LOGO VNBET
KINH MA-HA BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

QUYỂN 5


Phẩm 17: TRANG NGHIÊM

 
Bấy giờ Tu-bồ-đề bạch Đức Phật:
–Bạch Đức Thế Tôn! Đại trang nghiêm của Đại Bồ-tát, thế nào là đại trang nghiêm? Bồ-tát nào có khả năng đại trang nghiêm?
Phật dạy:
–Này Tu-bồ-đề! Pháp Đại thừa của Đại Bồ-tát có công năng đại trang nghiêm. Chính là trang nghiêm bằng Bố thí ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật. Trang nghiêm bằng bốn Niệm xứ cho đến tám phần Thánh đạo. Trang nghiêm bằng nội không cho đến vô pháp hữu pháp không. Trang nghiêm bằng mười Lực cho đến pháp Bất cộng và Nhất thiết chủng trí.
Trang nghiêm bằng cách biến hóa thân như Phật, ánh sáng chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới, cũng chiếu khắp hằng sa cõi nước ở phương Đông; phương Nam, Tây, Bắc, bốn góc, trên dưới cũng chiếu như vậy. Làm rung chuyển tam thiên đại thiên thế giới, cũng rung chuyển hằng sa cõi nước ở phương Đông; phương Nam, Tây, Bắc, bốn góc, trên dưới cũng rung chuyển như vậy.
Bồ-tát này an trụ trong Đại thừa Bố thí ba-la-mật để đại trang nghiêm thì tam thiên đại thiên thế giới này biến thành cõi lưu ly. Bồ-tát này hóa thành Chuyển luân thánh vương, chúng sinh cần dùng thứ gì thì đều cung cấp đầy đủ thứ ấy, cần ăn cho ăn, cần uống cho uống, cần mặc cho y phục, cần chỗ ở cho phòng nhà, giường nệm, cần ánh sáng cho đèn đuốc, cần lành bệnh cho thuốc men, cần trang điểm cho chuỗi ngọc, châu báu, cùng các thứ hoa hương, cấp cho rồi lại nói pháp cho nghe, giúp họ tu hành pháp Đại thừa. Chúng sinh nghe xong, chẳng bao giờ rời sáu pháp Ba-la-mật

* Trang 99 *
device

cho đến thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Như thế, này Tu-bồ-đề! Đó gọi là Đại Bồ-tát đại trang nghiêm bằng Đại thừa.
Này Tu-bồ-đề! Ví như nhà ảo thuật giỏi hoặc học trò của ông ta, ở ngã tư đường hóa ra đại chúng, rồi đối với người cần ăn cho ăn, cần uống cho uống, cho đến tất cả nhu cầu đều cung cấp đầy đủ. Tu-bồ-đề ý ông  nghĩ sao? Đối với nhà ảo thuật này thật có đại chúng được cung cấp cho chăng?
–Bạch Đức Thế Tôn, không thật có!
–Này Tu-bồ-đề! Cũng giống như vậy, Đại Bồ-tát hóa thành Chuyển luân thánh vương cung cấp nhu cầu đầy đủ cho tất cả chúng sinh, mặc dầu có thực hành mà thật không hề cho. Vì sao? Vì tướng của pháp như hư huyễn.
Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát an trụ Trì giới ba-la-mật hiện thân sinh vào nhà Chuyển luân thánh vương, dùng mười điều lành giáo hóa chúng sinh. Có vị dùng bốn Thiền, bốn Tâm vô lượng, bốn Định vô sắc, bốn Niệm xứ cho đến mười tám pháp Bất cộng để giáo hóa chúng sinh. Chúng sinh nghe pháp tin hiểu, thọ trì mãi đến thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không bao giờ lìa pháp ấy.
Ví như nhà ảo thuật hoặc học trò của ông ta, ở ngã tư đường hóa ra đại chúng rồi đem pháp mười điều lành giáo hóa khiến thực hành; cũng dùng bốn Thiền, bốn Tâm vô lượng, bốn Định vô sắc, bốn Niệm xứ cho đến mười tám pháp Bất cộng để giáo hóa khiến thực hành. Này Tu-bồ-đề, ý ông  nghĩ sao? Có chúng sinh thật được nhà ảo thuật giáo hóa khiến thực hành mười điều lành, cho đến mười tám pháp Bất cộng chăng?
–Bạch Đức Thế Tôn, không thật có!
–Cũng vậy, này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát giáo hóa chúng sinh thực hành mười điều lành cho đến mười tám pháp Bất cộng, nhưng thật không có chúng sinh thực hành mười điều lành, cho đến pháp Bất cộng. Vì sao? Vì tướng của pháp là hư huyễn.
Này Tu-bồ-đề! Đó gọi là đại trang nghiêm của Đại Bồ-tát.
Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát an trụ Nhẫn nhục ba-la-mật, giáo hóa chúng sinh, làm cho họ thực hành Nhẫn nhục ba-la-mật.

* Trang 100 *
device

Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát an trụ Nhẫn nhục ba-la-mật, giáo hóa chúng sinh khiến họ thực hành Nhẫn nhục ba-la-mật như thế nào?
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát từ lúc mới phát tâm cho đến nay đã đại trang nghiêm như thế này: Dầu bị tất cả chúng sinh mắng nhiếc, dùng dao gậy làm thương tổn, Đại Bồ-tát đối với việc ấy vẫn không khởi lên một niệm tức giận và cũng dạy tất cả chúng sinh thực hành nhẫn nhục này. Ví như nhà ảo thuật hoặc học trò ông ta ở ngã tư đường hóa hiện ra đại chúng rồi dạy thực hành nhẫn nhục, như trên đã nói.
Này Tu-bồ-đề! Đó gọi là đại trang nghiêm của Đại Bồ-tát.
Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát an trụ Tinh tấn ba-la-mật, giáo hóa tất cả chúng sinh dạy họ thực hành Tinh tấn ba-la-mật.
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát an trụ Tinh tấn ba-la-mật, giáo hóa tất cả chúng sinh khiến họ thực hành Tinh tấn ba-la-mật như thế nào?
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát tương ưng với tâm của Nhất thiết trí, thân tâm tinh tấn, giáo hóa chúng sinh. Ví như nhà ảo thuật hoặc học trò ông ta ở ngã tư đường hóa ra đại chúng rồi dạy họ thân tâm tinh tấn, như trên đã nói.
Này Tu-bồ-đề! Đó gọi là đại trang nghiêm của Đại Bồ-tát.
Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát an trụ Thiền định ba-la-mật, giáo hóa chúng sinh khiến họ thực hành Thiền định ba-la-mật.
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát an trụ Thiền định ba-la-mật, giáo hóa tất cả chúng sinh khiến họ thực hành Thiền định ba-la-mật như thế nào?
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát an trụ trong các pháp, chẳng thấy có loạn, chẳng thấy có định, giáo hóa tất cả chúng sinh khiến cho thực hành Thiền định ba-la-mật, cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chẳng bao giờ rời Thiền định ba-la-mật. Ví như nhà ảo thuật hoặc học trò ông ta ở ngã tư đường hóa ra đại chúng, rồi giáo hóa khiến họ thực hành Thiền định ba-la-mật, như trên đã nói.

* Trang 101 *
device

Này Tu-bồ-đề! Đó gọi là đại trang nghiêm của Đại Bồ-tát.
Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát an trụ Bát-nhã ba-la-mật, giáo hóa chúng sinh khiến họ thực hành Bát-nhã ba-la-mật.
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát an trụ Bát-nhã ba-la-mật, giáo hóa tất cả chúng sinh khiến thực hành Bát-nhã ba-la-mật như thế nào?
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật, không có pháp được bờ này bờ kia. Như thế, Đại Bồ-tát trụ trong Bát-nhã ba-la-mật giáo hóa tất cả chúng sinh thực hành Bát-nhã ba-la-mật. Ví như nhà ảo thuật hoặc học trò ông ta ở ngã tư đường hóa ra đại chúng, rồi giáo hóa khiến thực hành Bát-nhã ba-la-mật, như trên đã nói.
Này Tu-bồ-đề! Đó gọi là đại trang nghiêm của Đại Bồ-tát.
Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát đại trang nghiêm tùy theo chúng sinh đáng được độ trong hằng sa cõi nước khắp mười phương, Đại Bồ-tát tự biến thân hình, an trụ vào Bố thí ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật, cũng giáo hóa chúng sinh thực hành Bố thí ba-la-mật, cho đến Bát-nhã ba-la-mật. Chúng sinh vâng hành pháp này cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chẳng bao giờ rời pháp này. Này Tu-bồ-đề, ví như nhà ảo thuật hoặc học trò ông ta ở ngã tư đường hóa ra đại chúng, rồi giáo hóa khiến họ thực hành sáu pháp Ba-la-mật, như trên đã nói.
Như thế, này Tu-bồ-đề! Đó gọi là đại trang nghiêm của Đại Bồ-tát.
Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát đại trang nghiêm đúng với tâm của Nhất thiết trí, chẳng  nghĩ rằng: “Tôi giáo hóa từng ấy người này an trụ Bố thí ba-la-mật mà chẳng dạy từng ấy người kia an trụ Bố thí ba-la-mật; cho đến Bát-nhã ba-la-mật cũng giống như thế.”
Cũng chẳng  nghĩ rằng: “Tôi dạy từng ấy người này an trụ bốn Niệm xứ mà chẳng dạy từng ấy người kia an trụ bốn Niệm xứ; cho đến mười tám pháp Bất cộng cũng lại như thế.”
Cũng chẳng  nghĩ rằng: “Tôi dạy từng ấy người này khiến cho họ được quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Bích-chi-phật, Nhất thiết chủng trí mà chẳng dạy từng ấy người kia chứng được quả Tu-đà-hoàn cho đến Nhất thiết chủng trí.”

* Trang 102 *
device

Đại Bồ-tát đúng với tâm của Nhất thiết trí,  nghĩ rằng: “Tôi sẽ làm cho vô lượng, vô biên a-tăng-kỳ chúng sinh an trụ Bố thí ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật. Ta sẽ an lập tất cả chúng sinh nơi bốn Niệm xứ, cho đến mười tám pháp Bất cộng. Ta sẽ làm cho tất cả chúng sinh được quả Tu-đà-hoàn cho đến Nhất thiết chủng trí. Ví như nhà ảo thuật hoặc học trò ông ta ở ngã tư đường hóa ra đại chúng, rồi giáo hóa khiến thực hành sáu pháp Ba-la-mật, cho đến đạt được Nhất thiết chủng trí, như trên đã nói.
Này Tu-bồ-đề! Đó gọi là đại trang nghiêm của Đại Bồ-tát.
Bấy giờ Tu-bồ-đề bạch Phật:
–Bạch Đức Thế Tôn! Theo ý  Nghĩa mà con được nghe Đức Phật dạy, thì Đại Bồ-tát không đại trang nghiêm là đại trang nghiêm. Vì tự tướng các pháp là rỗng không.
 Nghĩa là tự tướng của sắc rỗng không, cho đến tự tướng của thức là rỗng không, tự tướng của nhãn rỗng không, cho đến tự tướng của ý là rỗng không, tự tướng của sắc rỗng không, cho đến tự tướng của pháp là rỗng không, tự tướng của nhãn thức rỗng không, cho đến tự tướng của ý thức là rỗng không, tự tướng của nhãn xúc rỗng không, cho đến tự tướng của ý xúc là rỗng không, tự tướng của các thọ do nhãn xúc làm duyên sinh ra rỗng không, cho đến tự tướng của các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra là rỗng không, tự tướng của Bố thí ba-la-mật, cho đến Bát-nhã ba-la-là mật rỗng không, tự tướng của nội không cho đến vô pháp hữu pháp không là rỗng không, tự tướng bốn Niệm xứ cho đến mười tám pháp Bất cộng là rỗng không, tự tướng Bồ-tát cũng rỗng không.
Do đó mà biết rằng Đại Bồ-tát không đại trang nghiêm là đại trang nghiêm.
Phật dạy:
–Phải lắm, đúng như lời ông nói. Này Tu-bồ-đề, trí Nhất thiết chẳng phải là tác pháp, chúng sinh cũng chẳng phải tác pháp. Đại Bồ-tát vì chúng sinh này mà đại trang nghiêm.
Vì sao? Vì tác giả không thật có.
Này Tu-bồ-đề! Trí Nhất thiết chẳng phải pháp được làm ra, sinh ra, chúng sinh này cũng chẳng phải là pháp được làm ra, sinh ra.

* Trang 103 *
device

Vì sao? Vì sắc chẳng phải làm ra, chẳng phải chẳng làm ra, thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải làm ra, chẳng phải chẳng làm ra, cho đến các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra chẳng phải làm ra, chẳng phải chẳng làm ra; ngã, nhân cho đến người biết, người thấy chẳng phải làm ra chẳng phải chẳng làm ra.
Vì sao? Vì các pháp rốt ráo không thật có.
Này Tu-bồ-đề! Mộng chẳng phải làm ra, chẳng phải chẳng làm ra, vì hoàn toàn không thật có.
Này Tu-bồ-đề! Nội không cho đến vô pháp hữu pháp không chẳng phải làm ra, chẳng phải chẳng làm ra, vì hoàn toàn không thật có. Bốn Niệm xứ cho đến mười tám pháp Bất cộng chẳng phải làm ra, chẳng phải chẳng làm ra, vì hoàn toàn không thật có.
Này Tu-bồ-đề! Pháp như, pháp tướng pháp tánh, pháp trụ, pháp vị, thật tế chẳng phải làm ra, chẳng phải chẳng làm ra, vì hoàn toàn không thật có. Bồ-tát chẳng phải làm ra, chẳng phải chẳng làm ra, vì hoàn toàn không thật có. Nhất thiết trí và Nhất thiết chủng trí chẳng phải làm ra, chẳng phải chẳng làm ra, vì hoàn toàn không thật có.
Này Tu-bồ-đề! Do duyên cớ này nên trí Nhất thiết chẳng phải pháp được làm ra, sinh ra, chúng sinh này cũng chẳng phải pháp được làm ra sinh ra. Đại Bồ-tát vì chúng sinh này mà đại trang nghiêm.
Tu-bồ-đề bạch Phật:
–Bạch Đức Thế Tôn! Như con quán sát  Nghĩa của Đức Phật nói thì sắc không trói, không mở; thọ, tưởng, hành, thức không trói, không mở.
Phú-lâu-na hỏi Tu-bồ-đề:
–Thế nào là sắc không trói, không mở; thế nào là thọ, tưởng, hành, thức không trói, không mở?
Tu-bồ-đề nói:
–Sắc như mộng và thọ, tưởng, hành, thức như mộng, không trói, không mở. Sắc như hình bóng, như tiếng vang, như ảo ảnh, như  sóng nắng, như biến hóa, cũng vậy thọ, tưởng, hành, thức như hình

* Trang 104 *
device

bóng, như tiếng vang, như ảo ảnh, như  sóng nắng, như biến hóa không trói, không mở.
Này Phú-lâu-na! Sắc, thọ, tưởng, hành, thức ở quá khứ không trói, không mở. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức ở vị lai không trói, không mở. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức ở hiện tại không trói, không mở.
Vì sao không trói, không mở?
Vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là không thật có nên không trói, không mở.
Vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là xa lìa, là vắng lặng, là bất sinh nên không trói, không mở.
Này Phú-lâu-na! Thiện, bất thiện và vô ký, sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng không trói, không mở.
Thế gian, xuất thế gian, hữu lậu, vô lậu, sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng không trói, không mở.
Vì sao? Vì không thật có, là xa lìa, là vắng lặng, là bất sinh nên không trói, không mở.
Tất cả pháp cũng không trói, không mở. Vì sao? Vì không thật có, là xa lìa, là vắng lặng, là bất sinh nên không trói, không mở.
Này Phú-lâu-na! Bố thí ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật không trói, không mở. Vì không thật có, là xa lìa, là vắng lặng, là bất sinh nên không trói, không mở.
Này Phú-lâu-na! Nội không đến vô pháp hữu pháp không, bốn Niệm xứ cho đến mười tám pháp Bất cộng, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, trí Nhất thiết, Nhất thiết chủng trí, Bồ-tát và Phật cũng đều không trói, không mở. Vì không thật có, là xa lìa, là vắng lặng, là bất sinh nên không trói, không mở.
Này Phú-lâu-na! Pháp như, pháp tướng, pháp tánh, pháp trụ, pháp vị, thật tế, pháp vô vi cũng đều không trói, không mở. Vì không thật có, là xa lìa, là vắng lặng, là không sinh nên không trói, không mở.
Này Phú-lâu-na! Đó gọi là Bố thí ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật của Đại Bồ-tát không trói, không mở, bốn Niệm xứ cho đến Nhất thiết chủng trí không trói, không mở.

* Trang 105 *
device

Đại Bồ-tát an trụ trong sáu pháp Ba-la-mật không trói, không mở, cho đến an trụ trong Nhất thiết chủng trí không trói, không mở, để thực hành không trói, không mở, thành tựu chúng sinh, không trói, không mở thanh tịnh cõi Phật, không trói, không mở, cúng dường chư Phật, không trói, không mở, nghe chánh pháp, không trói, không mở chẳng bao giờ rời chư Phật, không trói, không mở chẳng bao giờ rời các thần thông, không trói, không mở chẳng bao giờ rời năm loại mắt, không trói, không mở, chẳng bao giờ rời các môn Đà-la-ni, không trói, không mở, chăng bao giờ rời các môn Tam-muội, không trói, không mở sẽ sinh Đạo chủng trí, không trói, không mở, sẽ được Nhất thiết chủng trí, không trói, không mở, chuyển pháp luân, không trói, không mở, an lập chúng sinh trong ba thừa.
Này Phú-lâu-na! Đại Bồ-tát thực hành không trói, không mở sáu pháp Ba-la-mật, phải biết tất cả pháp đều không trói, không mở, vì không thật có, là xa lìa, là vắng lặng, là bất sinh nên không trói, không mở.
Này Phú-lâu-na! Đó gọi là Đại Bồ-tát không trói, không mở đại trang nghiêm.

Phẩm 18: HỎI VỀ THỪA
Tu-bồ-đề bạch Đức Phật:
–Bạch Đức Thế Tôn! Thế nào là Đại thừa của Bồ-tát? Thế nào sẽ biết Đại Bồ-tát hướng về Đại thừa? Thừa ấy phát từ đâu? Thừa ấy đến chỗ nào? Sẽ an trụ chỗ nào? Ai sẽ ngồi thừa ấy để ra?
Phật dạy:
–Này Tu-bồ-đề! Sáu pháp Ba-la-mật là Đại thừa của Đại Bồ-tát.
Đây là sáu pháp Ba-la-mật: Bố thí ba-la-mật, Trì giới ba-la-mật, Nhẫn nhục ba-la-mật, Tinh tấn ba-la-mật, Thiền định ba-la-mật và Bát-nhã ba-la-mật.
Thế nào gọi là Bố thí ba-la-mật?

* Trang 106 *
device

Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát dùng tâm đúng với trí Nhất thiết để bố thí các sở hữu trong thân ngoài thân, cùng tất cả chúng sinh hướng về Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì dụng không thật có. Đó gọi là Bố thí ba-la-mật của Đại Bồ-tát.
Thế nào gọi là Trì giới ba-la-mật?
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát dùng tâm đúng với trí Nhất thiết, để tự thực hành mười nghiệp lành và cũng dạy người khác thực hành, vì không thật có. Đó gọi là Trì giới ba-la-mật của Bồ-tát.
Thế nào gọi là Nhẫn nhục ba-la-mật?
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát dùng tâm đúng với trí Nhất thiết, tự đầy đủ nhẫn nhục và cũng dạy người khác thực hành nhẫn nhục, vì không thật có. Đó gọi là Nhẫn nhục ba-la-mật của Đại Bồ-tát.
Thế nào gọi là Tinh tấn ba-la-mật?
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát dùng tâm đúng với trí Nhất thiết, thực hành năm pháp Ba-la-mật kia, siêng tu không dừng nghỉ, cũng an lập chúng sinh nơi năm pháp Ba-la-mật, vì không thật có. Đó gọi là Tinh tấn ba-la-mật của Đại Bồ-tát.
Thế nào gọi là Thiền định ba-la-mật?
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát dùng tâm đúng với trí Nhất thiết, tự dùng phương tiện nhập vào các thiền, chẳng thọ sinh theo thiền và cũng dạy người khác nhập các thiền, vì không thật có. Đó gọi là Thiền định ba-la-mật của Đại Bồ-tát.
Thế nào gọi là Bát-nhẫ ba-la-mật?
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát dùng tâm đúng với trí Nhất thiết, chẳng chấp đắm tất cả pháp và quán pháp tánh, vì không thật có. Cũng dạy người khác chẳng chấp đắm tất cả pháp và quán pháp tánh, vì không thật có. Đó gọi là Bát-nhã ba-la-mật của Đại Bồ-tát.
Này Tu-bồ-đề! Đây là Đại thừa của Đại Bồ-tát.
Đại Bồ-tát lại có Đại thừa, như nội không, ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không, đệ nhất  Nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, rốt ráo không, vô thỉ không, tán không, tánh không, tự tướng không, các pháp không, bất khả đắc không, vô pháp không, hữu pháp không, vô pháp hữu pháp không.

* Trang 107 *
device

Thế nào là nội không?
Nội pháp là nhãn,  nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý. Xét về nhãn thì nhãn rỗng không, cho đến xét về ý thì ý rỗng không, vì chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Vì sao? Vì tánh tự như vậy, đó gọi là nội không.
Thế nào là ngoại không?
Ngoại pháp là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Xét về sắc thì sắc rỗng không, cho đến xét về pháp thì pháp rỗng không, vì chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Vì sao? Vì tánh tự như vậy, đó gọi là ngoại không.
Thế nào là nội ngoại không?
Pháp nội ngoại là mười hai nhập: Sáu nhập bên trong là sáu Căn và sáu nhập bên ngoài là sáu trần. Xét về nội pháp thì nội pháp rỗng không, xét về ngoại pháp thì ngoại pháp rỗng không, vì đều chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Vì sao? Vì tánh tự như vậy. Đó gọi là nội ngoại không.
Thế nào là không không?
Không là tất cả pháp rỗng không. Không này cũng là rỗng không, vì chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Vì sao? Vì tánh tự như vậy, đó gọi là không không.
Thế nào là Đại không?
Đại là nói mười phương. Xét về phương Đông thì phương Đông rỗng không, cho đến phương dưới thì phương dưới rỗng không, vì chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Vì sao? Vì tánh tự như vậy. Đó gọi là Đại không.
Thế nào là Đệ nhất  Nghĩa không?
Đệ nhất  Nghĩa là nói Niết-bàn. Xét về Niết-bàn thì Niết-bàn rỗng không, vì chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Vì sao? Vì tánh tự như vậy, đây là Đệ nhất  Nghĩa không.
Thế nào là hữu vi không?
Pháp hữu vi là nói ba cõi: cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc. Xét về cõi Dục thì cõi Dục rỗng không, cõi Sắc thì cõi Sắc rỗng không, cõi Vô sắc thì cõi Vô sắc rỗng không, vì chẳng phải thường,

* Trang 108 *
device

chẳng phải diệt. Vì sao? Vì tánh tự như vậy, đó gọi là hữu vi không.
Thế nào là vô vi không?
Pháp vô vi là không có tướng sinh, không có tướng trụ, không có tướng diệt. Xét về pháp vô vi thì pháp vô vi rỗng không, vì chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Vì sao? Vì tánh tự như vậy. Đó gọi là vô vi không.
Thế nào là rốt ráo không?
Rốt ráo là nói các pháp hoàn toàn không thật có, tức là rốt ráo rỗng không, vì chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Vì sao? Vì tánh tự như vậy, đó gọi là rốt ráo không.
Thế nào là vô thỉ không?
Xét về chỗ khởi đầu của các pháp thì không thật có, do chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Vì sao? Vì tánh tự như vậy, đó gọi là vô thỉ không.
Thế nào là tán không?
Tán là nói các pháp bất diệt. Bất diệt này cũng rỗng không, do chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Vì sao? Vì tánh tự như vậy, đó gọi là tán không.
Thế nào là tánh không?
Hoặc pháp tánh của hữu vi, hoặc pháp tánh của vô vi, tánh này chẳng phải Thanh văn, Bích-chi-phật làm ra, chẳng phải Phật làm ra, cũng chẳng phải người khác làm ra. Xét về tánh này thì tánh này rỗng không, vì chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Vì sao? Vì tánh tự như vậy, đó gọi là tánh không.
Thế nào là tự tướng không?
Nói theo tự tướng nói sắc là tướng hư hoại, thọ là tướng lãnh thọ, tưởng là tướng chấp, hành là tướng tạo tác, thức là tướng biết. Tự tướng của các pháp hữu vi, pháp vô vi đều rỗng không, vì chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Vì sao? Vì tánh tự như vậy, đó gọi là tự tướng không.
Thế nào là các pháp không?
Các pháp là nói năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới. Xét về các pháp này thì các pháp này rỗng không, do chẳng phải thường,

* Trang 109 *
device

 chẳng phải diệt. Vì sao? Vì tánh tự như vậy, đó gọi là các pháp không.
Thế nào là chẳng thể nắm bắt không?
Tìm cầu các pháp chẳng thể nắm bắt này là chẳng thể nắm bắt không, do chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Vì sao? Vì tánh tự như vậy, đó gọi là không thật có không.
Thế nào là vô pháp không?
Nếu pháp không mà có thì cũng rỗng không, do chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Vì sao? Vì tánh tự như vậy, đó gọi là vô pháp không.
Thế nào là hữu pháp không?
Hữu pháp là nói trong các pháp hòa hợp có tự tánh tướng. Hữu pháp này rỗng không, do chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Vì sao? Vì tánh tự như vậy, đó gọi là hữu pháp không.
Thế nào là vô pháp hữu pháp không?
Vô pháp trong các pháp và hữu pháp trong các pháp đều rỗng không, vì chẳng phải thường, chẳng phải diệt. Vì sao? Vì tánh tự như vậy, đó gọi là vô pháp hữu pháp không.
Này Tu-bồ-đề! Lại có pháp pháp tướng không, vô pháp vô pháp tướng không, tự pháp tự pháp tướng không, tha pháp tha pháp tướng không.
Thế nào gọi là Pháp pháp tướng không?
Pháp ở đây là nói năm ấm. Năm ấm rỗng không, đó gọi là Pháp pháp tướng không.
Thế nào gọi là vô pháp vô pháp tướng không?
Vô pháp ở đây là nói pháp vô vi, đó gọi là vô pháp vô pháp tướng không.
Thế nào gọi là tự pháp tự pháp tướng không?
Xét về các pháp thì tự pháp rỗng không. Rỗng không này chẳng phải do biết cũng chẳng phải do thấy, đó gọi là tự pháp tự pháp tướng không.
Thế nào gọi là Tha pháp tha pháp tướng không?
Hoặc Phật ra đời hoặc Phật không ra đời, thì pháp trụ, pháp tướng, pháp vị, pháp tánh là như thật tế. Vượt quá cac pháp không

* Trang 110 *
device

này, đó gọi là tha pháp tha pháp tướng không.
Như trên gọi là Đại thừa của Đại Bồ-tát.
Này Tu-bồ-đề! Lại có Đại thừa của Đại Bồ-tát, đó là Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm, Tam-muội Bảo ấn, Tam-muội Sư tử du hý, Tam-muội Diệu nguyệt, Tam-muội Nguyệt tràng tướng, Tam-muội Xuất chư pháp, Tam-muội Quán đảnh, Tam-muội Tất pháp tánh, Tam-muội Tất tràng tướng, Tam-muội Kim cang, Tam-muội Nhập pháp ấn, Tam-muội Vương an lập Tam-muội, Tam-muội Phóng quang, Tam-muội Lực tấn, Tam-muội Cao xuất, Tam-muội Tất nhập biện tài, Tam-muội Thích danh tự, Tam-muội Quán phương, Tam-muội Đà-la-ni, Tam-muội Vô cuống, Tam-muội Nhiếp chư pháp hải, Tam-muội Biến phú hư không, Tam-muội Kim cang luân, Tam-muội Bảo đoạn, Tam-muội Năng chiếu, Tam-muội Bất cầu, Tam-muội Vô trụ, Tam-muội Vô tâm, Tam-muội Tịnh đăng, Tam-muội Vô biên minh, Tam-muội Năng tác minh, Tam-muội Phổ chiếu minh, Tam-muội Kiên tịnh chư Tam-muội, Tam-muội Vô cấu minh, Tam-muội Hoan hỷ, Tam-muội Điển quang, Tam-muội Vô tận, Tam-muội Oai đức, Tam-muội Ly tận, Tam-muội Bất động, Tam-muội Bất thoái, Tam-muội Nhật đăng, Tam-muội Nguyệt tịnh, Tam-muội Tịnh minh, Tam-muội Năng tác minh, Tam-muội Tác hành, Tam-muội Tri tướng, Tam-muội Như kim cang, Tam-muội Tâm trụ, Tam-muội Phổ minh, Tam-muội An lập, Tam-muội Bảo tụ, Tam-muội Diệu pháp ấn, Tam-muội Pháp đẳng, Tam-muội Đoạn hỷ, Tam-muội Đáo pháp đảnh, Tam-muội Năng tán, Tam-muội Phân biệt chư pháp cú, Tam-muội Tự đẳng tướng, Tam-muội Ly tự, Tam-muội Đoạn duyên, Tam-muội Bất hoại, Tam-muội Vô Chủng tướng, Tam-muội Vô xứ hành, Tam-muội Ly mông muội, Tam-muội Vô khứ, Tam-muội Bất biến dị, Tam-muội Độ duyên, Tam-muội Tập chư công đức, Tam-muội Trụ vô tâm, Tam-muội Tịnh diệu hoa, Tam-muội Giác ý, Tam-muội Vô lượng biện, Tam-muội Vô đẳng đẳng, Tam-muội Độ chư pháp, Tam-muội Phân biệt chư pháp, Tam-muội Tán nghi, Tam-muội Vô xứ, Tam-muội Nhất trang nghiêm, Tam-muội Sinh hành, Tam-muội Nhất hành, Tam-muội Bất nhất hành, Tam-muội Diệu hành, Tam-muội Đạt nhất

* Trang 111 *
device

thiết hữu để tán, Tam-muội Nhập danh ngữ, Tam-muội Ly âm thanh tự ngữ, Tam-muội Nhiên cự, Tam-muội Tịnh tướng, Tam-muội Phá tướng, Tam-muội Nhất thiết chủng diệu túc, Tam-muội Bất hỷ khổ lạc, Tam-muội Vô tận tướng, Tam-muội Đà-la-ni, Tam-muội Nhiếp chư tà chánh tướng, Tam-muội Diệt tắng ái, Tam-muội Nghịch thuận, Tam-muội Tịnh quang, Tam-muội Kiên cố, Tam-muội Mãn nguyệt tịnh quang, Tam-muội Đại trang nghiêm, Tam-muội Năng chiếu nhất thiết thế, Tam-muội Đẳng Tam-muội, Tam-muội Nhiếp nhất thiết hữu tránh vô tránh, Tam-muội Bất lạc nhất thiết trụ xứ, Tam-muội Như trụ định, Tam-muội Hoại thân suy, Tam-muội Hoại ngữ như hư không, Tam-muội Ly trước như hư không bất nhiễm.
Thế nào là Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm?
Biết chỗ hành của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm.
Thế nào là Tam-muội Bảo ấn?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng ấn chứng các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Bảo ấn.
Thế nào là Tam-muội Sư tử du hý?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng đi khắp trong các Tam-muội như sư tử, đó gọi là Tam-muội Sư tử du hý.
Thế nào là Tam-muội Diệu nguyệt?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng soi sáng các Tam-muội như mặt trăng sáng, đó gọi là Tam-muội Diệu nguyệt.
Thế nào là Tam-muội Nguyệt tràng tướng?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng nắm giữ tướng của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Nguyệt tràng tướng.
Thế nào là Tam-muội Xuất chư pháp?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng sinh ra các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Xuất chư pháp.
Thế nào là Tam-muội Quán đảnh?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng xem thấy tột đảnh của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Quán đảnh.

* Trang 112 *
device

Thế nào là Tam-muội Tất pháp tánh?
Vì an trụ trong Tam-muội này thì chắc chắn biết được pháp tánh, đó gọi là Tam-muội Tất pháp tánh.
Thế nào là Tam-muội Tất tràng tướng?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng nắm giữ cờ báu của các Tam-muội.
Thế nào là Tam-muội Kim cang?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng phá các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Kim cang.
Thế nào là Tam-muội Nhập pháp ấn?
An trụ trong Tam-muội này thì nhập vào các pháp ấn, đó gọi là Tam-muội Nhập pháp ấn.
Thế nào là Tam-muội Vương an lập Tam-muội?
An trụ trong Tam-muội này thì an trụ vững vàng trong tất cả Tam-muội như bậc Đế vương, đó gọi là Tam-muội Vương an lập Tam-muội.
Thế nào là Tam-muội Phóng quang?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng phát ra ánh sáng chiếu soi các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Phóng quang.
Thế nào là Tam-muội Lực tấn?
An trụ trong Tam-muội này thì có thế lực đối với các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Lực tấn.
Thế nào là Tam-muội Cao xuất?
An trụ trong Tam-muội này thì có công năng nuôi lớn các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Cao xuất.
Thế nào là Tam-muội Tất nhập biện tài?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng biện thuyết các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Tất nhập biện tài.
Thế nào là Tam-muội Thích danh tự?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng giải thích danh tự các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Thích danh tự.
Thế nào là Tam-muội Quán phương?

* Trang 113 *
device

An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng quán sát phương hướng các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Quán phương.  Thế nào là Tam-muội Đà-la-ni ấn?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng nắm giữ các Tam-muội ấn, đó gọi là Tam-muội Đà-la-ni ấn.
Thế nào là Tam-muội Không dối trá?
An trụ trong Tam-muội này thì không dối trá đối với các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội không dối trá.
Thế nào là Tam-muội Nhiếp chư pháp hải?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng gom lấy các Tam-muội nhiều như số giọt nước biển, đó gọi là Tam-muội Nhiếp các pháp hải.
Thế nào là Tam-muội Biến phú hư không?
An trụ trong Tam-muội này thì bao trùm các Tam-muội như hư không, đó gọi là Tam-muội Biến phú hư không.
Thế nào là Tam-muội Kim cang luân?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng nắm giữ các phần Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Kim cang luân.
Thế nào là Tam-muội Bảo đoạn?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng dứt trừ cấu bẩn phiền não của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Bảo đoạn.
Thế nào là Tam-muội Năng chiếu?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng dùng ánh sáng soi rõ các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Năng chiếu.
Thế nào là Tam-muội Bất cầu?
An trụ trong Tam-muội này thì không có pháp để cầu, đó gọi là Tam-muội Bất cầu.
Thế nào là Tam-muội Vô trụ?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy tất cả pháp trụ, đó gọi là Tam-muội Vô trụ.
Thế nào là Tam-muội Vô tâm?
An trụ trong Tam-muội này thì tâm và tâm sở chẳng hiện hành, đó gọi là Tam-muội Vô tâm.

* Trang 114 *
device

Thế nào là Tam-muội Tịnh đăng?
An trụ trong Tam-muội này thì đối với các Tam-muội chiếu sáng như đèn, đó gọi là Tam-muội Tịnh đăng.
Thế nào là Tam-muội Vô biên minh?
An trụ trong Tam-muội này thì làm ánh sáng vô biên cho các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Vô biên minh.
Thế nào là Tam-muội Năng tác minh?
An trụ trong Tam-muội này thì liền có khả năng làm sáng cho các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Năng tác minh.
Thế nào là Tam-muội Phổ chiếu minh?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng chiếu soi các môn Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Phổ chiếu minh.
Thế nào là Tam-muội Kiên tịnh chư Tam-muội?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng làm cho tướng của các Tam-muội bền chắc trong sạch, đó gọi là Tam-muội Kiên tịnh chư Tam-muội.
Thế nào là Tam-muội Vô cấu minh?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng trừ cấu nhơ của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Vô cấu minh.
Thế nào là Tam-muội Hoan hỷ?
An trụ trong Tam-muội này thì lãnh thọ sự vui mừng của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Hoan hỷ.
Thế nào là Tam-muội Điện quang?
An trụ trong Tam-muội này thì chiếu suốt các Tam-muội Như ánh điện, đó gọi là Tam-muội Điện quang.
Thế nào là Tam-muội Vô tận?
An trụ trong Tam-muội này thì đối với các Tam-muội chẳng thấy cùng tận, đó gọi là Tam-muội Vô tận.
Thế nào là Tam-muội Oai đức?
An trụ trong Tam-muội này thì có oai đức chiếu rõ các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Oai đức.
Thế nào là Tam-muội Ly tận?

* Trang 115 *
device

An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy các Tam-muội cùng tận, đó gọi là Tam-muội Ly tận.
Thế nào là Tam-muội Bất động?
An trụ trong Tam-muội này thì làm cho các Tam-muội chẳng động, chẳng lay, đó gọi là Tam-muội Bất động.
Thế nào là Tam-muội Bất thoái?
An trụ trong Tam-muội này thì sẽ chẳng bị lui mất các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Bất thoái.
Thế nào là Tam-muội Nhật đăng?
An trụ trong Tam-muội này thì phát ra ánh sáng chiếu soi các Tam-muội môn, đó gọi là Tam-muội Nhật đăng.
Thế nào là Tam-muội Nguyệt tịnh?
An trụ trong Tam-muội này thì dứt trừ sự tối tăm của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Nguyệt tịnh.
Thế nào là Tam-muội Tịnh minh?
An trụ trong Tam-muội này, đối với các Tam-muội được bốn Trí vô ngại, đó gọi là Tam-muội Tịnh minh.
Thế nào là Tam-muội Năng tác minh?
An trụ trong Tam-muội này thì đối với các môn Tam-muội có khả năng làm sáng tỏ, đó gọi là Tam-muội Năng tác minh.
Thế nào là Tam-muội Tác hành?
An trụ trong Tam-muội này thì làm cho các Tam-muội có sự tạo tác, đó gọi là Tam-muội tác hành.
Thế nào là Tam-muội Tri tướng?
An trụ trong Tam-muội này khi thấy các Tam-muội liền biết tướng của các Tam-muội ấy, đó gọi là Tam-muội Tri tướng.
Thế nào là Tam-muội Như kim cang?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng quán sát thấu suốt các pháp, nhưng chẳng thấy có thấu suốt, đó gọi là Tam-muội Như kim cang.
Thế nào là Tam-muội Tâm trụ?
An trụ trong Tam-muội này thì tâm chẳng động, chẳng chuyển,

* Trang 116 *
device

chẳng não, cũng chẳng  nghĩ rằng mình có tâm này, đó gọi là Tam-muội Tâm trụ.
Thế nào là Tam-muội Phổ minh?
An trụ trong Tam-muội này thì thấy hết ánh sáng của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Phổ minh.
Thế nào là Tam-muội An lập?
An trụ trong Tam-muội này thì đối với các Tam-muội an lập chẳng động, đó gọi là Tam-muội An lập.
Thế nào là Tam-muội Bảo tụ?
An trụ trong Tam-muội này thì thấy khắp các Tam-muội như thấy đống châu báu, đó gọi là Tam-muội Bảo tụ.
Thế nào là Tam-muội Diệu pháp ấn?
An trụ trong Tam-muội này thì ấn chứng được các Tam-muội, vì dùng vô ấn để ấn, đó gọi là Tam-muội Diệu pháp ấn.
Thế nào là Tam-muội Pháp đẳng?
An trụ trong Tam-muội này thì quán sát các pháp bình đẳng, không pháp nào chẳng bình đẳng, đó gọi là Tam-muội Pháp đẳng.
Thế nào là Tam-muội Đoạn hỷ?
An trụ trong Tam-muội này thì dứt sự vui mừng đối với tất cả pháp, đó gọi là Tam-muội Đoạn hỷ.
Thế nào là Tam-muội Đáo pháp đảnh?
An trụ trong Tam-muội này thì diệt các pháp tối tăm, cũng ở trên các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Đáo pháp đảnh.
Thế nào là Tam-muội Năng tán?
An trụ trong Tam-muội này thì có công năng phá tan các pháp, đó gọi là Tam-muội Năng tán.
Thế nào là Tam-muội Phân biệt chư pháp cú?
An trụ trong Tam-muội này thì phân biệt các câu pháp của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Phân biệt chư pháp cú.
Thế nào là Tam-muội Tự đẳng tướng?
An trụ trong Tam-muội này thì được chữ bình đẳng của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Tự đẳng tướng.

* Trang 117 *
device

Thế nào là Tam-muội Ly tự?
An trụ trong Tam-muội này thì đối với các Tam-muội dù một chữ cũng không thấy, đó gọi là Tam-muội Ly tự.
Thế nào là Tam-muội Đoạn duyên?
An trụ trong Tam-muội này thì dứt duyên đối với các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Đoạn duyên.
Thế nào là Tam-muội Bất hoại?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy các pháp thay đổi, đó gọi là Tam-muội Bất hoại.
Thế nào là Tam-muội Vô chủng tướng?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy các pháp có nhiều loại, đó gọi là Tam-muội Vô chủng tướng.
Thế nào là Tam-muội Vô xứ hành?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy sự hoạt động của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Vô xứ hành.
Thế nào là Tam-muội Ly mông muội?
An trụ trong Tam-muội này thì lìa bỏ sự tối tăm sâu kín của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Ly mông muội.
Thế nào là Tam-muội Vô khứ?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy tướng đi của tất cả Tam-muội, đâu gọi là Tam-muội Vô khứ.
Thế nào là Tam-muội Bất biến dị?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy tướng thay đổi của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Bất biến dị.
Thế nào là Tam-muội Độ duyên?
An trụ trong Tam-muội này thì vượt qua cảnh giới duyên khởi của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Độ duyên.
Thế nào là Tam-muội Tập chư công đức?
An trụ trong Tam-muội này thì chứa   nhóm công đức của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Tập chư công đức.
Thế nào là Tam-muội Trụ vô tâm?
An trụ trong Tam-muội này thì đối với các Tam-muội, tâm

* Trang 118 *
device

không bị xâm nhập, đó gọi là Tam-muội Trụ vô tâm.
Thế nào là Tam-muội Tịnh diệu hoa?
An trụ trong Tam-muội này thì làm cho các Tam-muội được như hoa xinh đẹp thơm tho, đó gọi là Tam-muội Tịnh diệu hoa.
Thế nào là Tam-muội Giác ý?
An trụ trong Tam-muội này thì được bảy Giác phần trong các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Giác ý.
Thế nào là Tam-muội Vô lượng biện?
An trụ trong Tam-muội này thì đối với các pháp được tài biện luận vô lượng, đó gọi là Tam-muội Vô lượng biện.
Thế nào là Tam-muội Vô đẳng đẳng?
An trụ trong Tam-muội này thì được tướng không gì sánh bằng đối với các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Vô đẳng đẳng.
Thế nào là Tam-muội Độ các pháp?
An trụ trong Tam-muội này thì vượt qua ba cõi, đó gọi là Tam-muội Độ các pháp.
Thế nào là Tam-muội Phân biệt các pháp?
An trụ trong Tam-muội này thì phân biệt thấy các Tam-muội và các pháp, đó gọi là Tam-muội Phân biệt các pháp.
Thế nào là Tam-muội Tán nghi?
An trụ trong Tam-muội này thì làm tiêu tan sự nghi ngờ đối với các pháp, đó gọi là Tam-muội Tán nghi.
Thế nào là Tam-muội Vô trụ xứ?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy chỗ trụ của các pháp, đó gọi là Tam-muội Vô trụ xứ.
Thế nào là Tam-muội Nhất trang nghiêm?
An trụ trong Tam-muội này thì hoàn toàn chẳng thấy các pháp có hai tướng, đó gọi là Tam-muội Nhất trang nghiêm.
Thế nào là Tam-muội Sinh hành?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy các hành sinh khởi, đó gọi là Tam-muội Sinh hành.
Thế nào là Tam-muội Nhất hành?

* Trang 119 *
device

An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy các Tam-muội ở bờ này, bờ kia, đó gọi là Tam-muội Nhất hành.
Thế nào là Tam-muội Bất nhất hành?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy các Tam-muội là một tướng, đó gọi là Tam-muội Bất nhất hành.
Thế nào là Tam-muội Diệu hành?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy các Tam-muội là hai tướng, đó gọi là Tam-muội Diệu hành.
Thế nào là Tam-muội Đạt nhất thiết hữu để tán?
An trụ trong Tam-muội này thì nhập vào tất cả cõi, tất cả Tam-muội, trí tuệ thông đạt cũng không có sự thông đạt, đó gọi là Tam-muội Đạt nhất thiết hữu để tán.
Thế nào là Tam-muội Nhập danh ngữ?
An trụ trong Tam-muội này thì nhập vào tên gọi của tất cả Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Nhập danh ngữ.
Thế nào là Tam-muội Ly âm thanh tự ngữ?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy âm thanh, văn tự, ngôn ngữ của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Ly âm thanh tự ngữ.
Thế nào là Tam-muội Nhiên cự?
An trụ trong Tam-muội này thì oai đức chiếu sáng như ngọn đuốc, đó gọi là Tam-muội Nhiên cự.
Thế nào là Tam-muội Tịnh tướng?
An trụ trong Tam-muội này thì dứt sạch tướng các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Tịnh tướng.
Thế nào là Tam-muội Phá tướng?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy tướng của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Phá tướng.
Thế nào là Tam-muội Nhất thiết chủng diệu túc?
An trụ trong Tam-muội này thì tất cả các thứ Tam-muội đều đầy đủ, đó gọi là Tam-muội Nhất thiết chủng diệu túc.
Thế nào là Tam-muội Bất hỷ khổ lạc?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy các Tam-muội khổ

* Trang 120 *
device

 lạc, đó gọi là Tam-muội Bất hỷ khổ lạc.
Thế nào là Tam-muội Vô tận tướng?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy các Tam-muội có tận cùng, đó gọi là Tam-muội Vô tận tướng.
Thế nào là Tam-muội Đà-la-ni?
An trụ trong Tam-muội này thì có khả năng giữ gìn các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Đà-la-ni.
Thế nào là Tam-muội Nhiếp chư tà chánh tướng?
An trụ trong Tam-muội này thì đối với các Tam-muội chẳng thấy tướng tà chánh, đó gọi là Tam-muội Nhiếp chư tà chánh tướng.
Thế nào là Tam-muội Diệt tắng ái?
An trụ trong Tam-muội này thì không thấy sự ưa ghét của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Diệt tắng ái.
Thế nào là Tam-muội Nghịch thuận?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy sự nghịch thuận của các pháp, của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Nghịch thuận.
Thế nào là Tam-muội Tịnh quang?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy sự cấu nhơ của ánh sang của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Tịnh quang.
Thế nào là Tam-muội Kiên cố?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy các Tam-muội chẳng vững chắc, đó gọi là Tam-muội Kiên cố.
Thế nào là Tam-muội Mãn nguyệt tịnh quang?
An trụ trong Tam-muội này thì các Tam-muội viên mãn như mặt trăng đêm rằm, đó gọi là Tam-muội Mãn nguyệt tịnh quang.
Thế nào là Tam-muội Đại trang nghiêm?
An trụ trong Tam-muội này thì đại trang nghiêm thành tựu các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Đại trang nghiêm.
Thế nào là Tam-muội Năng chiếu nhất thiết thế?
An trụ trong Tam-muội này thì có công năng soi chiếu các Tam-muội và tất cả pháp, đó gọi là Tam-muội Năng chiếu nhất thiết thế.

* Trang 121 *
device

Thế nào là Tam-muội Tam-muội đẳng?
An trụ trong Tam-muội này thì đối với các Tam-muội chẳng thấy tướng định, tướng loạn, đó gọi là Tam-muội Tam-muội đẳng.
Thế nào là Tam-muội Nhiếp nhất thiết hữu tránh vô tránh?
An trụ trong Tam-muội này làm cho các Tam-muội chẳng phân biệt có kia đây, không kia đây, đó gọi là Tam-muội Nhiếp nhất thiết hữu tránh vô tránh.
Thế nào là Tam-muội Bất lạc nhất thiết trụ xứ?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy chỗ nương tựa của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Bất lạc nhất thiết trụ xứ.
Thế nào là Tam-muội Như trụ định?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng vượt quá tướng như của các Tam-muội, đó gọi là Tam-muội Như trụ định. Thế nào là Tam-muội Hoại thân suy?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy thân tướng, đó gọi là Tam-muội Hoại thân suy.
Thế nào là Tam-muội Hoại ngữ như hư không?
An trụ trong Tam-muội này thì chẳng thấy ngữ nghiệp của các Tam-muội như hư không, đó gọi là Tam-muội Hoại ngữ như hư không.
Thế nào là Tam-muội Ly trước như hư không bất nhiễm?
An trụ trong Tam-muội này thì thấy các Tam-muội Như hư không vô ngại, cũng chẳng nhiễm Tam-muội này, đó gọi là Tam-muội Ly trước như hư không bất nhiễm.
Này Tu-bồ-đề! Đó gọi là Đại thừa của Đại Bồ-tát.

* Trang 122 *
device

Phẩm 19: QUẢNG THỪA
 
Đức Phật bảo Tu-bồ-đề:
–Đại thừa của Đại Bồ-tát chính là bốn Niệm xứ, bốn Niệm xứ gồm:
Này Tu-bồ-đề! Đại Bồ-tát đối với bên trong thân, quán sát thân mình, cũng không có thân giác, vì không thật có. Đối với bên ngoài thân, quán sát thân mình, cũng không có thân giác, vì không thật có. đối với trong và ngoài thân, quán sát thân mình, cũng không có thân giác, vì không thật có. Đại Bồ-tát quán thân, siêng năng tinh tấn nhất tâm dứt trừ sự tham ưu của thế gian.
Đối với thọ, tâm, pháp bên trong; thọ, tâm, pháp bên ngoài, thọ, tâm, pháp cả trong lẫn ngoài, Đại Bồ-tát đều theo thọ, tâm, pháp quán sát, cũng không có thọ giác, tâm giác, pháp giác, vì không thật có, siêng tinh tấn nhất tâm trừ sự tham ưu của thế gian.
Này Tu-bồ-đề! Thế nào là Đại Bồ-tát đối với bên trong thân quán sát thân mình?
Lúc Đại Bồ-tát đi thì biết là đi, lúc đứng thì biết là đứng, lúc ngồi thì biết là ngồi, lúc nằm thì biết là nằm. Thân hành động thế nào thì biết đúng như vậy. Đây là đối với bên trong thân, Đại Bồ-tát quán sát thân mình, siêng năng tinh tấn, nhất tâm dứt trừ sự tham ưu của thế gian, vì không thật có.
Đại Bồ-tát lúc đến, lúc đi, lúc nhìn ngó, co duỗi, cúi ngửa, lúc đắp y, ôm bát, lúc ăn uống, lúc nằm nghỉ, ngủ, thức, ngồi, đứng, nói, nín, lúc nhập thiền, xuất tịnh cũng thường nhất tâm. Đây là đối với bên trong thân, Đại Bồ-tát quán sát thân mình lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật, vì không thật có.
Lúc quán sát thân mình đối với bên trong thân, Đại Bồ-tát nhất tâm niệm, lúc thở vào biết là thở vào, lúc thở ra biết là thở ra, lúc thở vào dài thì biết là thở vào dài, lúc thở ra dài thì biết là thở ra dài, lúc thở vào ngắn thì biết là thở vào ngắn, lúc thở ra ngắn thì biết là thở ra nắn. Đây là bên trong thân Đại Bồ-tát quán sát thân

* Trang 123 *
device

mình, siêng năng tinh tấn nhất tâm dứt trừ sự tham ưu của thế gian, vì không thật có.
Đại Bồ-tát quán sát thân bốn đại  nghĩ rằng trong thân thể có địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại.
Ví như người giết mổ dùng dao bén giết bò, chia làm bốn phần, rồi đứng hoặc ngồi, quán sát bốn phần thịt bò này.
Cũng giống như vậy, Đại Bồ-tát lúc thực hành Bát-nhã ba-la-mật quán sát thân thể bốn đại: địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại. Đây là bên trong thân, Đại Bồ-tát quán sát thân mình, vì không thật có.
Đại Bồ-tát lại quán sát thân thể từ đỉnh đầu đến chân, da mỏng bao bọc, nhiều thứ bất tịnh dẫy đầy trong thân,  nghĩ rằng thân thể có tóc, lông, móng, răng, da mỏng, da dầy, gân, thịt, xương, tủy, tim, gan, phổi, tỳ, cật, mật, ruột non, ruột già, dạ dày, bàng quang, phân, dãi, mồ hôi, cáu ghét, nước mắt, nước mũi, nước miếng, máu, mủ, đàm nhớt, não óc.
Ví như trong kho của người làm ruộng chứa lẫn lộn đầy các thứ lúa, nếp, mè, đậu, bắp. Người có mắt sáng mở kho liền thấy rõ là lúa, là nếp, là mè, là đậu, là bắp.
Đại Bồ-tát quán sát trong thân từ đầu đến chân thấy rõ từng chi tiết bất tịnh, siêng năng tinh tấn, nhất tâm dứt trừ sự tham ưu của thế gian, vì không thật có.
Đại Bồ-tát nếu thấy thân người chết đã trải qua một ngày, hai ngày đến năm ngày, xanh ứ sình trương, máu nước rỉ chảy, tự  nghĩ rằng thân ta đây rồi cũng sẽ như vậy, chẳng thể thoát khỏi như thế ấy. Đây là Đại Bồ-tát bên trong thân, quán sát thân mình, siêng năng tinh tấn nhất tâm dứt trừ sự tham ưu của thế gian, vì không thật có.
Đại Bồ-tát nếu thấy thân người chết bị vất bỏ đã sáu ngày, bảy ngày, bị chồn, chó,  sĩi, quạ, kên kên xé ăn, tự  nghĩ rằng thân ta rồi cũng sẽ như vậy, chẳng thể thoát khỏi thế. Đây là Đại Bồ-tát đối với bên trong thân, quán sát thân mình, siêng năng tinh tấn nhất tâm dứt trừ sự tham ưu của thế gian, vì không thật có vậy.
Đại Bồ-tát nếu thấy thân người chết bị vất bỏ, cầm thú xé ăn,

* Trang 124 *
device

vung vãi hôi thối bất tịnh, tự  nghĩ rằng thân ta rồi cũng sẽ như vậy, chẳng thể thoát khỏi như thế.
Nếu thấy thân người chết bị vất bỏ, da thịt đã tan, lộ bày gân xương ràng rịt nhau, Đại Bồ-tát tự  nghĩ rằng thân ta rồi cũng sẽ như vậy, chẳng thể thoát khỏi như thế.
Nếu thấy thân người chết bị vất bỏ, xương cốt rã rời trên đất, Đại Bồ-tát tự  nghĩ rằng thân ta rồi cũng giống như vậy, chẳng thể thoát khỏi như thế.
Nếu thấy thân người chết bị vất bỏ, xương cốt vung vãi dưới đất, xương chân chỗ này, xương đầu chỗ nọ, mỗi lóng, mỗi đốt đều khác chỗ, Đại Bồ-tát tự  nghĩ rằng thân ta rồi cũng sẽ như vậy, chẳng thể thoát khỏi như thế.
Nếu thấy xương khô bị bỏ lâu ngày, gió thổi, nắng chiếu, màu trắng như vỏ ốc, Đại Bồ-tát tự  nghĩ rằng thân ta rồi cũng sẽ như vậy, chẳng thể thoát khỏi như thế.
Nếu thấy xương khô bị bỏ dưới đất lâu ngày mục rã nát bấy lẫn lộn với đất, Đại Bồ-tát tự  nghĩ rằng thân ta rồi cũng sẽ như vậy, chẳng thể thoát khỏi như thế. Thân Đại Bồ-tát quán sát thân mình bên trong thân siêng năng tinh tấn nhất dứt tâm trừ sự tham ưu của thế gian, vì không thật có.
Như quán sát bên trong thân, đối với bên ngoài thân và bên trong lẫn ngoài thân, cũng quán sát thân mình như vậy.
Cũng phải y theo như trên đây mà giảng giải chi tiết về Thọ niệm xứ, Tâm niệm xứ và Pháp niệm xứ.
Đây gọi là Đại thừa của Đại Bồ-tát, vì không thật có.
Này Tu-bồ-đề! Lại có Đại thừa của Đại Bồ-tát, chính là bốn Chánh cần, bốn Chánh cần gồm:
1.Đại Bồ-tát đối với những pháp ác bất thiện chưa phát sinh, vì làm cho pháp ác chẳng sinh nên muốn có tâm siêng năng tinh tấn mà nhất tâm hành đạo.
2.Đối với pháp ác bất thiện đã phát sinh, vì muốn dứt trừ nên muốn có tâm siêng năng tinh tấn mà nhất tâm hành đạo.
3.Đối với pháp thiện chưa phát sinh, vì muốn phát sinh nên

* Trang 125 *
device

muốn có tâm siêng năng tinh tấn mà nhiếp tâm hành đạo.
4.Đối với pháp lành đã phát sinh, vì làm cho còn mãi để tu tập được đầy đủ rộng lớn nên muốn có tâm siêng năng tinh tấn mà thu nhiếp tâm để hành đạo, vì không thật có.
Đây gọi là Đại thừa của Đại Bồ-tát.
Này Tu-bồ-đề! Lại có Đại thừa của Đại Bồ-tát, đó là bốn phần Như ý, bốn phần Như ý gồm:
1.Đại Bồ-tát vì sự mong muốn quyết định hạnh thành tựu mà tu phần Như ý.
2.Vì sự nhất tâm quyết định hạnh thành tựu mà tu phần Như ý.
3.Vì sự tinh tấn quyết định hạnh thành tựu mà tu phần Như ý.
4.Vì sự tư duy quyết định hạnh thành tựu mà tu phần Như ý.
Đây là Đại thừa của Đại Bồ-tát, vì không thật có.
Này Tu-bồ-đề! Lại có Đại thừa của Đại Bồ-tát, đó là năm Căn, năm Căn gồm:
Tín căn, Tinh tấn căn, Niệm căn, Định căn, Tuệ căn. Đây là Đại thừa của Đại Bồ-tát, vì không thật có.
Lại có Đại thừa của Đại Bồ-tát, đó là năm Lực, năm Lực gồm có.
Tín lực, tinh tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực, đây là Đại thừa của Đại Bồ-tát, vì không thật có.
Lại có Đại thừa của Đại Bồ-tát, đó là bảy Giác phần, bảy Giác phần gồm: Đại Bồ-tát tu phần giác Niệm, phần giác, phần giác Tinh tấn, phần giác Hỷ, phần giác Trừ, phần giác Định, phần giác Xả, nương vào sự xa lìa, nơi không nhiễm, hướng đến Niết-bàn. Đó gọi là Đại thừa của Đại Bồ-tát, vì không thật có.
Lại có tám phần Thánh đạo là Đại thừa của Đại Bồ-tát, tám phần Thánh đạo đó gồm: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Đó gọi là Đại thừa của Đại Bồ-tát, vì không thật có.
Lại có ba môn Tam-muội là Đại thừa của Đại Bồ-tát.
Ba môn Tam-muội là: Tam-muội Không, Tam-muội Vô tướng và Tam-muội Vô tác.

* Trang 126 *
device

Tam-muội không là nói các pháp tự tướng rỗng không, đó gọi là giải thoát môn Không.
Tam-muội Vô tướng là nói diệt hoại các pháp tướng, không  nghĩ, không nhớ, đó gọi là giải thoát môn Vô tướng.
Tam-muội Vô tác là nói đối với các pháp không mong cầu tạo tác, đó gọi là giải thoát môn Vô tác.
Ba môn này là Đại thừa của Đại Bồ-tát vì không thật có.
Lại có Đại thừa của Đại Bồ-tát, chính là Khổ trí, Tập trí, Diệt trí, Đạo trí, Tận trí, Vô sinh trí, Pháp trí, Tỷ trí, Thế trí, Tha tâm trí và Như thật trí.
Thế nào là Khổ trí? Biết khổ chẳng sinh, đó gọi là Khổ trí.
Thế nào là Tập trí? Biết tập phải dứt, đó gọi là Tập trí.
Thế nào là Diệt trí? Biết khổ diệt, đó gọi là Diệt trí.
Thế nào là Đạo trí? Biết tám phần Thánh đạo, đó gọi là Đạo trí.
Thế nào là Tận trí? Biết tham, sân, si diệt tận, đó gọi là Tận trí.
Thế nào là Vô sinh trí? Biết không còn sinh trong các cõi hữu lậu, đó gọi là Vô sinh trí.
Thế nào là Pháp trí? Biết căn bản của năm ấm, đó gọi là Pháp trí.
Thế nào là Tỷ trí? Biết nhãn vô thường cho đến biết các thọ do ý xúc làm duyên sinh ra là vô thường, đó gọi là Tỷ trí.
Thế nào là Thế trí? Biết nhân duyên danh tự, đó gọi là Thế trí.
Thế nào là Tha tâm trí? Biết tâm niệm của các chúng sinh khác, đó gọi là Tha tâm trí.
Thế nào là Như thật trí? Biết Nhất thiết chủng trí của chư Phật, đó gọi là Như thật trí.
Mười một trí này là Đại thừa của Đại Bồ-tát vì không thật có.
Lại có ba căn là Đại thừa của Đại Bồ-tát.
Ba căn ấy gồm: Căn vị tri dục tri, Căn tri và Căn trí giả.
1.Tín căn, Tinh tấn căn, Niệm căn, Định căn và Tuệ căn, năm Căn của hàng Hữu học chưa đắc quả, đó gọi là Căn vị tri dục tri.

* Trang 127 *
device

2.Năm Căn của hàng Hữu học đã đắc quả, đó gọi là Tri căn.
3.Năm Căn của bậc Vô học, hoặc A-la-hán, Bích-chi-phật, hoặc chư Phật, đó gọi là Căn trí giả.
Ba căn này là Đại thừa của Đại Bồ-tát vì không thật có.
Lại có ba Tam-muội là Đại thừa của Đại Bồ-tát. Ba Tam-muội ấy gồm: Tam-muội Hữu giác hữu quán, Tam-muội Vô giác hữu quán và Tam-muội Vô giác vô quán.
1.Rời những dục nhiễm và rời các pháp ác bất thiện có giác, có quán, rời dục nhiễm phát sinh hỷ lạc nhập vào Thiền thứ nhất, đó gọi là Tam-muội hữu giác hữu quán.
2.Chặng giữa của Thiền thứ nhất và Thiền thứ hai, đó gọi là Tam-muội Vô giác hữu quán.
3.Từ Thiền thứ hai đến Phi hữu tưởng phi vô tưởng định, đó gọi là Tam-muội Vô giác vô quán.
Ba Tam-muội này là Đại thừa của Đại Bồ-tát, vì không thật có.
Lại có mười niệm là Đại thừa của Đại Bồ-tát.
Mười niệm ấy là: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm xả, niệm thiên, niệm thiện, niệm hơi thở ra vào, niệm thân và niệm chết.
Mười chánh niệm này là Đại thừa của Đại Bồ-tát, vì không thật có.
Lại có bốn Thiền, bốn Tâm vô lượng, bốn định Vô sắc, tám Bội xả và chín Định thứ đệ là Đại thừa của Đại Bồ-tát, vì không thật có.
Lại có Đại thừa của Đại Bồ-tát, đó là mười Lực.
Mười Lực ấy là:
1.Phật biết như thật các tướng chỗ đúng, chỗ không đúng của tất cả pháp.
2.Phật biết như thật những nghiệp, những pháp lãnh thọ của chúng sinh khác, biết chỗ tạo nghiệp, biết nhân duyên, biết quả báo của chúng sinh khác.
3.Phật biết như thật các tướng cấu tịnh khác nhau của các

* Trang 128 *
device

thiền giải thoát, các Tam-muội và các định.
4.Phật biết như thật các tướng căn tánh thượng, hạ của chúng sinh khác.
5.Phật biết như thật các thứ dục giải của chúng sinh khác.
6.Phật biết như thật vô số tánh loại khác nhau của thế gian.
7.Phật thấy biết như thật chỗ đến của tất cả đạo hạnh.
8.Phật như thật biết túc mạng của mình và của chúng sinh khác từ một đời đến vô lượng đời trong vô lượng kiếp có tướng như vậy, có nhân duyên như vậy.
9.Phật có Thiên nhãn thanh tịnh hơn các vị trời, biết như thật chúng sinh chết đây sinh kia, hoặc đường lành hoặc đường ác.
10.Phật biết như thật các lậu hết nên tâm vô lậu giải thoát, tuệ vô lậu giải thoát, trong pháp hiện tại tự chứng biết nhập vào pháp ấy,  Nghĩa là chứng biết như thật ta đã hết sinh tử, đã thành phạm hạnh, từ đời này chẳng còn thấy có đời sau nữa.
Mười Trí lực này là Đại thừa của Đại Bồ-tát, vì không thật có.
Lại có Đại thừa của Đại Bồ-tát, đó là bốn Vô sở úy, bốn Vô sở ý gồm:
1.Phật nói lời thành thật rằng ta là Bậc Nhất Thiết Chánh Trí. Đối với những điều như thật gạn hỏi về các pháp của tất cả đại chúng, Phật tự thấy không có mảy may e sợ. Vì thế nên Phật rất được an ổn, được vô sở úy, an trụ, ngôi Thánh chúa, ở giữa đại chúng cất tiếng sư tử rống, chuyển pháp luân thanh tịnh mà tất cả hàng Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên vương, Phạm vương, Ma vương, cùng chúng sinh khác đều không thể xoay được, đây là vô sở úy thứ nhất.
2.Phật nói lời thành thật rằng ta là bậc mà tất cả lậu đã dứt trừ sạch hết. Đối với lìa gạn hỏi như thật về dứt trừ phiền não hữu lậu của tất cả đại chúng, Phật tự thấy không có mảy may e sợ. Vì thế nên Phật rất được an ổn, được vô sở úy, an trụ trên ngôi Thánh chúa, ở giữa đại chúng cất tiếng như sư tử rống chuyển pháp luân thanh tịnh mà tất cả trời, người và chúng sinh khác không chuyển được. Đây là vô sở úy thứ hai.

* Trang 129 *
device

3.Phật nói lời thành thật rằng đây là những pháp chướng ngại chánh đạo giải thoát. Đối với những lời gạn hỏi như thật về pháp chướng đạo này của tất cả đại chúng, Phật tự thấy không có mảy may e sợ. Vì thế nên Phật rất được an ổn, được vô sở úy, an trụ bậc Thánh chúa, ở giữa đại chúng cất tiếng như sư tử rống chuyển pháp luân thanh tịnh mà tất cả trời, người và cùng chúng sinh khác đều không chuyển được. Đây là vô sở úy thứ ba.
4.Phật nói lời thành thật rằng các Thánh đạo mà ta đã dạy chắc chắn giúp ra khỏi thế gian, theo đây thực hành thì sẽ hết khổ. Đối với những lời gạn hỏi như thật về Thánh đạo này của tất cả đại chúng, Phật tự thấy không có mảy may e sợ. Vì thế nên Phật rất được an ổn, được vô sở úy, an trụ bậc Thánh chúa, ở giữa đại chúng cất tiếng như sư tử rống chuyển pháp luân thanh tịnh mà tất cả trời, người và chúng sinh khác đều không xoay được. Đây là vô sở úy thứ tư.
Bốn Vô sở úy này là Đại thừa của Đại Bồ-tát vì không thật có.
Lại có Đại thừa của Đại Bồ-tát, đó là bốn Trí vô ngại.
Bốn trí ấy là: Trí Pháp vô ngại, trí  Nghĩa vô ngại, trí Từ vô ngại và trí Nhạo thuyết vô ngại. Đây là Đại thừa của Đại Bồ-tát vì không thật có.
Lại có Đại thừa của Đại Bồ-tát đó là mười tám pháp Bất cộng, mười tám pháp ấy gồm:
1.Thân chư Phật không lỗi.
2.miệng chư Phật không lỗi.
3.Ý niệm của chư Phật không lỗi.
4.Chư Phật không có dị tướng.
5.Chư Phật không có tâm bất định.
6.Chư Phật không có tâm chẳng biết nên xả.
7.Nguyện dục không diệt.
8.Tinh tấn không diệt.
9.Chánh niệm không diệt.
10.Tuệ không diệt.
11.Giải thoát không diệt.
12.Giải thoát tri kiến không diệt.

* Trang 130 *
device

13.Tất cả thân nghiệp của Phật đều thực hành theo trí tuệ.
14.Tất cả khẩu nghiệp đều thực hành theo trí tuệ.
15.Tất cả ý nghiệp đều thực hành theo trí tuệ.
16.Trí tuệ của Phật thấy biết quá khứ không ngại, không chướng.
17.Trí tuệ thấy biết thuở vị lai không ngại, không chướng.
18.Trí tuệ thấy biết hiện tại không ngại, không chướng.
Đây là Đại thừa của Đại Bồ-tát, vì không thật có.
Lại có Đại thừa của Đại Bồ-tát, đó là các chữ nhập môn của các văn tự, các ngôn ngữ.
Các chữ nhập môn của các văn tự, ngôn ngữ ấy là:
Môn chữ A, vì tất cả pháp từ đầu vốn là không sinh.
Môn chữ La, vì tất cả pháp lìa cấu.
Môn chữ Ba, vì tất cả pháp Đệ nhất  Nghĩa vậy.
Môn chữ Giá, tất cả pháp hoàn toàn không thật có, vì tất cả pháp bất diệt, bất sinh.
Môn chữ Na, vì tất cả pháp lìa danh tướng không được, không mất.
Môn chữ Lã, vì tất cả pháp thoát khỏi thế gian, cũng là vì nhân duyên thuộc chi ái đã dứt diệt.
Môn chữ Đà, vì tất cả pháp tâm thiện phát sinh, cũng là tướng xả thí.
Môn chữ Bà, vì các pháp bà tự rời lìa.
Môn chữ Đồ vì các pháp đồ tự thanh tịnh.
Môn chữ Sa, vì các pháp tánh tự tại thanh tịnh.
Môn chữ Hòa, vì nhập vào các pháp, dứt bặt ngữ ngôn.
Môn chữ Đa, vì nhập vào các pháp, như tướng bất động.
Môn chữ Dạ, vì nhập vào các pháp, như thật bất sinh.
Môn chữ Tra, vì nhập vào các pháp, chiết phục không thật có.
Môn chữ Ca, vì nhập vào các pháp, tác giả không thật có.
Môn chữ Ta, vì nhập vào các pháp, thời gian không thật có, vì các pháp thời gian lay chuyển.

* Trang 131 *
device

Môn chữ Ma, vì nhập vào các pháp, ngã sở không thật có.
Môn chữ Già, vì nhập vào các pháp, các khứ khác không thật có.
Môn chữ Tha, vì nhập vào các pháp, nơi chốn không thật có.
Môn chữ Xà, vì nhập vào các pháp, sinh không thật có.
Môn chữ Bả, vì nhập vào các pháp, chữ Bả không thật có.
Môn chữ Đà, vì nhập vào các pháp, tánh không thật có.
Môn chữ Xa, vì nhập vào các pháp, định không thật có.
Môn chữ Khư, vì nhập vào các pháp, hư không không thật có.
Môn chữ Xoa, vì nhập vào các pháp, diệt tận không thật có.
Môn chữ Đá, vì nhập vào các pháp, hữu không thật có.
Môn chữ Nhã, vì nhập vào các pháp, trí không thật có
Môn chữ Tha, vì nhập vào các pháp, tha tự không thật có.
Môn chữ Bà, vì nhập vào các pháp, phá hoại không thật có.
Môn chữ Xa, vì nhập vào các pháp, dục không thật có, năm ấm như ảnh cũng không thật có.
Môn chữ Ma, vì nhập vào các pháp, chữ ma không thật có.
Môn chữ Hỏa, vì nhập vào các pháp, kêu gọi không thật có.
Môn chữ Ta, vì nhập vào các pháp, ta tự không thật có.
Môn chữ Noa, vì nhập vào các pháp, chẳng đến, chẳng đi, chẳng đứng, chẳng ngồi, chẳng nằm.
Môn chữ Phả, vì nhập vào các pháp, bờ mé không thật có.
Môn chữ Ca, vì nhập vào các pháp, chữ Ca không thật có.
Môn chữ Sai, vì nhập vào các pháp, chữ Sai không thật có.
Môn chữ Già, vì nhập vào các pháp hiện hành không thật có.
Môn chữ Tra, vì nhập vào các pháp, cong vạy không thật có.
Môn chữ Đồ, vì nhập vào các pháp, chỗ cùng tột bến bờ nên chẳng diệt, chẳng sinh.
Ngoài chữ Đồ thì không còn chữ nào có thể giảng nói. Vì sao? Vì không còn có chữ. Những chữ vô ngại, vô danh, cũng diệt, chẳng nói được, chẳng chỉ được, chẳng thấy được, chẳng biên chép được.
Này Tu-bồ-đề! Phải biết tất cả pháp như hư không. Đó gọi là Đà-la-ni môn, chính là  Nghĩa chữ A.

* Trang 132 *
device

Nếu Đại Bồ-tát, đối với các tự môn ấn, A tự ấn này, hoặc nghe, hoặc thọ, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc trì, hoặc giảng nói cho người khác nghe thì biết rằng sẽ được hai mươi công đức. Hai mươi công đức ấy gồm:
1.Được nhớ dai.
2.Biết hổ thẹn.
3.Được tâm kiên cố.
4.Được chỉ thú của kinh.
5.Được trí tuệ.
6.Được lạc thuyết vô ngại.
7.Dễ được những môn Đà-la-ni khác.
8.Được tâm không nghi ngờ hối hận.
9.Được nghe lành chẳng mừng, nghe dữ chẳng giận.
10.Được chẳng cao, chẳng thấp, an trụ tâm không thêm, không bớt.
11.Được khéo léo, biết lời nói của chúng sinh.
12.Được phân biệt hoàn toàn về năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới, mười hai nhân duyên, bốn duyên và bốn đế.
13.Phân biệt hoàn toàn về các căn tánh lợi độn của chúng sinh.
14.Khéo biết tâm niệm của người khác.
15.Khéo phân biệt ngày, tháng, năm, mùa.
16.Khéo phân biệt Thiên  nhĩ thông.
17.Khéo phân biệt Túc mạng thông.
18.Khéo phân biệt sinh tử thông.
19.Khéo giảng nói nơi đúng, nơi sai.
20.Khéo biết oai nghi qua, lại, ngồi, đứng của thân.
Các môn Đà-la-ni, môn tự, môn chữ A này gọi là pháp Đại thừa của Đại Bồ-tát, vì không thật có.

* Trang 133 *
device

 
Đại Tập 31 - Bộ Bát-Nhã XIV - Số 223 - 224