LOGO VNBET
KINH MA-HA BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

QUYỂN 6


Phẩm 20: HƯỚNG ĐẾN
 
Phật bảo Tu-bồ-đề:
–Ông hỏi thế nào là Đại Bồ-tát hướng đến Đại thừa?
Này Tu-bồ-đề! Nếu Đại Bồ-tát lúc thực hành sáu pháp Ba-la-mật, từ một địa này đến một địa khác, đó gọi là Đại Bồ-tát hướng đến Đại thừa.
Tu-bồ-đề bạch Phật:
–Bạch Đức Thế Tôn! Thế nào là Đại Bồ-tát từ một địa này đến một địa khác?
Phật dạy:
–Đại Bồ-tát biết tất cả pháp không có tướng đến và đi, cũng không có pháp hoặc đến đi, hoặc đến, chẳng đến, vì các pháp tướng bất diệt.
Đại Bồ-tát đối với các địa chẳng  nghĩ nhớ, chẳng tư duy mà tu tập trị địa nghiệp, cũng chẳng thấy địa.
Thế nào là Trị địa nghiệp?
Lúc an trụ Sơ địa, Đại Bồ-tát thực hành mười việc:
1.Thâm tâm kiên cố, vì dụng không thật có.
2.Đối với tất cả chúng sinh tâm bình đẳng, vì chúng sinh không thật có.
3.Bố thí cho người, vì thọ giả không thật có.
4.Gần gũi Thiện tri thức, cũng chẳng tự cao.
5.Cầu pháp, vì tất cả pháp không thật có.
6.Thường xuất gia, vì gia không thật có.
7.Ưa thích thân Phật, vì tướng tốt không thật có.

* Trang 134 *
device

8.Giảng nói giáo pháp xuất thế, vì phân biệt các pháp không thật có.
9.Phá kiêu mạn, vì pháp sinh tuệ không thật có.
10.Thật ngữ, vì các ngữ ngôn không thật có.
Trên đây là mười việc trị địa nghiệp mà Đại Bồ-tát an trụ ở Địa thứ nhất tu tập.
Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát an trụ trong bậc Địa thứ hai thường nhớ tám pháp, tám pháp đó là:
1.Giới thanh tịnh.
2.Biết ân và báo ân.
3.An trụ trong năng lực nhẫn nhục.
4.Được vui mừng.
5.Chẳng rời bỏ tất cả chúng sinh.
6.Nhập tâm đại Bi.
7.Kính tin và thưa hỏi thầy.
8.Cần cầu các môn Ba-la-mật.
Đây là Đại Bồ-tát an trụ trong Địa thứ hai đầy đủ tám pháp.
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát an trụ trong Địa thứ ba thực hành năm pháp, năm pháp gồm:
1.Học vấn nhiều nhưng không tự mãn.
2.Thanh tịnh pháp thí cũng chẳng tự cao.
3.Thanh tịnh cả Phật cũng chẳng tự cao.
4.Chịu đựng vô lượng sự đau khổ thế gian mà vẫn chẳng nhàm chán.
5.An trụ trong hổ thẹn.
Đây là năm pháp mà Đại Bồ-tát an trụ trong bậc Địa thứ ba phải đầy đủ.
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát an trụ trong Địa thứ tư phải lãnh thọ thực hành chẳng bỏ mười pháp. Mười pháp ấy là:
1.Chẳng bỏ chỗ A-lan-nhã.
2.Ít muốn.
3.Biết đủ.

* Trang 135 *
device

4.Chẳng bỏ công đức Đầu-đà.
5.Chẳng bỏ giới.
6.Quở trách chán ghét các dục nhiễm.
7.Nhàm lìa tâm thế gian, thuận theo tâm Niết-bàn.
8.Xả bỏ tất cả những gì mình có.
9.Tâm chẳng dính mắc nặng nề.
10.Chẳng tiếc tất cả vật.
Đây là mười pháp mà Đại Bồ-tát an trụ trong Địa thứ tư chẳng bỏ.
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát an trụ trong Địa thứ năm xa lìa mười hai pháp, mười hai pháp ấy là:
1.Xa lìa sự gần gũi người tại gia.
2.Xa lìa Tỳ-kheo-ni.
3.Xa lìa sự tham tiếc nhà người khác.
4.Xa lìa việc nói suông vô ích.
5.Lìa bỏ sự giận hờn.
6.Lìa bỏ sự tự tôn tự đại.
7.Không khinh miệt người khác.
8.Xa lìa mười nghiệp bất thiện.
9.Không gặp đại nạn.
10.Lìa bỏ tự dụng.
11.Xa lìa điên đảo.
12.Dứt bỏ tham, sân, si.
Đây là mười hai điều mà Đại Bồ-tát an trụ trong Địa thứ năm phải xa lìa.
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát an trụ trong Địa thứ sáu nên có đủ sáu pháp, chính là sáu pháp Ba-la-mật.
Địa thứ sáu lại có sáu pháp chẳng nên làm, sáu pháp ấy là:
1.Chẳng sinh tâm Thanh văn, Bích-chi-phật.
2.Chẳng có ý lo ngại khi bố thí.
3.Bị đòi hỏi cầu xin, không có tâm trốn tránh.
4.Những vật mình có đều đem bố thí.

* Trang 136 *
device

5.Sau khi bố thí, không có ý hối tiếc.
6.Chẳng nghi ngờ pháp thâm diệu.
Đây là sáu pháp phải đầy đủ và sáu pháp phải xa lìa của Đại Bồ-tát an trụ trong Địa thứ sáu, hai mươi pháp ấy là:
1.Không chấp ngã.
2.Không chấp chúng sinh.
3.Không chấp thọ giả.
4.Không chấp số chúng sinh cho đến người biết, người thấy.
5.Không chấp đoạn kiến.
6.Không chấp thường kiến.
7.Không nên khởi tướng trạng.
8.Không nên khởi duyên kiến.
9.Không chấp danh sắc.
10.Không chấp năm ấm.
11.Không chấp mười hai nhập.
12.Không chấp mười tám giới.
13.Không chấp ba giới.
14.Không khởi tâm chấp trước.
15.Không khởi chỗ mong cầu.
16.Không khởi chỗ y chỉ.
17.Không chấp trước vào sự thấy biết là phải nương nơi Phật.
18.Không chấp trước vào sự thấy biết là phải nương nơi Pháp.
19.Không chấp trước vào sự thấy là phải nương nơi Tăng.
20.Không chấp trước vào sự thấy biết là phải nương nơi giới.
Đây là hai mươi điều chẳng nên chấp trước.
Lại có hai mươi pháp mà bậc trụ Địa thứ bảy phải đầy đủ, hai mươi pháp ấy là:
1.Đầy đủ không.
2.Chứng vô tướng.
3.Biết vô tác.
4.Ba phần thanh tịnh.
5.Đối với chúng sinh có trí Từ bi.

* Trang 137 *
device

6.Chẳng nhớ tưởng tất cả chúng sinh.
7.Bình đẳng quán tất cả pháp, ở đây cũng chẳng chấp trước.
8.Biết thật tướng các pháp, cũng chẳng niệm tưởng việc này.
9.Vô sinh pháp nhẫn.
10.Vô sinh trí.
11.Không giảng nói các pháp là một tướng.
12.Phá tướng phân biệt.
13.Chuyển đổi nhớ tưởng.
14.Chuyển đổi các kiến chấp.
15.Chuyển đổi phiền não.
16.Đồng định tuệ bằng nhau.
17.Điều phục ý.
18.Tâm vắng lặng.
19.Không có trí hạn hẹp.
20.Chẳng nhiễm ái.
Trên đây là hai mươi điều chẳng nên chấp trước và hai mươi điều mà bậc Đại Bồ-tát Địa thứ bảy phải đầy đủ.
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát an trụ trong bát địa phải đầy đủ năm pháp, năm pháp ấy là:
1.Thuận nhập theo tâm chúng sinh.
2.Dạo chơi trong các thần thông.
3.Thấy các cõi Phật.
4.Tự trang nghiêm cõi nước mình như cõi Phật đã thấy.
5.Quán thân Phật như thật, tự trang nghiêm thân Phật.
Lại phải có đủ năm điều:
1.Biết các căn tánh thượng hạ.
2.Thanh tịnh cõi Phật.
3.Nhập Tam-muội như huyễn.
4.Thường nhập Tam-muội.
5.Tùy theo cội lành thích ứng với chúng sinh mà thọ thân.
Này Tu-bồ-đề! Đây là năm pháp và năm điều mà Đại Bồ-tát Địa thứ tám phải có đủ.

* Trang 138 *
device

Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát an trụ ở Địa thứ chín phải có đủ mười hai pháp, mười hai pháp ấy là:
1.Nhận lấy vô biên thế giới thuộc phần mình hóa độ.
2.Bồ-tát được như chỗ nguyện cầu.
3.Biết tiếng nói của các Trời, Rồng, Càn-thát-bà để nói pháp cho họ nghe.
4.Thành tựu thai sinh.
5.Thành tựu nhà.
6.Thành tựu chỗ sinh.
7.Thành tựu họ.
8.Thành tựu quyến thuộc.
9.Thành tựu xuất sinh.
10.Thành tựu xuất gia.
11.Thành tựu trang nghiêm cây Bồ-đề.
12.Thành tựu tất cả các công đức lành.
Này Tu-bồ-đề! Đó là mười hai pháp mà vị Đại Bồ-tát Địa thứ chín phải có đủ.
Này Tu-bồ-đề! Phải biết bậc Đại Bồ-tát ở Địa thứ mười giống như Đức Phật.
Bấy giờ, Tuệ mạng Tu-bồ-đề bạch Phật:
–Bạch Đức Thế Tôn! Thế nào là thâm tâm trị địa nghiệp của Đại Bồ-tát?
Phật dạy:
–Nếu Đại Bồ-tát tương ưng với tâm của Nhất thiết trí, chứa tích tất cả cội lành, đó gọi là Đại Bồ-tát thâm tâm trị địa nghiệp của Đại Bồ-tát.
Thế nào là Đại Bồ-tát khởi tâm bình đẳng đối với tất cả chúng sinh?
Đức Phật dạy:
–Đại Bồ-tát tương ưng với tâm Nhất thiết trí, sinh khởi bốn Tâm vô lượng là Từ, Bi, Hỷ, Xả, đó gọi là tâm bình đẳng đối với tất cả chúng sinh.

* Trang 139 *
device

Thế nào là Đại Bồ-tát tu tập bố thí?
Đức Phật dạy:
–Đại Bồ-tát bố thí cho tất cả chúng sinh mà không phân biệt, đó gọi là tu bố thí.
Thế nào là Đại Bồ-tát gần gũi Thiện tri thức?
Đức Phật dạy:
–Nếu gần gũi học hỏi, cung kính cúng dường các bậc có khả năng giáo hóa người an trụ trong trí Nhất thiết, đó gần gũi Thiện tri thức.
Thế nào là Đại Bồ-tát có tâm cầu pháp?
Đức Phật dạy:
–Nếu Đại Bồ-tát tâm cầu pháp tương ưng với trí Nhất thiết không theo các Thanh văn, Bích-chi-phật, đó gọi là cầu pháp.
Thế nào là Đại Bồ-tát thường xuất gia trị địa nghiệp?
Đức Phật dạy:
–Nếu Đại Bồ-tát đời đời chẳng lìa tâm xuất gia, thường xuất gia trong Phật pháp không ai ngăn trở được, đó gọi là thường xuất gia trị địa nghiệp.
Thế nào là Đại Bồ-tát ưa thích thân tướng Phật tu trị địa nghiệp?
Đức Phật dạy:
–Nếu Đại Bồ-tát thấy thân tướng Phật, cho đến khi thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chẳng bao giờ rời niệm Phật, đó gọi là ưa thích thân tướng Phật tu trị địa nghiệp.
Thế nào là Đại Bồ-tát giảng nói giáo pháp xuất thế tu trị địa nghiệp?
Đức Phật dạy:
–Nếu Đại Bồ-tát hoặc Phật hiện tại, hoặc Phật đã nhập diệt, nói pháp cho chúng sinh nghe, đầu, giữa, cuối đều lành, lời và  Nghĩa tuyệt hảo, thuần tịnh hoàn hảo, từ Tu-đa-la cho đến Ưu-ba-đề-xá. đó gọi là giảng nói giáo pháp xuất thế tu trị địa nghiệp.
Thế nào là Đại Bồ-tát phá trừ kiêu mạn tu trị địa nghiệp?
Đức Phật dạy:
–Đại Bồ-tát vì phá trừ kiêu mạn nên chẳng bao giờ thọ sinh

* Trang 140 *
device

vào nhà thấp hèn. Đó gọi là phá trừ kiêu mạn tu trị địa nghiệp.
Thế nào là Đại Bồ-tát thật ngữ tu trị địa nghiệp?
Đức Phật dạy:
–Đại Bồ-tát đúng như lời mà thực hành, đó gọi là thật ngữ tu trị địa nghiệp.
Trên đây là mười sự tu trị địa nghiệp của Đại Bồ-tát an trụ trong bậc Địa thứ nhất mà tu hành.
Thế nào là Bồ-tát giữ giới thanh tịnh?
Này Tu-bồ-đề! Nếu Đại Bồ-tát chẳng khởi tâm Thanh văn, Bích-chi-phật và những việc phá giới làm chướng ngại Phật đạo, đó gọi là giới thanh tịnh.
Thế nào là Bồ-tát biết ân, báo ân?
Nếu Đại Bồ-tát thực hành hạnh Bồ-tát, cho đến một chút ân nhỏ còn chẳng quên, huống chi là ân lớn, đó gọi là biết ân, báo ân.
Thế nào là Bồ-tát an trụ vào năng lực nhẫn nhục?
Nếu Đại Bồ-tát đối với tất cả chúng sinh không giận hờn, không làm não hại, đó gọi là an trụ năng lực nhẫn nhục.
Thế nào là Bồ-tát được vui mừng?
 Nghĩa là lấy sự giáo hóa thành tựu chúng sinh làm niềm vui, đó gọi là được vui mừng.
Thế nào là Bồ-tát chẳng bỏ tất cả chúng sinh?
Nếu Bồ-tát  nghĩ nhớ muốn cứu giúp tất cả chúng sinh, đó gọi là chẳng bỏ tất cả chúng sinh.
Thế nào là Bồ-tát nhập vào tâm đại Bi?
Nếu Bồ-tát  nghĩ rằng: “Ta từng vì chúng sinh mà chịu sự đau khổ trong địa ngục suốt hằng hà sa kiếp cho đến khi chúng sinh ấy thành Phật, nhập Niết-bàn.” Đó là vì tất cả chúng sinh mười phương mà chịu đựng sự khổ nhọc, nên gọi là nhập tâm đại Bi.
Thế nào là Bồ-tát tin tưởng, cung kính học hỏi với bậc Sư trưởng?
Nếu Bồ-tát đối với bậc Sư trưởng xem như Phật, đó gọi là tin tưởng cung kính học hỏi với bậc Sư trưởng.
Thế nào là Bồ-tát siêng cầu các Ba-la-mật?

* Trang 141 *
device

Nếu Bồ-tát nhất tâm siêng năng cầu các môn Ba-la-mật mà không cầu việc khác, đó gọi là cần cầu các Ba-la-mật.
Trên đó gọi là tám pháp mà Đại Bồ-tát an trụ trong bậc Địa thứ hai phải có đủ.
Thế nào là Đại Bồ-tát học vấn nhiều nhưng không tự mãn?
Này Tu-bồ-đề! Hoặc ở thế giới này hay ở các thế giới trong mười phương có bao nhiêu chánh pháp của chư Phật giảng nói thì đều muốn được nghe nhớ thọ trì, đó gọi là học vấn nhiều mà không tự mãn.
Thế nào là pháp thí thanh tịnh của Bồ-tát?
Tất cả pháp thí, cho đến còn chẳng cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác huống là những việc khác, đó gọi là pháp thí chẳng cầu danh lợi.
Thế nào là Bồ-tát trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật?
Hồi hướng tất cả căn lành làm thanh tịnh cõi Phật, đó gọi là trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật.
Thế nào là Bồ-tát chịu đựng vô lượng sự khổ nhọc thế gian mà chẳng nhàm chán?
Vì đầy đủ thiện căn nên có khả năng thành tựu chúng sinh, cũng trang nghiêm cõi Phật, cho đến đầy đủ Nhất thiết trí không bao giờ nhàm chán, đó gọi là chịu đựng vô lượng sự đau khổ mà chẳng nhàm chán.
Thế nào là Bồ-tát an trụ trong hổ thẹn?
Hổ thẹn với các Thanh văn, Bích-chi-phật, đó gọi là an trụ trong hổ thẹn.
Trên đây là Đại Bồ-tát an trụ bậc Địa thứ ba có đủ năm pháp.
Thế nào là Bồ-tát chẳng bỏ chỗ A-lan-nhã?
Này Tu-bồ-đề! Bồ-tát có khả năng cao hơn bậc Thanh văn, Bích-chi-phật, đó gọi là chẳng bỏ chỗ A-lan-nhã.
Thế nào là Bồ-tát ít muốn?
Vì niệm mong muốn đạt được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác còn không có, huống chi là những sự mong muốn khác, đó gọi là ít muốn.

* Trang 142 *
device

Thế nào là Bồ-tát biết đủ?
Được Nhất thiết chủng trí, đó gọi là biết đủ.
Thế nào là Bồ-tát chẳng bỏ công đức Đầu-đà?
Quán sát các pháp nhẫn sâu xa, đó gọi là chẳng bỏ công đức Đầu-đà.
Thế nào là Bồ-tát chẳng bỏ giới?
Chẳng chấp giới tướng, đó gọi là chẳng bỏ giới.
Thế nào là Bồ-tát quở trách chán ghét các dục nhiễm?
Vì tâm dục chẳng phát sinh, đó gọi là quở trách chán ghét các dục nhiễm.
Thế nào là Bồ-tát nhàm chán tâm thế gian mà thuận theo tâm Niết-bàn?
Vì biết tất cả pháp chẳng tạo tác, đó gọi là nhàm chán tâm thế gian mà thuận theo tâm Niết-bàn.
Thế nào là Bồ-tát xả bỏ tất cả vật mình có?
Chẳng tiếc tất cả nội pháp, ngoại pháp, đó gọi là xả bỏ tất cả sở hữu.
Thế nào là Bồ-tát tâm chẳng dính mắc nặng nề?
Tâm chẳng sinh khởi ở hai thứ thức và xứ, đó gọi là tâm chẳng dính mắc nặng nề.
Thế nào là Bồ-tát chẳng tiếc tất cả vật?
Đối với tất cả vật chẳng chấp trước, chẳng  nghĩ nhớ, đó gọi là chẳng tiếc tất cả vật.
Trên đây là mười pháp chẳng bỏ của Đại Bồ-tát an trụ ở bậc Địa thứ tư.
Thế nào là Bồ-tát xa lìa sự gần gũi người tại gia?
Này Tu-bồ-đề! Bồ-tát sinh nơi đâu cũng đều xuất gia, từ cõi Phật này đến cõi Phật khác thường xuất gia cạo tóc mặc ca-sa, đó gọi là xa lìa sự gần gũi người tại gia.
Thế nào là Bồ-tát xa lìa Tỳ-kheo-ni?
Chẳng ở chung chỗ với Tỳ-kheo-ni, cho đến chẳng  nghĩ nhớ dù trong khoảng thời gian như búng ngón tay, đó gọi là xa lìa Tỳ-kheo-ni.

* Trang 143 *
device

Thế nào là Bồ-tát xa lìa sự lẫn tiếc nhà người khác?
Bồ-tát  nghĩ rằng: “Tôi phải tạo sự an vui cho chúng sinh, nay họ giúp tôi an vui sao lại sinh tâm lẫn tiếc”, đó gọi là xa lìa sự lẫn tiếc nhà người khác.
Thế nào là Bồ-tát dứt bỏ những lời luận bàn vô ích?
Nếu có chỗ nào luận bàn có thể phát sinh tâm Thanh văn, Bích-chi-phật, thì ta phải xa lìa, đó gọi là xa lìa chỗ luận bàn vô ích.
Thế nào là Bồ-tát xa lìa tâm sân?
Chẳng để cho tâm giận hờn, tâm não hại, tâm đấu tranh xen vào, đó gọi là xa lìa tâm sân.
Thế nào là Bồ-tát xa lìa sự tự tôn tự đại?
Chẳng thấy có nội pháp, đó gọi là xa lìa sự tự tôn tự đại.
Thế nào là Bồ-tát không khinh dễ người?
Chẳng thấy có ngoại pháp, đó gọi là không khinh dễ người.
Thế nào là Bồ-tát xa lìa mười nghiệp bất thiện?
Mười nghiệp bất thiện làm chướng ngại tám Thánh đạo, huống chi quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đó gọi là xa lìa mười nghiệp đạo bất thiện.
Thế nào là Bồ-tát lìa bỏ đại kiêu mạn?
Chẳng thấy pháp gì có thể làm đại kiêu mạn, đó gọi là xa lìa đại kiêu mạn.
Thế nào là Bồ-tát xa lìa tự dụng?
Chẳng thấy pháp gì có thể tự dùng được, đó gọi là xa lìa tự dụng.
Thế nào là Bồ-tát xa lìa điên đảo?
Chỗ điên đảo không thật có, đó gọi là xa lìa điên đảo.
Thế nào là Bồ-tát xa lìa tham, sân, si?
Chẳng thấy được chỗ tham, sân, si, đó gọi là xa lìa tham, sân, si.
Trên đây là Đại Bồ-tát an trụ trong Địa thứ năm xa lìa mười hai pháp.

* Trang 144 *
device

Thế nào là Bồ-tát an trụ trong Địa thứ sáu đầy đủ sáu pháp?
An trụ trong sáu pháp Ba-la-mật có khả năng vượt đến bờ kia, đó gọi là đầy đủ sáu pháp.
Thế nào là Bồ-tát chẳng sinh tâm Thanh văn, Bích-chi-phật?
Này Tu-bồ-đề! Bồ-tát  nghĩ rằng tâm Thanh văn, Bích-chi-phật chẳng phải đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Thế nào là Bồ-tát bố thí chẳng sinh tâm lo phiền?
Bồ-tát  nghĩ rằng nếu như vậy thì chẳng phải đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Thế nào là Bồ-tát chẳng có lòng trốn tránh khi bị cầu xin?
Bồ-tát  nghĩ rằng nếu như vậy thì chẳng phải đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Thế nào là Bồ-tát bố thí những vật mình có?
Bồ-tát mới phát tâm, lúc bố thí chẳng nói cái này cho được, cái này chẳng cho được.
Thế nào là Bồ-tát bố thí rồi tâm không hối hận?
Vì năng lực từ bi nên sau khi bố thí chẳng ăn năn.
Thế nào là Bồ-tát chẳng nghi ngờ pháp thâm diệu?
Vì năng lực của công đức kính tin cho nên chẳng nghi ngờ pháp thâm diệu.
Trên đây là Đại Bồ-tát an trụ ở Địa thứ sáu xa lìa sáu pháp.
Bồ-tát chẳng chấp đắm ngã nên hoàn toàn vô ngã.
Bồ-tát chẳng chấp đắm chúng sinh, chẳng chấp đắm thọ mạng, chẳng chấp trước hữu tình cho đến cái biết, cái thấy nên các pháp rốt ráo không thật có.
Bồ-tát chẳng chấp đoạn kiến, không có pháp đoạn diệt nên các pháp hoàn toàn không sinh.
Bồ-tát chẳng chấp thường kiến, vì pháp chẳng sinh nên cũng chẳng thường còn.
Bồ-tát chẳng tương ưng với sự chấp chặt tướng nên không có các phiền não.
Bồ-tát chẳng tương ưng với sự tạo tác nhân duyên kiến chấp nên các kiến chấp đều chẳng thật có.

* Trang 145 *
device

Bồ-tát chẳng chấp trước danh sắc, nên danh sắc, các xứ, tướng trạng đều không thật có.
Bồ-tát chẳng chấp trước năm ấm, chẳng chấp trước mười tám giới, chẳng chấp trước mười hai nhập, nên tánh các pháp đều không thật có.
Bồ-tát chẳng chấp trước ba cõi, nên tánh ba cõi đều không thật có.
Bồ-tát chẳng tương ưng với sự khởi tâm, chẳng tương ưng với sự phát nguyện và chẳng tương ưng với sự tạo tác, chỗ nương tựa, nên tánh các pháp đều không.
Bồ-tát chẳng chấp vào quan điểm nương tựa Phật, vì thấy nương tựa Phật là chẳng thấy Phật.
Bồ-tát chẳng chấp vào quan điểm nương tựa Pháp, vì Pháp chẳng thể thấy.
Bồ-tát chẳng chấp vào quan điểm nương tựa Tăng, vì tướng vô vi của tăng chẳng thể nương tựa.
Bồ-tát chẳng chấp vào quan điểm nương tựa giới, vì tội và vô tội đều không dính mắc.
Trên đây là hai mươi pháp chẳng nên chấp trước của Đại Bồ-tát an trụ trong bậc Địa thứ bảy.
Bồ-tát tương ưng với cụ túc không, nên có đủ các pháp, tự tướng không.
Bồ-tát chứng vô tướng, nên chẳng  nghĩ nhớ các tướng.
Bồ-tát biết không có tạo tác, nên chẳng tạo tác trong ba cõi.
Bồ-tát do ba phần thanh tịnh, nên có đủ mười nghiệp lành.
Bồ-tát vì đầy đủ trí từ bi đối với tất cả chúng sinh nên được đại Bi.
Bồ-tát vì chẳng nhớ tưởng tất cả chúng sinh, nên trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật đầy đủ.
Bồ-tát bình đẳng quán sát tất cả pháp nên đối với tất cả pháp chẳng tổn ích.
Bồ-tát vì biết thật tướng các pháp, vì thật tướng các pháp đều không biết.

* Trang 146 *
device

Do các pháp không sinh, không diệt, không tạo tác nên Bồ-tát được pháp Nhẫn vô sinh.
Do biết danh sắc không sinh nên Bồ-tát được Trí không sinh.
Do tâm chẳng hiện hành hai tướng nên Bồ-tát giảng nói các pháp một tướng.
Do tất cả các pháp chẳng phân biệt nên Bồ-tát phá tướng phân biệt.
Do vô lượng tưởng niệm lớn nhỏ đều chuyển nên Bồ-tát chuyển vận sự nhớ tưởng.
Do kiến chấp Thanh văn, Bích-chi-phật chuyển nên Bồ-tát chuyển kiến chấp.
Do dứt trừ các phiền não nên Bồ-tát chuyển phiền não.
Do được Nhất thiết chủng trí nên Bồ-tát định, tuệ đều ngang bằng nhau.
Bồ-tát bất động đối với ba cõi nên ý được điều thuận.
Bồ-tát chế ngự sáu Căn nên tâm vắng lặng.
Bồ-tát vì được mắt Phật nên được trí vô ngại.
Bồ-tát vì xả bỏ sáu trần nên chẳng nhiễm ái.
Trên đây là hai mươi pháp phải đầy đủ của Đại Bồ-tát an trụ ở Địa thứ bảy.
Thế nào là Đại Bồ-tát thuận nhập theo tâm chúng sinh?
Đại Bồ-tát dùng một tâm biết rõ tâm, tâm sở của tất cả chúng sinh.
Thế nào là Đại Bồ-tát dạo chơi trong các thần thông?
Đại Bồ-tát dùng thần thông từ một cõi Phật đến một cõi Phật, cũng không có nhớ  nghĩ cõi Phật.
Thế nào là Đại Bồ-tát quán sát các cõi Phật?
Đại Bồ-tát ở cõi mình mà thấy vô lượng cõi Phật, cũng không có  nghĩ nhớ cõi Phật.
Thế nào là Đại Bồ-tát tự trang nghiêm cõi nước mình như cõi Phật đã được thấy?
Đại Bồ-tát ở ngôi Chuyển luân thánh vương đi khắp tam thiên đại thiên thế giới để tự trang nghiêm cõi nước của mình.

* Trang 147 *
device

Thế nào là Đại Bồ-tát như thật quán thân Phật?
Đại Bồ-tát như thật quán Pháp thân.
Trên đây là Đại Bồ-tát an trụ ở Địa thứ tám đầy đủ năm pháp.
Thế nào là Đại Bồ-tát biết các căn tánh thượng, hạ?
Đại Bồ-tát an trụ trong mười Lực của Phật, biết các căn tánh thượng hạ của tất cả chúng sinh.
Thế nào là Đại Bồ-tát trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật?
Đó là làm thanh tịnh chúng sinh nên cõi Phật thanh tịnh.
Thế nào là Đại Bồ-tát trụ trong Tam-muội Như huyễn?
Đại Bồ-tát trụ trong Tam-muội này thì có khả năng thành tựu tất cả việc, cũng chẳng phát sinh tâm tướng?
Thế nào là Đại Bồ-tát thường nhập Tam-muội?
Đại Bồ-tát được Tam-muội Báo sinh.
Thế nào là Đại Bồ-tát tùy theo chúng sinh mà ứng hiện căn lành thọ thân?
Đại Bồ-tát biết chúng sinh tương ưng với căn lành nào, tùy theo đó thọ thân để giáo hóa thành tựu chúng sinh.
Trên đây là năm điều mà Đại Bồ-tát trụ ở Địa thứ tám được đầy đủ.
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát thọ nhận vô biên thế giới thuộc phần mình hóa độ, thọ nhận chúng sinh trong mười phương vô lượng thế giới, đúng như pháp của chư Phật tùy chỗ đáng độ mà hóa độ, khiến cho giải thoát.
Đại Bồ-tát đầy đủ sáu pháp Ba-la-mật, nên được đúng như những điều mình nguyện cầu.
Đại Bồ-tát nhờ năng lực của Từ vô ngại biện, nên biết tiếng nói của các hàng Trời, Rồng, Càn-thát-bà.
Đại Bồ-tát được thai sinh thành tựu, nên đời đời thường hóa sinh.
Đại Bồ-tát được gia đình thành tựu, nên thường sinh trong nhà vọng tộc.
Đại Bồ-tát được chỗ sinh thành tựu, nên sinh trong dòng Sát-đế-lợi hoặc Bà-la-môn.

* Trang 148 *
device

Đại Bồ-tát theo đúng như họ của Bồ-tát sinh ở quá khứ mà sinh trong đó, nên danh tánh được thành tựu.
Đại Bồ-tát thuần dùng các Đại Bồ-tát làm quyến thuộc, nên quyến thuộc được thành tựu.
Đại Bồ-tát lúc sinh ra, ánh sáng chiếu khắp vô lượng, vô biên thế giới, cũng chẳng chấp lấy tướng ánh sáng, nên sinh ra được thành tựu.
Đại Bồ-tát khi xuất gia có vô lượng các vị trời theo hầu hạ và quyết định đưa chúng sinh đến quả Tam thừa, nên xuất gia thành tựu.
Đại Bồ-tát trang nghiêm cây giác ngộ thành tựu, đó là cây Bồ-đề có gốc bằng vàng ròng, bảy báu làm thân, nhánh, cành, lá; ánh sáng của thân, nhánh, cành, lá chiếu sáng khắp a-tăng-kỳ tam thiên đại thiên thế giới ở mười phương.
Đại Bồ-tát thành tựu đầy đủ tất cả công đức lành, nên được chúng sinh thanh tịnh, cõi Phật cũng thanh tịnh.
Trên đây là mười hai pháp mà Đại Bồ-tát ở Địa thứ chín thành tựu đầy đủ.
Thế nào là Đại Bồ-tát an trụ ở Địa thứ mười phải biết giống như Phật?
Này Tu-bồ-đề! Nếu Đại Bồ-tát có đủ sáu pháp Ba-la-mật, bốn Niệm xứ, cho đến đầy đủ mười tám pháp Bất cộng và Nhất thiết chủng trí, dứt tất cả phiền não và tập khí, thì gọi là Đại Bồ-tát an trụ ở Địa thứ mười phải biết là giống như Phật.
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát an trụ ở Địa thứ mười này dùng năng lực phương tiện để thực hành sáu pháp Ba-la-mật, bốn Niệm xứ cho đến thực hành mười tám pháp Bất cộng, vượt qua bậc Càn tuệ địa, bậc Tánh địa, bậc Bát nhân địa, bậc Kiến địa, bậc Bạc địa, bậc Ly dục địa, bậc  dĩ tác địa, bậc Bích-chi-phật địa, bậc Bồ-tát địa. Vượt qua chín bậc trên mà an trụ Phật địa, đây là mười địa của Bồ-tát.
Như thế, này Tu-bồ-đề! Đó gọi là hướng về Đại thừa của Đại Bồ-tát.

* Trang 149 *
device

Phẩm 21: RA ĐẾN
 
Phật bảo Tu-bồ-đề:
–Này Tu-bồ-đề! Ông hỏi Đại thừa này từ chỗ nào xuất phát và đến an trụ chỗ nào?
Phật nói:
–Này Tu-bồ-đề! Đại thừa này thể hiện ra từ trong ba cõi đến an trụ trong trí Nhất thiết, vì pháp không hai.
Vì sao?
Đại thừa và trí Nhất thiết là hai pháp chẳng hợp, chẳng tan, không sắc tướng, không hình dạng, không đối đãi, là một tướng, chính là vô tướng.
Nếu có người muốn thật tế thể hiện ra, là người muốn pháp vô tướng được thể hiện ra. Nếu có người muốn chân như, pháp tánh, tánh chẳng suy  nghĩ bàn luận thể hiện ra, là người muốn pháp vô tướng thể hiện ra.
Nếu có người muốn sắc không thể hiện ra, là người muốn pháp vô tướng thể hiện ra. Nếu có người muốn thọ, tưởng, hành, thức thể hiện ra, là người muốn pháp vô tướng thể hiện ra.
Vì sao?
Này Tu-bồ-đề! Tướng không của sắc chẳng ngoài ba cõi, cũng chẳng an trụ trí Nhất thiết; tướng không của thọ, tưởng, hành, thức chẳng ngoài ba cõi, cũng chẳng an trụ trí Nhất thiết. Vì sao? Vì sắc, tướng sắc rỗng không; thọ, tưởng, hành, thức và tướng thức cũng rỗng không.
Nếu có người muốn tướng không của nhãn thể hiện ra, là người muốn pháp vô tướng thể hiện ra. Nếu có người muốn tướng không của  nhĩ, tỷ, thiệt thân, ý thể hiện ra, là người muốn pháp vô tướng thể hiện ra.
Nếu có người muốn cho đến tướng không của các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra không thể hiện ra, là người muốn pháp vô tướng thể hiện ra.
Vì sao?

* Trang 150 *
device

Này Tu-bồ-đề! Tướng không của nhãn chẳng ra ngoài ba cõi, cũng chẳng an trụ trí Nhất thiết; tướng không của các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra, chẳng ra ngoài ba cõi, cũng chẳng an trụ trí Nhất thiết. Vì sao? Vì nhãn, nhãn tướng rỗng không cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra, tướng các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra đều rỗng không.
Nếu có người muốn tướng trong mộng thể hiện ra, là người muốn pháp vô tướng thể hiện ra.
Nếu có người muốn sự huyễn ảo,  sóng nắng, tiếng vang, hình bóng và sự biến hóa thể hiện ra, là người muốn pháp vô tướng thể hiện ra.
Vì sao?
Này Tu-bồ-đề! Tướng mộng chẳng ra ngoài ba cõi cũng chẳng an trụ trong trí Nhất thiết; tướng huyễn ảo,  sóng nắng, tiếng vang, hình bóng, sự biến hóa chẳng ra ngoài ba cõi cũng chẳng an trụ trong trí Nhất thiết. Vì sao? Vì mộng, tướng mộng rỗng không cho đến sự biến hóa, tướng biến hóa cũng rỗng không.
Nếu có người muốn Bố thí ba-la-mật thể hiện ra, là người muốn pháp vô tướng thể hiện ra.
Nếu có người muốn Trì giới ba-la-mật, Nhẫn nhục ba-la-mật, Tinh tấn ba-la-mật, Thiền định ba-la-mật, Bát-nhã ba-la-mật phát ra thì đó là muốn cho pháp vô tướng thể hiện ra.
Vì sao?
Này Tu-bồ-đề! Bố thí ba-la-mật chẳng ra ngoài ba cõi, cũng chẳng an trụ trong trí Nhất thiết; Trì giới ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật chẳng ra ngoài ba cõi, cũng chẳng an trụ trong trí Nhất thiết. Vì sao? Vì Đàn-na, tướng Đàn-na rỗng không; Trì giới ba-la-mật, Nhẫn nhục ba-la-mật, Tinh tấn ba-la-mật, Thiền định ba-la-mật, Bát-nhã ba-la-mật và tướng Bát-nhã ba-la-mật rỗng không.
Nếu có người muốn nội không cho đến vô pháp hữu pháp không thể hiện ra, là người muốn pháp vô tướng thể hiện ra.
Vì sao?
Này Tu-bồ-đề! Tướng nội không cho đến tướng vô pháp hữu pháp không, chẳng ra ngoài ba cõi, cũng chẳng an trụ trong trí Nhất

* Trang 151 *
device

thiết. Vì sao? Vì nội không, tánh nội không là rỗng không, cho đến vô pháp hữu pháp không và tánh vô pháp hữu pháp không là rỗng không.
Nếu có người muốn bốn Niệm xứ thể hiện ra, là người muốn pháp vô tướng thể hiện ra. Vì sao? Vì tánh bốn Niệm xứ chẳng ra ngoài ba cõi, cũng chẳng an trụ trong trí Nhất thiết. Vì sao? Vì bốn Niệm xứ và tánh bốn Niệm xứ là rỗng không.
Nếu có người muốn bốn Chánh cần, bốn Như ý túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác chi, tám Thánh đạo thể hiện ra, là người muốn pháp vô tướng thể hiện ra. Vì sao? Vì tánh của tám Thánh đạo chẳng ra ngoài ba cõi cũng chẳng an trụ trong trí Nhất thiết. Vì sao? Vì tám Thánh đạo và tánh của tám Thánh đạo là rỗng không; cho đến mười tám pháp Bất cộng cũng giống như thế. Này Tu-bồ-đề! Nếu có người muốn A-la-hán thể hiện ra, là người muốn pháp vô tướng thể hiện ra.
Nếu có người muốn Bích-chi-phật thể hiện ra thì là muốn cho pháp vô tướng thể hiện ra.
Nếu có người muốn Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác thể hiện ra, là người muốn pháp vô tướng thể hiện ra.
Vì sao?
Này Tu-bồ-đề! Tánh A-la-hán, tánh Bích-chi-phật và tánh Phật chẳng ra ngoài ba cõi, cũng chẳng an trụ trong trí nhất thiết. Vì sao? Vì tánh A-la-hán, tánh A-la-hán rỗng không; tánh Bích-chi-phật, tánh Bích-chi-phật rỗng không; Phật tánh, Phật tánh rỗng không.
Nếu có người muốn quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, quả A-la-hán, Bích-chi-phật đạo, Phật đạo và Nhất thiết chủng trí thể hiện ra, là người muốn pháp vô tướng thể hiện ra.
Như trên đã nói, nếu có người muốn cho tướng lập bày tên gọi giả danh chỉ có lời nói ra thì người này muốn cho pháp vô tướng thể hiện ra. Vì sao? Vì danh tự là không, không ngoài ba cõi, cũng không trụ trong Nhất thiết trí. Vì sao? Vì tướng danh tự, tướng danh tự là không, cho đến sự lập bày cũng như thế. Người này muốn cho pháp bất sinh bất diệt không nhơ không sạch, không phải pháp làm ra, người này muốn cho pháp vô tướng thể hiện ra. Vì sao? Vì bất

* Trang 152 *
device

sinh cho đến không phải là pháp làm ra, không ngoài ba cõi, cũng không trụ trong Nhất thiết trí. Vì sao? Vì tánh bất sinh, cho đến tánh vô tác là tánh không.
Này Tu-bồ-đề! Do nhân duyên trên đây nên Đại thừa này phát ra từ ba cõi, đến an trụ trong trí Nhất thiết, vì bất động.
Này Tu-bồ-đề! Ông hỏi Đại thừa này đến an trụ chỗ nào?
Này Tu-bồ-đề! Đại thừa này không cõ chỗ an trụ, vì tất cả pháp không có tướng an trụ. Đại thừa này nếu có an trụ thì chẳng phải an trụ.
Này Tu-bồ-đề! Ví như pháp tánh bất sinh, bất diệt, không nhơ, không sạch, không khởi, không tác, chẳng phải trụ, chẳng phải chẳng trụ. Này Tu-bồ-đề! Đại thừa này cũng như thế, chẳng trụ, chẳng phải không trụ. Vì sao? Vì pháp tánh chẳng trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì pháp tánh là không, cho đến tánh vô tác, tánh vô tác là không. Các pháp khác cũng giống như vậy. Này Tu-bồ-đề! Vì nhân duyên đó cho nên thừa này không chỗ trụ, vì pháp bất trụ là không động. Này Tu-bồ-đề! Ông hỏi ai sẽ ngồi Đại thừa này để phát xuất?
Này Tu-bồ-đề! Không có ai ngồi nơi Đại thừa này để phát xuất. Vì sao? Vì Đại thừa này cùng người phát xuất, pháp bị sử dụng thời gian phát xuất đều không thật có.
Nếu tất cả pháp là không thật có thì dùng pháp gì để phát xuất? Vì sao? Vì ngã không thật có, cho đến người biết, người thấy đều không thật có, vì hoàn toàn thanh tịnh.
Tánh chẳng thể  nghĩ bàn không thật có, vì thanh tịnh.
Năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới không thật có, vì hoàn toàn thanh tịnh.
Bố thí ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật không thật có, vì hoàn toàn thanh tịnh.
Nội không cho đến vô pháp hữu pháp không chẳng thật có, vì hoàn toàn thanh tịnh.
Bốn Niệm xứ cho đến mười tám pháp Bất cộng không thật có, vì hoàn toàn thanh tịnh.

* Trang 153 *
device

Tu-đà-hoàn cho đến Bồ-tát, chư Phật không thật có, vì hoàn toàn thanh tịnh.
Quả Tu-đà-hoàn cho đến Nhất thiết chủng trí không thật có, vì hoàn toàn thanh tịnh.
Bất sinh, bất diệt, chẳng nhơ, chẳng sạch, vô khởi, vô tác không thật có, vì hoàn toàn thanh tịnh.
Đời quá khứ, đời vị lai, đời hiện tại, sinh trụ diệt không thật có, vì hoàn toàn thanh tịnh. Thêm, bớt không thật có, vì hoàn toàn thanh tịnh.
Vì các pháp nào không thật có nên không thật có?
Này Tu-bồ-đề! Vì pháp tánh không thật có nên không thật có.
Vì như thật tế, tánh chẳng thể  nghĩ bàn, pháp tướng, pháp vị không thật có nên không thật có.
Vì Bố thí ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật không thật có nên không thật có.
Vì nội không cho đến vô pháp hữu pháp không thật có nên không thật có.
Vì bốn Niệm xứ đến bất cộng pháp không thật có nên là không thật có.
Vì Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Bích-chi-phật, chư Phật không thật có nên không thật có.
Vì quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, quả A-la-hán, Bích-chi-phật đạo, Phật đạo không thật có nên không thật có.
Vì bất sinh, bất diệt cho đến vô khởi, vô tác không thật có nên không thật có.
Lại vì Địa thứ nhất đến Địa thứ mười không thật có nên không thật có, vì hoàn toàn là không.
Thế nào là Địa thứ nhất đến Địa thứ mười? Chính là Càn-tuệ-địa, Tánh địa, Bát nhân địa, Kiến địa, Bạc địa, Ly dục địa,  dĩ tác địa, Bích-chi-phật địa, Bồ-tát địa và Phật địa.
Trong nội không cho đến vô pháp hữu pháp không, chẳng thật có Địa thứ nhất cho đến Địa thứ mười.
Vì sao? Vì Địa thứ nhất chẳng phải được chẳng phải chẳng

* Trang 154 *
device

được, cho đến Địa thứ mười chẳng phải được, chẳng phải chẳng được, vì hoàn toàn thanh tịnh.
Trong nội không cho đến vô pháp hữu pháp không, thành tựu chúng sinh không thật có, thanh tịnh cõi Phật không thật có, vì hoàn toàn thanh tịnh.
Trong nội không cho đến vô pháp hữu pháp không, năm loại mắt không thật có, vì hoàn toàn thanh tịnh.
Này Tu-bồ-đề! Vì thế nên Đại Bồ-tát do tất cả pháp không thật có mà ngồi Đại thừa này, từ ba cõi phát xuất; an trụ trong trí Nhất thiết.

Phẩm 22: VƯỢT HƠN
Tuệ mạng Tu-bồ-đề bạch Phật rằng:
–Bạch Đức Thế Tôn! Đại thừa và người Đại thừa vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Bạch Đức Thế Tôn! Đại thừa này ngang bằng với hư không.
Như hư không dung chứa vô lượng, vô biên a-tăng-kỳ chúng sinh. Cũng giống như vậy, Đại thừa này dung thọ vô lượng, vô biên a-tăng-kỳ chúng sinh.
Đại thừa này, chẳng thấy chỗ đến, chẳng thấy chỗ đi, chẳng thấy chỗ dừng ở.
Đại thừa này, chẳng thật có quá khứ, chẳng thật có vị lai, chẳng thật có hiện tại. Ba đời bình đẳng là Đại thừa này. Do đó nên gọi là Đại thừa.
Phật dạy:
–Đúng vậy, này Tu-bồ-đề! Đại thừa của Đại Bồ-tát là sáu pháp Ba-la-mật: Bố thí ba-la-mật, Trì giới ba-la-mật, Nhẫn nhục ba-la-mật, Tinh tấn ba-la-mật, Thiền định ba-la-mật và Bát-nhã ba-la-mật.
Lại có Đại thừa của Đại Bồ-tát là tất cả Đà-la-ni môn, tất cả

* Trang 155 *
device

Tam-muội môn. Như Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm cho đến Tam-muội Ly trước như hư không bất nhiễm.
Lại có Đại thừa của Đại Bồ-tát là pháp nội không cho đến vô pháp hữu pháp không.
Lại có Đại thừa của Đại Bồ-tát là bốn Niệm xứ cho đến mười tám pháp Bất cộng.
Này Tu-bồ-đề! Như lời ông nói, Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Này Tu-bồ-đề! Nếu cõi Dục là chân thật chẳng luống dối, là đế lý chẳng điên đảo, thường hằng chẳng hư hoại, chẳng phải pháp không có, thì Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Bởi cõi Dục là luống dối, nhớ  nghĩ, phân biệt, hòa hợp danh tự… có tất cả tướng vô thường phá hoại, là pháp không có, cho nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Này Tu-bồ-đề! Nếu cõi Sắc và cõi Vô sắc là chân thật có chẳng luống dối, là đế lý chẳng điên đảo, thường hằng chẳng hư hoại, chẳng phải pháp không có, thì Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Bởi cõi Sắc và cõi Vô sắc là luống dối, nhớ  nghĩ, phân biệt, hòa hợp danh tự… có tất cả tướng vô thường phá hoại, là pháp không có, cho nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Này Tu-bồ-đề! Nếu sắc uẩn cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra là chân thật có chẳng luống dối, là đế lý chẳng điên đảo, thường hằng chẳng hư hoại, chẳng phải pháp không có, thì Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Bởi sắc uẩn đến các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra là luống dối, nhớ tưởng, phân biệt, hòa hợp danh tự… có tất cả tướng vô thường phá hoại, là pháp không thật có, cho nên Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Này Tu-bồ-đề! Nếu pháp tánh như thật tế, tánh chẳng thể suy  nghĩ bàn luận, là pháp có, chẳng phải pháp không có, thì Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.

* Trang 156 *
device

Bởi pháp tánh cho đến tánh chẳng thể  nghĩ bàn tánh không có pháp, chẳng phải pháp, nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Này Tu-bồ-đề! Nếu Bố thí ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật là pháp có, chẳng phải pháp không thì Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Bởi Bố thí ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật không có pháp nào chẳng phải pháp, nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Này Tu-bồ-đề! Nếu pháp nội không cho đến vô pháp hữu pháp không là pháp có, chẳng phải pháp không có thì Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Bởi pháp nội nói không cho đến vô pháp hữu pháp không chẳng có pháp, chẳng pháp, nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Này Tu-bồ-đề! Nếu bốn Niệm xứ cho đến mười tám pháp Bất cộng là pháp có, chẳng phải không có thì Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Bởi bốn Niệm xứ cho đến mười tám pháp Bất cộng không có pháp, chẳng pháp, nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Này Tu-bồ-đề! Nếu pháp Bát nhân, pháp Tu-đà-hoàn, pháp Tư-đà-hàm, pháp A-na-hàm, pháp A-la-hán, pháp Bích-chi-phật và pháp Phật là pháp có, chẳng phải pháp không có, thì Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Bởi pháp tánh nhân cho đến pháp Phật không có pháp, chẳng pháp, nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Này Tu-bồ-đề! Nếu bậc Tánh địa, bậc Bát nhân, bậc Tu-đà-hoàn cho đến Phật là pháp có chẳng phải pháp không có, thì Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Bởi tánh địa đến chư Phật không có pháp chẳng phải pháp, nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.

* Trang 157 *
device

Này Tu-bồ-đề! Nếu tất cả pháp thế gian và Trời, Người, A-tu-la là pháp có, chẳng phải pháp không có thì Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Bởi tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la không có pháp, chẳng phải pháp, nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Này Tu-bồ-đề! Nếu Đại Bồ-tát từ lúc mới phát tâm đến lúc ngồi đạo tràng, các tâm trong khoảng thời gian đó là pháp có, chẳng phải pháp không thì Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Bởi các tâm trong khoảng giữa từ lúc phát tâm đến lúc ngồi đạo tràng của Đại Bồ-tát không có pháp, chẳng phải pháp, cho nên Đại thừa này vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Này Tu-bồ-đề! Nếu như trí tuệ kim cang tuệ của Đại Bồ-tát là pháp có, chẳng phải pháp không có, thì Đại Bồ-tát này không thể biết được tất cả kết sử và tập khí không có pháp, chẳng phải pháp để được Nhất thiết chủng trí.
Bởi như trí tuệ kim cang tuệ không có pháp, chẳng phải pháp, nên Đại Bồ-tát biết được tất cả kết sử và tập khí không có pháp, chẳng phải pháp được Nhất thiết chủng trí. Thế nên, Đại thừa này không thể vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Này Tu-bồ-đề! Nếu ba mươi hai tướng của chư Phật là pháp có chẳng phải pháp không có, thì oai đức của chư Phật chẳng thể chiếu sáng vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Bởi ba mươi hai tướng không có pháp, chẳng phải pháp, nên oai đức của chư Phật chiếu sáng vượt hơn tất cả thế gian và Trời, Người, A-tu-la.
Này Tu-bồ-đề! Nếu ánh sáng của chư Phật là pháp có, chẳng phải pháp không có, thì chẳng thể chiếu khắp hằng sa cõi nước.
Bởi ánh sáng của chư Phật không có pháp, chẳng phải pháp nên có công năng chiếu khắp hằng sa cõi nước.
Này Tu-bồ-đề! Nếu sáu mươi thứ âm thanh trang nghiêm của chư Phật là pháp có, chẳng phải pháp không thì chư Phật chẳng thể dùng sáu mươi thứ âm thanh trang nghiêm ấy thấu đến khắp vô

* Trang 158 *
device

lượng a-tăng-kỳ cõi nước ở khắp mười phương.
Này Tu-bồ-đề! Nếu pháp luân của chư Phật là pháp có, chẳng phải pháp không thì chư Phật không thể chuyển pháp luân mà tất cả Sa-môn, Bà-la-môn hoặc chư Thiên vương, Ma vương, Phạm vương và tất cả thế gian chúng sinh đều chẳng chuyển xoay được.
Bởi pháp luân của chư Phật không có pháp, chẳng phải pháp, nên chư Phật có khả năng chuyển pháp luân mà tất cả Sa-môn, Bà-la-môn hoặc Trời, người và tất cả chúng khác trong thế gian đều chẳng thể xoay được.
Này Tu-bồ-đề! Chư Phật vì chúng sinh chuyển pháp luân. Nếu chúng sinh ấy là pháp thật có, chẳng phải pháp không có, thì không thể làm cho chúng sinh ấy đối với Niết-bàn Vô dư y mà nhập Niết-bàn.
Bởi chư Phật vì chúng sinh chuyển pháp luân. Chúng sinh ấy không có pháp, chẳng phải pháp, nên có thể làm cho chúng sinh ấy đối với Niết-bàn Vô dư y đã được diệt độ, đang được diệt độ, sẽ được diệt độ.

Phẩm 23: ĐỒNG VỚI HƯ KHÔNG
–Này Tu-bồ-đề! Ông nói Đại thừa đồng với hư không.
–Đúng vậy, Đại thừa đồng với hư không.
–Này Tu-bồ-đề! Như hư không chẳng có mười phương như Đông, Tây, Đại thừa cũng không có mười phương.
Như hư không chẳng có dài, ngắn, vuông, tròn, Đại thừa cũng chẳng phải dài, ngắn, vuông, tròn.
Như hư không chẳng có màu xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, Đại thừa cũng chẳng có màu xanh, vàng, đỏ, trắng, đen.
Cho nên nói Đại thừa đồng với hư không.
Này Tu-bồ-đề! Như hư không chẳng có quá khứ, vị lai, hiện tại. Cũng vậy, Đại thừa chẳng có quá khứ, vị lai, hiện tại.

* Trang 159 *
device

Như hư không chẳng thêm, chẳng bớt, cũng giống như vậy, Đại thừa chẳng thêm, chẳng bớt.
Như hư không chẳng nhơ, chẳng sạch. Cũng giống như vậy, Đại thừa chẳng nhơ, chẳng sạch.
Như hư không chẳng sinh, chẳng diệt, không dừng, không đổi. Cũng giống như vậy, Đại thừa chẳng sinh, chẳng diệt, không dừng, không đổi.
Như hư không chẳng phải thiện, bất thiện, chẳng phải ký, vô ký. Cũng giống như vậy, Đại thừa chẳng phải thiện, bất thiện, chẳng phải ký, vô ký.
Như hư không chẳng thấy nghe, chẳng hay biết. Cũng vậy, Đại thừa chẳng thấy nghe, hay biết.
Như hư không chẳng thể biết được, chẳng thể hay được, chẳng thể thấy được, chẳng thể dứt được, chẳng thể chứng được, chẳng thể tu được. Cũng vậy, Đại thừa chẳng thể biết được, hay được, thấy được, dứt được, cũng chẳng thể chứng được, tu được.
Cho nên nói rằng Đại thừa đồng với hư không.
Này Tu-bồ-đề! Hư không chẳng phải tướng nhiễm, tướng lìa. Cũng vậy, Đại thừa chẳng phải tướng nhiễm, chẳng phải tướng lìa.
Như hư không chẳng thuộc cõi Dục, cõi sắc, cõi Vô sắc. Cũng vậy, Đại thừa chẳng thuộc cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc.
Như hư không chẳng có bắt đầu phát tâm cho đến tâm thứ mười. Cũng vậy, Đại thừa không có bắt đầu phát tâm cho đến tâm thứ mười.
Như hư không chẳng có Càn tuệ địa, Tánh nhân địa, Bát nhân địa, Kiến địa, Bạc địa, Ly dục địa,  dĩ tác địa. Cũng vậy, Đại thừa không có Càn tuệ địa cho đến  dĩ tác địa.
Như hư không chẳng có quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, quả A-la-hán. Cũng vậy, Đại thừa không có quả Tu-đà-hoàn cho đến quả A-la-hán.
Như hư không chẳng có Thanh văn địa, Bích-chi-phật địa. Cũng vậy, Đại thừa không có Thanh văn địa cho đến Phật địa.
Thế nên nói rằng Đại thừa đồng với hư không.

* Trang 160 *
device

Này Tu-bồ-đề! Như hư không chẳng phải sắc, vô sắc, chẳng phải khả kiến, bất khả kiến, chẳng phải hữu đối, vô đối, chẳng phải hợp, chẳng phải tán. Cũng vậy, Đại thừa chẳng phải sắc cho đến chẳng phải tán.
Như hư không chẳng phải thường, vô thường, chẳng phải lạc, khổ, chẳng phải ngã, vô ngã. Cũng vậy, Đại thừa chẳng phải Thường vô thường, lạc, khổ, ngã, vô ngã.
Như hư không chẳng phải không, bất không, chẳng phải tướng, vô tướng, chẳng phải tác, vô tác. Cũng vậy, Đại thừa chẳng phải không cho đến chẳng phải vô tác.
Như hư không chẳng phải vắng lặng chẳng vắng lặng, chẳng phải lìa chẳng lìa. Cũng vậy, Đại thừa chẳng phải vắng lặng cho đến chẳng phải lìa.
Như hư không chẳng phải tối sáng. Cũng vậy, Đại thừa chẳng phải tối sáng.
Như hư không chẳng phải được, chẳng thể được. Cũng vậy, Đại thừa chẳng phải được, chẳng phải chẳng được.
Như hư không chẳng phải khả thuyết, chẳng phải bất khả thuyết. Cũng vậy, Đại thừa chẳng phải khả thuyết, chẳng phải chẳng bất khả thuyết.
Cho nên nói rằng Đại thừa đồng với hư không.
Này Tu-bồ-đề! Như lời ông nói, như hư không dung chứa vô lượng, vô biên vô số chúng sinh, Đại thừa cũng dung thọ vô lượng, vô biên vô số chúng sinh.
Đúng vậy. Vì chúng sinh không thật có, nên biết hư không chẳng thật có. Vì hư không chẳng thật có, nên biết Đại thừa cũng không thật có. Do đó nên Đại thừa dung chứa vô lượng, vô biên vô số chúng sinh.
Vì sao? Vì chúng sinh, hư không và Đại thừa đều chẳng thật có.
Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Vì Đại thừa không thật có nên biết vô số không thật có, vì vô số không thật có nên biết vô lượng không thật có, vì vô lượng không thật có nên biết vô biên không thật có, vì

* Trang 161 *
device

vô biên không thật có nên biết tất cả các pháp không thật có. Do đó, nên Đại thừa dung thọ vô lượng, vô biên vô số chúng sinh.
Vì sao? Vì chúng sinh, hư không, Đại thừa, vô số vô lượng, vô biên, tất cả các pháp đều không thật có.
Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Vì ngã cho đến người biết, người thấy đều không thật có, nên biết rằng pháp như, pháp tánh, thật tế không thật có.
Vì pháp như, pháp tánh, thật tế không thật có, nên biết cho đến vô số lượng vô biên đều không thật có.
Vì vô số, vô lượng, vô biên không thật có cho nên biết tất cả pháp không thật có.
Do nhân duyên này nên Đại thừa dung chứa vô lượng, vô biên vô số chúng sinh. Vì sao? Vì chúng sinh, ngã cho đến người biết, người thấy cùng thật tế đến vô biên và tất cả pháp đều không thật có.
Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Vì ngã cho đến người biết, người thấy đều không thật có, nên biết chẳng thể  nghĩ bàn tánh không thật có.
Vì không  nghĩ bàn tánh chẳng thật có nên biết sắc, thọ, tưởng, hành, thức không thật có.
Vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức chẳng thật có nên biết hư không chẳng thật có.
Vì hư không chẳng thật có, nên biết Đại thừa không thật có.
Vì Đại thừa chẳng thật có nên biết vô số, vô lượng, vô biên đều chẳng thật có.
Vì vô biên chẳng thật có, nên biết tất cả pháp không thật có.
Do nhân duyên này nên Đại thừa dung chứa vô lượng, vô biên vô số chúng sinh. Vì ngã cho đến người biết, người thấy tất cả các pháp đều không thật có.
Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Vì ngã không thật có cho đến người biết, người thấy không thật có, nên biết nhãn, tỷ, thiệt, thân, ý không thật có.
Vì nhãn,  nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý không thật có nên biết hư không chẳng thật có.

* Trang 162 *
device

Vì hư không chẳng thật có nên biết Đại thừa không thật có.
Vì Đại thừa không thật có nên biết vô số, vô lượng, vô biên và tất cả pháp không thật có.
Do nhân duyên này nên Đại thừa dung chứa vô lượng, vô biên vô số chúng sinh. Vì ngã cho đến tất cả các pháp đều không thật có.
Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Vì ngã cho đến người biết, người thấy đều không thật có nên Bố thí ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật đều không thật có.
Vì Bát-nhã ba-la-mật không thật có nên biết hư không chẳng thật có.
Vì hư không chẳng thật có nên biết Đại thừa không thật có.
Vì Đại thừa không thật có nên biết vô số, vô lượng, vô biên không thật có.
Vì vô số, vô lượng, vô biên không thật có nên biết tất cả các pháp không thật có.
Do nhân duyên này nên Đại thừa dung chứa vô lượng, vô biên vô số chúng sinh. Vì sao? Vì ngã, chúng sinh cho đến tất cả các pháp đều không thật có.
Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Vì ngã cho đến người biết, người thấy đều không thật có nên biết nội không cho đến vô pháp hữu pháp không đều chẳng thật có.
Vì vô pháp hữu pháp chẳng thật có nên biết hư không chẳng thật có.
Vì hư không chẳng thật có nên biết Đại thừa chẳng thật có.
Vì Đại thừa không thật có nên biết vô số, vô lượng, vô biên không thật có.
Vì vô biên không thật có nên biết tất cả pháp không thật có.
Do nhân duyên này nên Đại thừa dung chứa vô lượng, vô biên vô số chúng sinh. Vì sao? Vì ngã, chúng sinh cho đến tất cả các pháp đều không thật có.
Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Vì ngã, chúng sinh cho đến người biết, người thấy không thật có nên biết bốn Niệm xứ đến bất cộng pháp không thật có.

* Trang 163 *
device

Vì bất cộng pháp không thật có nên biết hư không chẳng thật có.  
Vì hư không chẳng thật có nên biết Đại thừa chẳng thật có. 
Vì Đại thừa không thật có nên biết vô số, vô lượng, vô biên không thật có.
Vì vô biên không thật có nên biết tất cả pháp không thật có.
Do nhân duyên này nên Đại thừa dung chứa vô lượng, vô biên vô số chúng sinh. Vì sao? Vì ngã chúng sinh cho đến tất cả các pháp đều không thật có.
Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Vì ngã chúng sinh cho đến người biết, người thấy không thật có nên biết tánh địa cho đến  dĩ tác địa không thật có.
Vì  dĩ tác địa không thật có nên biết hư không chẳng thật có.
Vì hư không chẳng thật có nên biết Đại thừa không thật có.
Vì Đại thừa không thật có nên biết vô số, vô lượng, vô biên không thật có.
Vì vô biên không thật có nên biết tất cả pháp không thật có.
Do nhân duyên này nên Đại thừa dung chứa vô lượng, vô biên vô số chúng sinh. Vì sao? Vì ngã, chúng sinh cho đến tất cả các pháp đều không thật có.
Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Vì ngã cho đến người thấy, người biết không thật có nên biết Tu-đà-hoàn cho đến A-la-hán không thật có.
Vì A-la-hán không thật có nên biết tất cả các pháp không thật có.
Do nhân duyên này nên Đại thừa dung chứa vô lượng, vô biên vô số chúng sinh. Vì sao? Vì không thật có.
Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Vì ngã cho đến người biết, người thấy không thật có nên biết thừa Thanh văn không thật có.
Vì thừa Thanh văn không thật có nên biết thừa Bích-chi-phật không thật có.
Vì thừa Bích-chi-phật không thật có nên biết Phật thừa không thật có.

* Trang 164 *
device

Vì Phật thừa không thật có nên biết hàng Thanh văn không thật có.
Vì hàng Thanh văn không thật có nên biết Tu-đà-hoàn không thật có, cho đến Phật không thật có.
Vì Phật không thật có nên biết Nhất thiết chủng trí không thật có.
Vì Nhất thiết chủng trí không thật có nên biết hư không không thật có.
Vì hư không chẳng thật có nên biết Đại thừa không thật có.
Vì Đại thừa không thật có nên vô số cho đến tất cả pháp không thật có.
Do nhân duyên này nên Đại thừa dung chứa vô lượng, vô biên vô số chúng sinh. Vì sao?
Vì không thật có.
Này Tu-bồ-đề! Như trong tánh Niết-bàn dung chứa vô lượng, vô biên vô số chúng sinh, Đại thừa này cũng dung chứa vô lượng, vô biên vô số chúng sinh.
Do nhân duyên này nên nói rằng Đại thừa đồng đẳng với hư không, cũng dung chứa vô lượng, vô biên vô số chúng sinh.
Này Tu-bồ-đề! Như lời ông nói, Đại thừa này chẳng thấy chỗ đến, chẳng thấy chỗ đi, chỗ ở. Đúng vậy. Đại thừa này chẳng thấy chỗ đến, chỗ đi, chỗ ở. Vì sao? Vì tất cả các pháp tướng chẳng lay động, cho nên các pháp chẳng có chỗ đến, chỗ đi, chỗ ở.
Vì sao? Này Tu-bồ-đề! Sắc không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không có chỗ ở. Thọ, tưởng, hành, thức cũng giống như vậy.
Sắc pháp, thọ pháp, tưởng pháp, hành pháp, thức pháp không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không có chỗ ở.
Như của sắc, như của thọ, như của tưởng, như của hành, như của thức không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không có chỗ ở.
Tánh của sắc, cho đến tánh của thức không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không có chỗ ở.
Tướng của sắc cho đến tướng của thức không từ đâu đến, cũng

* Trang 165 *
device

chẳng đi đâu, cũng không có chỗ ở.
Như năm uẩn, mười hai nhập, mười tám giới, sáu đại chủng cũng giống như vậy. Nhãn, nhãn pháp, nhãn như, nhãn tánh, nhãn tướng, cho đến thức chủng, thức chủng pháp, thức chủng như, thức chủng tánh, thức chủng tướng không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không có chỗ ở.
Này Tu-bồ-đề! Như, pháp như, như như, tánh như, tướng như, thật tế, pháp thật tế, như thật tế, tánh thật tế, tướng thật tế, chẳng thể  nghĩ bàn, pháp chẳng thể  nghĩ bàn, như chẳng thể  nghĩ bàn, tánh chẳng thể  nghĩ bàn, tướng chẳng thể  nghĩ bàn, đều không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không có chỗ ở.
Này Tu-bồ-đề! Bố thí ba-la-mật đến pháp Bố thí ba-la-mật, như Bố thí ba-la-mật, tánh Bố thí ba-la-mật, tướng ba-la-mật, không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không có chỗ ở.
Bốn Niệm xứ, pháp bốn Niệm xứ, như bốn Niệm xứ, tánh bốn Niệm xứ, tướng bốn Niệm xứ, không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không có chỗ ở, cho đến mười tám pháp Bất cộng cũng giống như vậy.
Này Tu-bồ-đề! Bồ-tát, pháp Bồ-tát, như Bồ-tát, tánh Bồ-tát, tướng Bồ-tát không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không có chỗ ở. Phật, pháp Phật, như Phật, tánh Phật, tướng Phật không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không có chỗ ở.
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, pháp Chánh giác, như Chánh giác, tánh Chánh giác, tướng Chánh giác không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không có chỗ ở.
Này Tu-bồ-đề! Hữu vi, pháp hữu vi, như hữu vi, tánh hữu vi, tướng hữu vi không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không có chỗ ở.
Vô vi, pháp vô vi, như vô vi, tánh vô vi, tướng vô vi, không từ đâu đến, cũng chẳng đi đâu, cũng không chỗ ở.
Do nhân duyên này nên Đại thừa này chẳng thấy chỗ đến, chẳng thấy chỗ đi, chẳng thấy có chỗ ở.

* Trang 166 *
device

Này Tu-bồ-đề! Như lời ông nói, Đại thừa này, trước, sau, giữa đều không thật có, Đại thừa đó gọi là ba đời bình đẳng, nên gọi là Đại thừa.
Đúng vậy, này Tu-bồ-đề! Đại thừa này ở trước không thật có, ở sau không thật có, ở giữa không thật có, ba đời bình đẳng, nên gọi là Đại thừa.
Vì sao? Vì đời quá khứ thì đời quá khứ rỗng không, đời vị lai thì đời vị lai rỗng không, đời hiện tại, thì đời hiện tại rỗng không, ba đời bình đẳng thì ba đời bình đẳng rỗng không, Đại thừa thì Đại thừa rỗng không, Bồ-tát thì Bồ-tát rỗng không. Vì sao? Tánh không này chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng phải khác, cho nên gọi là ba đời bình đẳng, là Pháp Đại thừa của Đại Bồ-tát.
Trong Đại thừa này, bình đẳng và chẳng bình đẳng đều không thật có, nhiễm và chẳng nhiễm, sân và chẳng sân, si và chẳng si, mạn và chẳng mạn đều bất khả đắc, cho đến tất cả pháp thiện và pháp bất thiện đều không thật có.
Trong Đại thừa này, thường và vô thường, lạc cùng khổ, thật và không thật, ngã cùng vô ngã đều không thật có.
Trong Đại thừa này, cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc đều không thật có, vượt qua cõi Dục, vượt qua cõi Sắc, vượt qua cõi Vô sắc đều không thật có.
Vì sao? Vì Đại thừa này, tự pháp không thật có.
Này Tu-bồ-đề! Sắc, thọ, tưởng, hành, thức ở quá khứ, sắc, thọ, tưởng, hành, thức ở quá khứ là rỗng không. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức ở vị lai, sắc, thọ, tưởng, hành, thức ở vị lai là rỗng không. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức ở hiện tại, sắc, thọ, tưởng, hành, thức ở hiện tại là rỗng không.
Trong tánh không, sắc, thọ, tuởng, hành, thức ở quá khứ, vị lai, hiện tại đều không thật có. Vì sao? Vì trong tánh không, không đó còn không thật có huống chi trong tánh không mà có các năm uẩn trong ba đời.
Này Tu-bồ-đề! Trong sáu pháp Ba-la-mật, quá khứ, vị lai, hiện tại đều không thật có. Trong ba đời bình đẳng, sáu pháp Ba-la-mật cũng không thật có. Vì sao? Vì trong bình đẳng, quá khứ, vị lai, hiện

* Trang 167 *
device

tại đều không thật có. Trong bình đẳng, bình đẳng cũng còn không thật có, huống chi trong bình đẳng mà có quá khứ, hiện tại, vị lai.
Như sáu pháp Ba-la-mật, bốn Niệm xứ đến mười tám pháp Bất cộng cũng giống như vậy.
Này Tu-bồ-đề! Trong quá khứ, vị lai, hiện tại, phàm phu không thật có. Trong ba đời bình đẳng, người phàm phu cũng không thật có.
Vì sao? Vì chúng sinh cho đến người biết, người thấy đều không thật có.
Này Tu-bồ-đề! Trong quá khứ, vị lai, hiện tại, Thanh văn, Bích-chi-phật, Bồ-tát và Phật đều không thật có. Trong ba đời bình đẳng, Thanh văn, Bích-chi-phật, Bồ-tát và Phật cũng đều không thật có.
Vì sao? Vì chúng sinh cho đến người biết, người thấy đều không thật có.
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát an trụ trong Bát-nhã ba-la-mật, học tướng ba đời bình đẳng sẽ có được đầy đủ Nhất thiết chủng trí. Đó gọi là Đại thừa của Đại Bồ-tát, cũng chính là tướng ba đời bình đẳng.
Đại Bồ-tát an trụ trong đây thì hơn tất cả thế gian, trời, người, A-tu-la, thành tựu trí Nhất thiết.
Bấy giời Ngài Tu-bồ-đề thưa:
–Bạch Đức Thế Tôn! Lành thay, lành thay! Đại thừa của Đại Bồ-tát này, các Đại Bồ-tát quá khứ học trong đây đã được Nhất thiết chủng trí. Các Đại Bồ-tát vị lai học trong đây sẽ được Nhất thiết chủng trí. Các Đại Bồ-tát hiện tại trong vô lượng, vô số cõi nước ở khắp mười phương cũng học trong đây mà được Nhất thiết chủng trí.
Bạch Đức Thế Tôn! Do đó nên Đại thừa này thật là Đại thừa của Đại Bồ-tát.
Phật dạy:
–Đúng vậy, chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại học trong Đại thừa này đã được, sẽ được và hiện được Nhất thiết chủng trí.

* Trang 168 *
device

 
Đại Tập 31 - Bộ Bát-Nhã XIV - Số 223 - 224