồ-tát: vô minh mỏng nhỏ thì lực của Bản giác tăng. tâm quay về với nguồn. Từ ngọn hướng về gốc, theo thứ tự mà kiến lập năm nhẫn. Đạt đến Tịch diệt nhẫn thì Bản giác như nhiên vắng lặng. Vốn không có lay động nên nay không có tịch lặng. Bản giác này cũng là căn bản của hạnh chư Phật, Bồ-tát.
2. Do năm nhẫn, là gốc tu hành từ đầu đến cuối của người phát khởi Đại Thừa, hướng đến đạo quả vô thượng, cũng là căn bản của hạnh Chư Phật, Bồ-tát. Cũng là căn bản pháp giới đã thành, chưa thành nơi Phật, Bồ-tát.
Dưới đây là phần hai - Trả lời về hóa độ chúng sanh. Trong đó có bốn phần: 1. Mười Ngôi vua; 2. Thuyết kệ tán; 3. Nêu Cảnh trí của nhẫn; 4. Chư Phật đồng tu.
Trong phần Mười Ngôi vua lại có ba:
Nhắc lại câu hỏi, lược nêu.
Nói về mười ngôi vua.
Kết, Nói về Chư phật.
Dưới đây là phần một. Nhắc lại câu hỏi lược nêu.
Kinh: Phật nói: Đại Vương! Ông trước đã hỏi; Bồ-tát làm sao để giáo hóa chúng sanh? Bồ-tát Ma-ha-tát nên như vậy mà giáo hóa. Từ Địa đầu tiên đến Địa cuối cùng, nơi hành xứ của mình đến hành xứ của

* Trang 694 *
device

Phật, tất cả Tri kiến.
Giải thích: Từ “Phật nói v.v...”: là nhắc lại câu hỏi trước.
Từ Địa đầu tiên: là Địa Hoan hỷ đến Địa cuối cùng: là Địa pháp Vân. Nơi hành xứ của mình: là hành xứ của Bồ-tát trong mỗi một Địa.
Hành xứ của Phật: Tức là xứ hóa độ của Phật nơi địa thứ mười. Lại hành xứ của Như Lai, tức Địa thứ mười một.
Tất cả Tri Kiến: là Tri kiến như thật, thực hành hai lợi của Bồ-tát Chư Phật chứng chơn, đạt tục.
Hỏi: một Địa đầu tiên chẳng phải là Tập chủng tính sao?
Đáp: Đây là nói về sự hành hóa tạo lợi ích của mười vua, Tam Hiền đã xong rồi, nên ở đây không xét.
Tiếp theo là phần hai - Nói về mười ngôi vị vương, văn chia làm mười phần. Trong mỗi một Địa đều chia làm năm phần: 1. Quốc độ rộng hẹp; 2. Phối thuộc ngôi vị của vua; 3. Tu pháp nhiều ít; 4. Biện minh tu hạnh thù thắng; 5. Nói về chốn lợi sinh. Trong năm phần thuộc Sơ Địa, dưới đây là phần một - Quốc độ rộng đẹp.
Kinh: Bồ-tát Ma-ha-tát, trú nơi trăm cõi Phật.
Giải thích: Bồ-tát Sơ Địa trụ trăm đại thiên. Vì sao biết được? Một cõi Phật hóa độ tức là một đại thiên một trăm cõi Phật hóa độ là một trăm Đại Thiên.
Hỏi: Quốc độ ở gồm có mấy loại? Lấy gì làm thể? Vì sao địa thứ mười có sự rộng hẹp khác nhau?
Đáp: Theo Luận Phật Địa: Các cõi trú tương đối nhau gồm hai loại: tịnh và uế. Trong tịnh có mười ba cõi cõi: Ba cõi quả và mười cõi nhân. Ba cõi trú quả là: Hoặc cõi pháp tính Chơn như làm thể; hằng sa tính đức nương vào tự tính. Hoặc cõi Báo đắc, cảnh Trí (Đại viên cảnh trí làm thể, các chủng vô lậu nương vào chính cõi trú. Cõi Tha thọ dụng, bình đẳng tính trí làm thể cho cõi này, hiện thân lớn hay nhỏ đều nương vào cõi trụ của mình. Hoặc cõi Biến hóa, Thành sự tác trí sự làm thể cho cõi đó. Hiện thân biến hóa nương vào cõi trụ của mình. Họp cả hai cõi Tha thọ dụng và Thân Biến hóa thành tức cõi trú thứ ba tức cõi trú Ứng hóa.
Mười cõi Nhân: là cõi mà Bồ-tát mười Địa nương vào, lấy bản thức làm Thể, tức thuộc về khổ đế hữu lậu. Hoặc do Hậu đắc trí biến hiện ảnh tượng hơn kém thuộc về đạo vô lậu mà cõi trú rộng hay hẹp khác nhau. Các báu trang nghiêm đều do tự trí biến ra, nên có sự tự thọ dụng thô hay diệu khác nhau. Cõi biến dịch của Nhị Thừa tuy thể đồng với Bồ-tát nhưng thô kém. Tây phương Tịnh độ (cõi trú tịnh) là thuộc

* Trang 695 *
device

chúng sinh địa tiền (Địa tiền là trước khi vào Sơ Địa, thuộc Tam Hiền, Thất hiền), lấy bản thức làm thể, nhờ lực bản nguyện của và Phật tự hành, nên được vãng sinh, vì không có trí vô lậu làm vốn liếng chiêu cảm nên tự thọ dụng ngôi vị bảy báu.
Trong cõi uế, mọi giới, thú (loài chúng sinh) hơn hay kém là do tự thức biến ra, cứ theo như vậy thì rõ. Sự khác giống giữa cõi trú Tịnh và cõi trú uế là do nghiệp riêng của chúng sinh, như thông thường đã phân biệt.
Tiếp theo là phần hai - Phối thuộc ngôi vị của vua.
Kinh: Làm Chuyển Luân Thánh Vương ở châu Thiệm Bộ.
Giải thích: Như Kinh thập Địa: Sơ Địa làm Vua cõi Diêm-phù-đề. Kinh Anh Lạc nói: Sơ Địa trở lên làm Lưu ly Luân vương. Kinh Hoa Nghiêm nói: Sơ Địa làm vua cõi Diêm-phù-đề. Kinh này nói là Luân vương. Nói “Diêm phù” là nói trú xứ. Nói “Lưu Ly” là nói về chỗ Thắng diệu. Nói “Luân vương” là nêu về Luân Bảo. Cõi cư trú và cảnh giáo hóa không trái nhau.
Hỏi: Thế thì trong kinh này, Bồ-tát Sơ Địa và Đạo chủng tính Luân vương khác nhau thế nào?
Đáp: Như kệ sau nói: “Quyền hóa hữu tình đi trăm nước”. Trăm này là vì Thánh và phàm khác nhau.
Tiếp đến là phần ba: Tu pháp nhiều ít.
Kinh: Tu trăm Pháp minh môn.
Giải thích: Kinh này nêu chung, không phân biệt về danh số.
Kinh Anh Lạc nói: Mười Tín, mỗi một Tín có mười, tức là trăm pháp minh môn. 1. Kinh Hoa Nghiêm nói: Bồ-tát ở Địa này, nếu hành trì tinh tiến xả bỏ nhà cửa, vợ con, xuất gia học đạo, trong khoảnh khắc một niệm, đắc trăm Tam muội, dùng thiên nhãn tịnh, thấy trăm quốc độ Phật; 2. Thấy trăm Như Lai; 3. Chấn động trăm thế giới. Thân cũng có thể đi đến những thế giới Phật kia, phóng đại quang minh; 4. hóa thành trăm loài, khiến người khác thấy được; 5. Thành thục trăm loài hữu tình được hóa độ; 6. Nếu muốn lưu lại thân thì trụ được trăm kiếp; 7. Thấy được các việc đời trước đời sau trong trăm kiếp tiền, hậu te; 8. Trí kiến có thể nhập trăm pháp minh môn; 9. hóa làm trăm thân; 10. Thân đều có thể hiện ra trăm Bồ-tát Quyến thuộc. Nếu dùng nguyện lực tự tại thị hiện thì vượt quá số đó, cho đến trăm ngàn ức Na-do-tha kiếp không thể tính biết.
Kinh: Dùng Đàn Ba-la-mật đa trụ nơi tâm bình đẳng.
Giải thích: Trong mười độ, Thí độ viên mãn, đủ bảy điều tối thắng,

* Trang 696 *
device

ba luân thanh tịnh, đạt vô phân biệt, trú tâm bình đẳng. Chuyên tu độ này, tất cả thường xả, các độ còn lại đều được tu theo phần lực.
Sau đây là phần năm - Nói về lợi sinh.
Kinh: Hóa độ tất cả chúng sanh nơi bốn thiên hạ.
Giải thích: Dùng đạo mười thiện, hóa độ tạo lợi cho chúng sanh. Các vương sau này đều dùng mười thiện để hóa, xứ có rộng hẹp, hạnh có hơn kém khác nhau.
Dưới đây là phần hai - Nói về Địa Ly cấu, văn chia làm năm phần.
Kinh: Hoặc Bồ-tát Ma-ha-tát trú nơi ngàn cõi Phật làm Đao lợi Thiên vương, tu ngàn pháp minh môn, thuyết giảng đạo mười thiện để hóa độ tất cả chúng sanh.
Giải thích: Cư độ (Cõi trú) rộng dần, làm Thiên đế Thích, mở rộng Sơ Địa trăm minh môn thành ngàn minh môn, tu giới độ viên mãn, dùng mười thiện để hóa độ. Dưới đây là phần ba- nói về Địa phát quang, văn chia làm năm phần như trên.
Kinh: Hoặc Bồ-tát Ma-ha-tát trú nơi vạn cõi Phật, làm Dạ-ma Thiên Vương tu vạn pháp minh môn, nương theo bốn Thiền Định mà hóa độ tất cả chúng sanh.
Giải thích: Bồ-tát nơi địa này, đắc các định thù thắng, thì từng phần, Thiên vương dần dần rộng lớn. Dưới đây là phần bốn - Nói về Địa Diệm Tuệ, văn có năm phần như trên.
Kinh: Hoặc Bồ-tát Ma-ha-tát trú nơi ức cõi Phật, làm Thiên vương cõi trời Đỗ Sử Đa, tu ức pháp minh môn, hành pháp Bồ-đề phần, hóa độ tất cả chúng sanh.
Giải thích: Thiên Vương Tri túc, tu các ức môn Bồ-đề phần, dùng Trí để hóa độ chúng sanh. Tiếp theo là phần năm - nói về Địa-nan Thắng, văn có năm phần như trên.
Kinh: Hoặc Bồ-tát Ma-ha-tát trú nơi trăm ức cõi Phật, làm hóa Lạc Thiên vương, tu trăm ức pháp minh môn, dùng Nhị đế, Tứ đế, hóa độ tất cả chúng sanh.
Giải thích: Sở tu càng lúc càng hơn, trăm ức các môn, quán đủ các đế, để hóa độ chúng sanh. Tiếp đến là phần sáu - nói về Địa Hiện Tiền, văn có năm phần như trên.
Kinh: Nếu Bồ-tát Ma-ha-tát trú nơi ngàn ức cõi Phật, làm Tha hóa tự Tại Thiên vương, tu ngàn ức pháp minh môn, dùng trí mười hai nhân duyên, để hóa độ tất cả chúng sanh.
Giải thích: Trụ ở đỉnh của Dục giới, làm Thiên vương cõi Trời Tha

* Trang 697 *
device

hóa, những sở tu, sở ngộ thảy đều đã chuyển mạnh hơn. Dùng trí Duyên sinh mà hóa độ tạo lợi ích cho chúng sanh. Từ đây là phần bảy, nói về Địa Viễn hành, văn có năm phần như trên.
Kinh: Hoặc Bồ-tát Ma-ha-tát, trú nơi vạn ức cõi Phật, làm Sơ Thiền Phạm Vương, tu vạn ức pháp minh môn, dùng trí phương tiện thiện xảo, hóa độ tất cả chúng sanh.
Giải thích: Trú ở Đại Phạm thiên, Cảnh và tu đều thắng diệu, đắc phương tiện trí giáo, hóa, lợi lạc chúng sanh. Tiếp sau là phần tám - nói về Địa chẳng động, Văn có năm phần như trên.
Kinh: Hoặc Bồ-tát Ma-ha-tát, trú nơi trăm vạn vi trần số cõi Phật, làm đệ Nhị Thiền Phạm vương, tu trăm vạn vi trần số pháp môn, dùng Trí song chiếu Bình đẳng Thần thông Nguyện, hóa độ tất cả chúng sanh.
Giải thích: Trú ở cõi Trời Biến Quang Tịnh, cảnh tu chuyển thắng diệu, song chiếu chân tục hiện đại thần thông, dùng trí đại nguyện để hóa độ lạc, lợi chúng sanh. Sau đây là phần chín: Nói về Địa Thiện Tuệ, văn có năm phần như trên.
Kinh: Hoặc Bồ-tát Ma-ha-tát, trú nơi trăm vạn ức A-tăng-kỳ vi trần số cõi Phật, làm Tam Thiền phạm vương, tu trăm vạn ức A-tăng-kỳ vi trần số Pháp minh môn, dùng Trí bốn vô ngại mà hóa độ tất cả chúng sanh.
Giải thích: Trú ở cõi trời Biến Tịnh, cảnh tu chuyển thắng diệu, Trí dùng bốn vô Ngại, hóa, lợi chúng sanh. Từ đây là phần mười: Nói về Địa Pháp vân. Văn có năm phần như trên.
Kinh: Hoặc Bồ-tát Ma-ha-tát, trú nơi số cõi Phật không thể nói hết được, làm Đại phạm Thiên Vương đệ tứ Thiền, làm chủ của ba cõi, tu số pháp minh môn không thể nói hết được, đắc hết lý Tam muội, đồng với hành xứ của Phật, tận nguồn của ba cõi, lợi khắp chúng sanh như cảnh giới của Phật.
Giải thích: Bất khả thuyết (không thể nói hết được): Như Kinh Hoa Nghiêm quyển bốn mươi lăm nói: Bất khả thuyết tức là một trăm mười chín con số. Nếu “bất khả thuyết, bất khả thuyết” tức là hơn hai trăm hai mươi con số.
“Trú ở đỉnh của Sắc giới, cung Đại tự tại, làm chủ cả ba cõi, cảnh tu tối thắng; đắc hết lý Tam muội”: là chiếu giải lý tột cùng, nên gọi  là hết lý tận. Tam muội thì có thể nhận biết. Đó tức là định Kim-cương sau cùng.
Đồng với hành xứ của Phật: là đồng với nhẫn Tịch diệt.

* Trang 698 *
device

Tận Nguồn của ba cõi; Theo Bản ký nói: Thức A-lại-da được xem là Bản Nguyên. Như Khởi Tín Luận nói: ở vô minh Căn bản mà khởi Nghiệp Thức. gốc Tập, gốc Khổ là gốc của Ba cõi. Thánh Trí đoạn dứt những thứ đó, nên gọi là Tận.
Lợi khắp chúng sanh...: Nghĩa là trong Địa này lợi cho hữu tình, chứng Chơn đạt Tục, đều là phần tối thắng, giống với cảnh Phật. Cho nên kinh Đại phẩm nói: Bồ-tát Thập Địa nên biết là như Phật. Lại nói: Kiến tánh chưa rõ, tức là nghĩa đó.
Từ đây là phần ba - kết về chư Phật, trong đó chia làm hai phần. Phần một - kết về chư Bồ-tát.
Kinh: Đó là vì Bồ-tát Ma-ha-tát hiện thân các vua để làm việc hóa độ dẫn dắt.
Giải thích: Như văn đã rõ. Từ đây phần hai - Kết về chư Phật
Kinh: Mười phương Như Lai cũng lại như vậy, chứng Vô thượng giác, thường hiện hữu khắp pháp giới, lợi lạc chúng sanh.
Giải thích: Không những Bồ-tát nương theo đó lợi sinh, mà mười phương Như Lai cũng lại như vậy. Thường làm lợi lạc khắp pháp giới.
Từ đây là phần hai: Nêu Thuyết kệ tán. Trong đó có ba phần:
1. Đại chúng cúng dường; 2. Vua thuyết kệ tán; 3. Nghe pháp được ích. Dưới đây là phần một - Đại chúng cúng dường.
Kinh: Bấy giờ, tất cả đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy, rải hoa Phạm, hương thơm không thể nói hết, cung kính cúng dường, xưng tán Như Lai.
Giải thích: Được nghe pháp vui mừng, cúng dường xưng tán.
Tiếp theo là phần hai - vua thuyết kệ tán. Trong đó chia làm hai đây là phần một - Nêu vua thuyết kệ.
Kinh: Lúc này, Vua Ba-tư-nặc, liền ở trước Phật dùng kệ tán thán.
Giải thích: Chữ kệ ở đây có ba giải thích: 1. Kệ là hết, tức thâu nhiếp hết các nghĩa; 2. Kệ là nghỉ ngơi, dừng lời nghỉ ngơi; 3. Tiếng Phạm gọi là Già Tha, tiếng Hoa gọi là phúng tụng. Người dịch Kinh xưa, dùng chữ “Kệ Tha”, rồi lược bỏ chữ Tha, chỉ dùng chữ kệ.
Từ đây là phần hai - Chính nói về kệ tán, gồm ba mươi kệ. Chia làm ba phần: 1. Có ba kệ: Tán thán về ba đức của Phật; 2. Có hai mươi sáu kệ rưỡi: tán thán rộng về năm nhẫn; 3. Nửa kệ, kết tán, Kính lễ. Trong phần tán thán về ba đức, chia làm ba phần: 1. Tán thán về đức của ba nghiệp; 2. Tán thán về các thứ vi diệu có đủ; 3. Tán thán về sự sâu xa của pháp đã thuyết.

* Trang 699 *
device

Dưới đây là phần một: Tán thán về đức của ba nghiệp.
Kinh:
Thế Tôn đạo sư, thể Kim cang
Tâm hành tịch diệt, chuyển pháp luân
Tám biện viên âm nhằm khai diễn
Thời chúng đắc đạo trăm vạn ức.
Giải thích: Thế Tôn: như đã nói trên
Đạo sư: Thiện xảo đầy đủ như người thuyền trưởng hướng dẫn tìm được châu báu ở biển. Ở đây là hướng dẫn thành Phật.
Thể Kim cang: là kiên cố đầy đủ. Thể là thân. Thân Phật kiên cố giống như Kim cang, là tán thán về đức của thân.
Tâm hành: là Bi Trí đầy đủ, bốn phẩm trí tâm gọi chung là tâm, thường chiếu hai đế, cho nên gọi là hành.
Tịch diệt: là giải thoát. Càng động càng tịch, gọi là tịch diệt. Là tán tán đức của tâm. Như kinh Tịnh Danh nói; “tâm tịnh đã độ các thiền định” là không trái với đây.
Chuyển pháp luân: Là tán thán đức của Ngữ. Chuyển là khởi. Pháp là pháp của giáo lý hành quả nơi ba thừa đã thuyết giảng. Luân là tròn đủ, giống như bánh xe, vì phá bỏ các chướng ngại, có thể vận dụng. nghĩa là Đức Phật đã chuyển diệu pháp vô thượng đến người khác, người khác cứ như vậy mà chuyển cho nhau. nghĩa của Chuyển pháp luân như thường phân biệt.
Tám biện: Tám là tám âm. Biện là bảy biện. Tám âm là như kinh Phạm Ma Dụ nói: 1. Thanh hay nhất; 2. Thanh dễ hiểu; 3. Thanh điều hòa; 4. Thanh mềm mại; 5. Thanh không lầm; 6. Thanh không nữ; 7. Thanh tôn tuệ; 8. Thanh sâu xa.
Bảy Biện là: 1. Biện nhanh: cần nói liền nói không bị trở ngại; 2. Biện chóng: như thác đổ không chậm chạp; 3. Biện đúng: đúng thời, đúng cơ, không tăng giảm; 4. Biện không sai sót: những điều nói ra đều kết hợp với lý, không sai lệch; 5. Biện không dứt hết: Tương tục liên hoàn không bao giờ hết; 6. Biện nói nghĩa vị phong phú: vì mỗi một câu nói đều hàm chứa nhiều sự ly; 7. Là lời biện giải tối thượng diệu trong tất cả thế gian: đầy đủ sâu xa, như sấm rền.
Viên âm: một âm, viên âm, nghĩa thông suốt nhiều cách hiểu.  Có thuyết nói: chư Phật vô hình, vô thanh, vì đối với các căn thích hợp, như hang sâu rỗng, tiếng vang hiện ra vô lượng âm thanh, tùy theo mỗi mỗi căn tính, nhận được một âm, khắp cả mười phương, nên gọi là viên âm.

* Trang 700 *
device

Có thuyết nói: Chư Phật thật có sắc thanh, âm Phật Viên mãn, không có vận khúc khác lạ. Như Kinh nói: Phật dùng một âm diễn thuyết pháp, chúng sanh tùy loài đều được hiểu.
Có thuyết nói: Chư Phật thật có nhiều loại âm thanh, nhưng do Phật âm vô chướng, Không ngại, tất cả tức là một nên gọi là một âm. một tức tất cả nên gọi là Viên âm, do đủ các đức rộng vì các loài mở bày diễn nói. Đó là tán thán đức của Ngữ. Đức của ba nghiệp trên, tức là ba Mật môn, tức là ba sự chỉ dẫn trong sự dụng.
Thời chúng đắc đạo trăm vạn ức: là tán thán sự, thuyết giảng đúng với căn tánh.
Tiếp theo là phần hai - tán thán về các thứ vi diệu được nhận.
Kinh:
Trời người đều tu hạnh xuất ly.
Thường tập tất cả đạo Bồ-tát.
Giải thích: Trời và Người đều tu: Hoặc Trời, hoặc Người tuy khác loài nhưng thọ nhận bình đẳng, đều có thể tu tập đạo, Bồ-tát xuất ly của đại thừa. Do đây nói, chủng tính ba Thừa hễ đến hội này thì đều tu Đại Thừa. Những điều nói trên tức là Tam bảo. Tiếp đến là phần ba: tán thán về sự sâu xa của pháp đã thuyết, trong đó chia làm ba: 1. Nói về đức của năm nhẫn.
Kinh:
Công đức năm nhẫn diệu pháp môn.
Mười bốn Bồ-tát thường hiểu rõ.
Giải thích: Năm nhẫn: năm nhẫn như trên đã nói. Công đức: Công đức của vạn hạnh mà Bồ-tát đã tu Diệu pháp môn; là pháp môn thâm diệu từ phàm đến Thánh. Mười bốn Bồ-tát: Ba Hiền, mười địa và Đẳng giác thành là mười bốn. Thường hiểu rõ: Là kiến giải, chứng tu, có thể hiểu rõ.
Từ đây là phần hai - Nói về Nhân quả khác nhau.
Kinh:
Ba Hiền mười Thánh, hành trong nhẫn.
Chỉ một mình Phật mới tận gốc.
Giải thích: Bồ-tát trong nhân nương vào đó hướng đến cầu, nên là hành trong nhẫn, chỉ quả Phật là tròn đủ, Đức và Hạnh đều viên mãn, chỉ một mình Đức Phật mới tận nguồn. Tiếp theo là phần ba: Nói về Tam bảo Tạng.
Kinh:
Phật Pháp Chúng biển tạng Tam bảo

* Trang 701 *
device

Vô lượng công đức thâu trong đó.
Giải thích: Phật pháp chúng: là nêu tên của Tam bảo. Cùng một thể Chơn như tức là tánh nhẫn. Chủ thể thuyết, đối tượng được thuyết, các người tu hành, tức là tướng riêng.
Nói biển tức tán thán nhẫn sâu rộng, bao hàm cả Tam bảo, tích chứa làm Tạng (kho tàng).
Vô lượng Công đức: tán thán về chỗ nêu giảng hết sức sâu xa. Hằng sa Công đức hữu vi vô vi đều chứa trong nhẫn, nên gọi là thâu nhiếp.
Dưới đây là phần hai - Có hai mươi sáu kệ rưỡi, tán thán rộng về năm nhẫn. Phân hai: 1. Có hai mươi bốn kệ tán thán rộng về năm nhẫn; 2. Có hai kệ rưỡi, tán thán về đức Bi sâu xa của Phật. Trong phần đầu nói về năm nhẫn có hai: Phần đầu có hai mươi ba kệ, nêu rõ rộng về năm nhẫn phần sau có một kệ nêu rõ về nhân quả đối xứng. Hai mươi ba kệ đầu chia làm sáu: 1 - 4 kệ rưỡi: Nói về Phục nhẫn. Trong đó chia làm hai:
Tán thán chung bốn vua.
Nói chung về Phục nhẫn.
Phần một - lại có hai phần: 1. Nói về Vị Thập Thiện.
 
 
****

* Trang 702 *
device

Đại Tập 116 - Bộ Kinh Sớ II - Số 1705 ->1709