LOGO VNBET
KINH TRÌ THẾ

 QUYỂN 4


 Phẩm 8: TÁM THÁNH ĐẠO

 
 Này Bồ-tát Trì Thế! Thế nào là Đại Bồ-tát biết rõ đạo? Đại Bồ-tát an trụ trong đạo? Những gì là đạo?
Đó là tám phần Thánh đạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Này Bồ-tát Trì Thế! Thế nào là Đại Bồ-tát thực hành tám Thánh đạo? Thế nào gọi là chứng đắc phương tiện của tám phần Thánh đạo?
Đại Bồ-tát đắc chánh kiến, an trụ nơi chánh kiến, vì muốn đoạn trừ tất cả kiến nên hành đạo. Vì đoạn trừ tất cả các kiến nên an trụ nơi đạo, cho đến đoạn trừ kiến chấp về Niết-bàn, kiến chấp về Phật. Vì sao? Này Bồ-tát Trì Thế! Vì tất cả kiến đều là tà kiến, cho đến kiến chấp về Niết-bàn, về Phật cũng như vậy. Vì phá tan tất cả sự tham chấp về các kiến nên gọi là chánh kiến. Lại không có các kiến, không giữ lấy các kiến, không niệm, không tham chấp, không duyên, không hành, không phân biệt tất cả các kiến, đó gọi là chánh kiến. Dùng chánh kiến này để thấy những gì? Nghĩa là thấy tất cả thế gian đều bị các kiến trói buộc, hư vọng, điên đảo. Khi thấy như vậy gọi là an trụ nơi việc đoạn trừ tất cả kiến. Chánh kiến cũng không niệm, không kiến, không tham chấp, phân biệt cho đến kiến chấp về Niết-bàn, kiến chấp về Phật cũng như vậy. Vì không khởi tất cả kiến nên hành đạo.
Thế nào gọi là chánh kiến? Tất cả pháp đều vắng lặng nên tướng không sinh, không diệt, đồng với Niết-bàn. Như vậy, tất cả pháp này cũng không niệm, không phân biệt. Không niệm, không phân biệt, không hiện tiền, không chánh, không tà, không lấy, không bỏ, gọi đó là chánh kiến xuất thế gian.
Thế nào là chánh kiến xuất thế gian? Người này không thủ đắc thế gian, không thủ đắc xuất thế gian, đã vượt khỏi thế gian, không còn 

* Trang 684 *
device

phân biệt, đó gọi là chánh kiến xuất thế gian. Người chánh kiến là người thấy biết như thật về thế gian, xuất thế gian cũng như vậy. Người này không còn phân biệt đây là thế gian, đây là xuất thế gian, đoạn trừ các vọng tưởng phân biệt, gọi là chánh kiến xuất thế gian. Người này không thấy tà, thấy chánh, đoạn tất cả ý niệm của tâm, đó gọi là chánh kiến. Lại nữa, người chánh kiến là ở trong các pháp hoàn toàn không sai biệt nên gọi là chánh kiến. Lại nữa, người chánh kiến là thấy biết như thật về nghĩa các tà kiến. Chánh kiến là quán các tà kiến tức là bình đẳng. Đó gọi là Đại Bồ-tát an trụ nơi chánh kiến.
Này Bồ-tát Trì Thế! Đại Bồ-tát trụ trong chánh kiến, biết như thật về chánh tư duy và nghĩ thế này: “Tất cả tư duy đều là tà, cho đến tư duy về Niết-bàn, tư duy về Phật cũng đều là tư duy tà. Vì sao? Vì đoạn trừ các phân biệt, đó gọi là chánh tư duy, không còn phân biệt gọi là chánh phân biệt, đoạn trừ phân biệt là chánh phân biệt. Vì sao? Vì người này thấy biết tất cả tướng tư duy rồi thì không thấy có tà. Người này liền không còn phân biệt là đây, là kia, an trụ trong chánh phân biệt như vậy. Lại không còn phân biệt là chánh hay tà. Người này lìa các sự phân biệt, vượt qua các phân biệt, nên gọi là chánh tư duy. Người chánh tư duy tức là người thấy biết, phân biệt về tất cả phân biệt đều là hư dối, không thật, từ điên đảo sinh khởi. Trong các phân biệt không có phân biệt thì người này an trụ nơi chánh tư duy, lại không phân biệt là chánh hay tà. Lìa các phân biệt, vượt qua các phân biệt, đoạn trừ các phân biệt nên gọi là chánh phân biệt. Lúc ấy, người này ở trong tất cả phân biệt không còn bị ràng buộc, thấy biết các tánh phân biệt đều bình đẳng nên gọi là an trụ nơi Chánh tư duy.
Này Bồ-tát Trì Thế! Đại Bồ-tát siêng năng tu tập chánh ngữ tức người ấy thấy tất cả lời nói đều hư vọng không thật, đều từ điên đảo sinh ra, chỉ từ các nhân duyên, phân biệt, tưởng nghĩ mà có. Người ấy nghĩ thế này: “Tướng ngôn ngữ trong ngôn ngữ là không thể thủ đắc, dứt bặt tất cả ngôn ngữ, biết như thật tất cả khẩu nghiệp, gọi đó là chánh ngữ. Người có thể thấy lời nói không từ đâu đến, cũng không đi về đâu, đó gọi là chánh ngữ. Khi người này an trụ trong thật tướng, những lời họ nói ra đều là chánh ngữ, nên nói an trụ trong chánh ngữ. Người này được an trụ nơi khẩu nghiệp thanh tịnh bậc nhất, cũng 

* Trang 685 *
device

thấy biết các tướng của khẩu nghiệp, cũng thông đạt tất cả ngôn ngữ. Lời người này nói ra hoàn toàn không tà vạy, nên gọi là an trụ nơi chánh ngữ.
Này Bồ-tát Trì Thế! Đại Bồ-tát biết rõ tất cả nghiệp đều là tà nghiệp, biết tất cả nghiệp đều hư vọng, không có thật, không tạo tác, không sinh khởi. Vì sao? Vì trong các nghiệp không có một tướng nhất định, diệt tất cả các nghiệp gọi là chánh nghiệp. Người chánh nghiệp là đối với nghiệp không phân biệt là tà hay chánh, vì bình đẳng đi vào các nghiệp nên không phân biệt là tà nghiệp hay chánh nghiệp, nên nói là chánh nghiệp.
Lại chánh nghiệp là nghĩa không bị ràng buộc trong ba cõi, thấy biết nghĩa như thật. Trong bình đẳng như thật lại không có phân biệt là tà, là chánh. Bồ-tát hành chánh nghiệp như vậy, là thấy biết như thật nơi tất cả nghiệp. Đối với các pháp không lấy không bỏ, nên gọi là hành chánh nghiệp, trong chánh nghiệp không có tà nghiệp. Người này vì thấy biết như thật nên nói an trụ nơi chánh nghiệp.
Này Bồ-tát Trì Thế! Thế nào là Đại Bồ-tát biết rõ tất cả các mạng đều là tà mạng? Vì sao? Vì nếu có tướng mạng, tướng pháp, tướng thủ, cho đến tướng Niết-bàn, tướng Phật, tướng pháp Phật thanh tịnh, an trụ trong đó mà cho là mạng thanh tịnh đều gọi là tà mạng.
Người chánh mạng là xả bỏ sự tham chấp về của cải của đời sống riêng tư, chấm dứt các sự mua bán, đổi chác, không phân biệt, không hý luận, vượt qua tất cả hý luận, đó gọi là chánh mạng. Trong chánh mạng không còn phân biệt đây là chánh mạng, đây là tà mạng, liền được tất cả mạng thanh tịnh nên gọi là được chánh mạng thanh tịnh. Lại nữa, tất cả các mạng đều không sinh, không có chánh tà. Người đó được gọi là đắc mạng thanh tịnh, an trụ nơi chánh đạo, không còn hý luận. Trụ trong chánh mạng như vậy, không lấy chánh mạng, không bỏ tà mạng, cho nên nói là trụ trong chánh mạng. Bấy giờ không còn gọi người này là trụ nơi chánh, trụ nơi tà, được mạng thanh tịnh bình đẳng, lìa tướng mạng, không động, không tác, không nghĩ mạng, không nghĩ phi mạng. Chỉ gọi là người biết như thật, người thấy như thật, nên nói là trụ nơi chánh mạng.
Này Bồ-tát Trì Thế! Thế nào là Đại Bồ-tát biết rõ chánh tinh 

* Trang 686 *
device

tấn? Đại Bồ-tát trụ nơi chánh tinh tấn là đoạn trừ tất cả đạo tinh tấn, nên gọi là trụ nơi chánh tinh tấn. Vì sao? Vì tất cả tinh tấn đều là tà, có các sự phát sinh, có tạo tác, có hành động, đều gọi là tà. Vì sao? Vì tất cả pháp đều là tạo tác, tà có sự phát sinh, tạo tác là hư vọng. Nếu là hư vọng cũng là tà.
Chánh tinh tấn là không phát, không tác, không hành, không nguyện, ở trong tất cả pháp dứt hẳn sự tạo tác. Bồ-tát ở trong tất cả pháp dứt hết sự tạo tác, cho đến trong tướng Phật, tướng Niết-bàn, không còn sinh tướng tạo tác. Người này biết rõ tất cả sự tạo tác đều là hư vọng, vì không tạo tác nên hành đạo. Nếu là người chân chánh thì không tạo tác, tất cả pháp đều bình đẳng, không sai khác, vượt qua tướng tạo tác, không còn tạo tác. Bồ-tát này biết rõ tinh tấn không phải là đạo tinh tấn, không lấy, không bỏ nên nói là trụ nơi chánh tinh tấn.
Người chánh tinh tấn tức là ở nơi các nghĩa tinh tấn không thể thủ đắc, tức là thấy biết như thật nghĩa tất cả các pháp. Người thấy như vậy là chánh tinh tấn, không còn phân biệt là tà tinh tấn, hay là chánh tinh tấn, nên nói là chánh tinh tấn.
Này Bồ-tát Trì Thế! Thế nào là Đại Bồ-tát biết rõ về chánh niệm?
Đại Bồ-tát thấy biết tất cả niệm đều là tà niệm, hễ có chỗ của đối tượng niệm đều là tà niệm. Vì sao? Vì tất cả niệm là tà niệm. Nếu ở chỗ đối tượng niệm mà sinh khởi đều là tà niệm, không tưởng, không niệm, gọi là chánh niệm. Vì sao? Vì tất cả niệm đều từ nhân duyên hư vọng sinh khởi, cho nên chỗ nào có sinh ra niệm là tà niệm, nếu chỗ nào không sinh không diệt, gọi là chánh niệm. Không có chỗ nào để nghiệp của niệm phát sinh, nên gọi là an trụ trong niệm thanh tịnh, không chỗ sinh tà niệm. Người này thấy biết tất cả pháp đều là tà, ở trong chánh pháp này không có niệm nên nói an trụ trong chánh niệm.
Lại nữa, người chánh niệm là đối với pháp không phân biệt là chánh niệm hay là tà niệm. Người này thông đạt tất cả niệm đều là tướng vô niệm, thường hành sáu tâm xả nên nói là trụ nơi chánh niệm. Người này không còn tham ưa, cũng không phân biệt vô niệm ấy, vì các pháp bình đẳng. Người này thông đạt tất cả niệm, vì thấy biết như 

* Trang 687 *
device

thật nơi tất cả niệm, không lấy, không bỏ niệm hay phi niệm, nên nói an trụ trong chánh niệm. Đối tượng niệm của người này không phân biệt là bình đẳng hay không bình đẳng. Đối với niệm, phi niệm, không tùy thuộc, không duyên dựa. Do không duyên dựa nên biết tất cả niệm là phi niệm, tâm không còn ở trong niệm hay phi niệm. Người này an trụ nơi chánh niệm, không thể diễn nói, không thể chỉ bày, đoạn dứt tất cả ngôn ngữ, xa lìa tất cả ngôn ngữ, thấy biết như thật về tất cả ngôn ngữ, không còn phân biệt đây, kia nên gọi là an trụ nơi chánh niệm.
Này Bồ-tát Trì Thế! Thế nào là Đại Bồ-tát an trụ nơi chánh định?
Đại Bồ-tát quán tất cả định đều là tà định. Vì sao? Vì ở trong các pháp chấp thủ nơi tướng duyên định, chấp thủ nơi tướng biết định, chấp thủ nơi tướng Tam-muội hý luận về định thì đều gọi là tà. Tà tức là nghĩa tham chấp, định này không như vậy. Như đối tượng duyên chấp thủ nơi tướng hay không thủ nơi tướng cũng không cầu, không hý luận, không nhớ nghĩ, gọi đó là chánh định. Nếu không tham chấp, không phân biệt cái này, cái kia, chấm dứt sự ưa thích, tham vướng, không thọ vị định, phá trừ tướng chấp thủ nơi định, tâm không trụ nơi nào, đó gọi là chánh định.
Lại nữa, người chánh định là không nương tựa trong tất cả định, không hý luận. Thông đạt như thật về bản thể của pháp, biết rõ tướng định, tâm không tham chấp, muốn phá ý niệm chỗ này, chỗ kia. Lời nói như vậy cũng không phân biệt, dứt trừ tất cả phân biệt nên gọi là chánh định. Lại nữa, trong chánh định hoàn toàn không sinh tưởng tà chánh, phá bỏ tất cả tưởng, dứt tất cả tưởng, diệt tất cả tưởng, gọi là chánh định.
Chánh định không sinh tà, chánh, không phân biệt tà, chánh, gọi đó là chánh định. Vì sao? Vì Bồ-tát này thông đạt định phương tiện nên trụ trong chánh định ấy, không còn bị định hay tướng định trói buộc, vượt qua các tướng định nên gọi là chánh định. Gọi chánh định là đối với các pháp không còn hý luận, bình đẳng trong các pháp, dứt bặt hý luận, nghĩa là không còn gọi đây là chánh, đây là tà. Chánh định tức là nghĩa bình đẳng nơi các pháp. Chánh định thoát ra khỏi các thiền định thuộc tất cả pháp hữu vi trong ba cõi, có thể thấy biết như thật về sinh tử trong năm đường.

* Trang 688 *
device

Này Bồ-tát Trì Thế! Đó gọi là Đại Bồ-tát trụ ở trong chánh định, còn gọi là đắc chánh định phương tiện, gọi là biết rõ đạo, biết rõ về đạo phương tiện, nghĩa là thấy biết như thật, có thể đạt đến đạo Niết-bàn.
 
 Phẩm 9: THẾ GIAN, XUẤT THẾ GIAN

 
 Này Bồ-tát Trì Thế! Thế nào là Đại Bồ-tát biết rõ pháp thế gian, xuất thế gian? Thế nào là Bồ-tát được phương tiện của pháp thế gian, xuất thế gian?
Này Bồ-tát Trì Thế! Đại Bồ-tát chánh quán pháp thế gian, xuất thế gian. Những gì là pháp thế gian? Bồ-tát suy nghĩ: “Tất cả pháp tưởng nghĩ, phân biệt đều từ các nhân duyên điên đảo phát sinh, lệ thuộc duyên hư vọng, từ hai tướng ấy sinh khởi, hoàn toàn không có thật, cũng như cầu vồng nhiều màu, giống như vòng lửa dối gạt phàm phu với nghĩa hư hoại, tạm mượn thế gian nên gọi là thế gian. Các pháp thế gian đều chẳng phải thật có, từ các duyên hư vọng, không có tướng sinh khởi, không có tướng tạo tác. Chỉ vì ấm, giới, nhập, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nên nói là thế gian, vì danh sắc nên nói là thế gian. Tùy theo chỗ tham chấp của tâm phàm phu, lại tùy theo vô số tham chấp nơi tà kiến như nùi tơ rối không có đầu mối, như rễ loài cỏ tranh bò lan dưới mặt đất đan nhau chằng chịt, tương ưng theo điên đảo nên gọi là pháp thế gian.
Những gì là pháp xuất thế gian?
Pháp thế gian như vậy từ xưa đến nay tánh vốn xa lìa, như thật, nên gọi là xuất thế gian. Vì sao? Vì người trí tìm cầu pháp thế gian không thể được, tìm cầu pháp xuất thế gian không thể được, không có thế gian, không có xuất thế gian. Ở trong đó không phân biệt đây là thế gian, đây là xuất thế gian, chỉ vì thế gian nên nói xuất thế gian. Thật tướng của thế gian tức là xuất thế gian. Vì sao? Vì thế gian không thể có được tướng nhất định. Tướng thế gian từ xưa đến nay thường là không, vì pháp thế gian không nhất định, nên thế gian từ xưa đến nay 

* Trang 689 *
device

là tướng tịch tĩnh. Bồ-tát này quán thế gian, xuất thế gian như vậy, không chấp thủ thế gian, cũng không tham vướng xuất thế gian. Người này vì không niệm, không tham vướng thế gian, xuất thế gian nên không tranh luận với thế gian. Vì sao? Vì người trí thông đạt thế gian là tướng hư vọng, thấy thật tướng của thế gian nên không còn phân biệt đây là thế gian, đây là xuất thế gian. Vì sao? Này Trì Thế! Thế gian là nghĩa năm thọ ấm, tất cả pháp thế gian được thâu gồm vào trong đó. Người trí tìm ấm chẳng được ấm, chẳng được tánh ấm, chẳng được chỗ ấm đến, chẳng được chỗ ấm trụ, chẳng được chỗ ấm đi, chẳng có năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới, không phân biệt, không danh tự, không tánh, không tướng, không hành, thì gọi là xuất thế gian.
Này Bồ-tát Trì Thế! Khi Bồ-tát quán pháp thế gian, xuất thế gian, không thấy thế gian hợp cùng với xuất thế gian, không thấy xuất thế gian xa lìa thế gian. Người này không lìa thế gian thấy xuất thế gian, cũng không lìa xuất thế gian thấy thế gian. Người này không còn duyên vào hai hành thế gian và xuất thế gian. Vì sao? Này Trì Thế! Vì tướng như thật của thế gian tức là xuất thế gian, không tìm thấy tướng thế gian trong thế gian, không tìm thấy được pháp thế gian trong pháp thế gian, vì không thấy có. Người thông đạt pháp này tức là xuất thế gian.
Này Bồ-tát Trì Thế! Nếu thế gian cùng với xuất thế gian khác nhau, chư Phật sẽ không xuất hiện ở đời, chư Phật cũng sẽ không thuyết giảng tất cả thế gian là không thể thủ đắc, tất cả thế gian không sinh, thấy biết như thật về tất cả thế gian.
Này Bồ-tát Trì Thế! Nếu không đắc thế gian, không thủ thế gian tức là xuất thế gian, cho nên phải biết thấy biết như thật về thế gian, vì thông đạt thế gian không thể thủ đắc tức là nói về xuất thế gian, cho nên chư Phật xuất hiện nơi thế gian. Tất cả các pháp thế gian hay xuất thế gian, vì không phân biệt, không hai, vì chứng tri kiến như thật, nên nói pháp xuất thế gian ấy.
Này Bồ-tát Trì Thế! Pháp thế gian sâu xa như vậy, khó đạt được tận cùng, y vào pháp thế gian thì được pháp thế gian. Người hy vọng nơi pháp xuất thế gian thì đối với lời nói thế tục, sinh tướng biết rõ về Đệ nhất nghĩa. Người trụ nơi hai pháp không thể vào được trong pháp 

* Trang 690 *
device

như vậy. Vì sao? Vì người này không biết thế gian, không biết xuất thế gian, nên đều hành hai pháp ấy.
Này Bồ-tát Trì Thế! Người hành hai pháp không thể thông đạt thế gian, xuất thế gian.
Này Bồ-tát Trì Thế! Đại Bồ-tát biết rõ pháp thế gian, xuất thế gian như vậy nên đạt được phương tiện của pháp thế gian, xuất thế gian.

Phẩm 10: PHÁP HỮU VI, VÔ VI

 
Này Bồ-tát Trì Thế! Thế nào là Đại Bồ-tát biết rõ pháp hữu vi, vô vi và đắc phương tiện của pháp hữu vi, vô vi?
Này Bồ-tát Trì Thế! Đại Bồ-tát chánh quán pháp hữu vi, vô vi. Thế nào là chánh quán? Pháp hữu vi này không có người làm ra, không có người lãnh thọ. Pháp hữu vi này luôn luôn nằm trong sự tự sinh tự diệt nên gọi là pháp hữu vi. Pháp hữu vi này do các hành hòa hợp với nhân duyên hư vọng. Vì sao? Vì các hành luôn ở trong sự tự diệt. Do hai tướng duyên, biết nên gọi là pháp hữu vi sinh. Pháp này không có người tạo tác, không có người sai khiến, pháp này tự sinh, không ai có thể tạo ra nên gọi là pháp hữu vi. Các pháp hữu vi này không ở trong, ngoài, trung gian, không hợp, không tan. Từ gốc hư vọng phân biệt sinh khởi, do nhân duyên vô minh nên đều không thật có, chỉ do sức của các hành nên có tác dụng. Pháp này không có người tạo tác, không có người làm ra, nên gọi là hữu vi. Hữu vi là nghĩa ràng buộc, tùy theo chỗ tham chấp điên đảo của phàm phu mà nói ra. Người trí thông đạt không theo pháp hữu vi, không bị pháp hữu vi trói buộc. Người trí không theo chỗ tính đếm nên gọi là hữu vi. Vì sao? Vì người trí không phân biệt hữu vi, vì phàm phu thế tục nên tạm gọi, phân biệt là hữu vi. Hiền thánh không theo danh số của tất cả các pháp. Các Hiền thánh lìa danh số của các pháp nên gọi “Đắc vô vi”, nên gọi là Hiền thánh. Người trí thông đạt tất cả pháp hữu vi đều là vô vi nên không còn tạo ra các nghiệp. Người trí thấy rõ tất cả pháp hữu vi sinh khởi là do vọng 

* Trang 691 *
device

tưởng hư dối, nên không còn khởi tác hữu vi. Vì sao? Vì pháp hữu vi không có tánh nhất định. Tất cả pháp hữu vi đều không có tánh, không khởi tác. Vì sao? Này Bồ-tát Trì Thế! Không có trường hợp hành duyên hữu vi mà có thể thông đạt vô vi. Người thông đạt hoàn toàn không còn duyên nơi hữu vi. Thế nào là thông đạt? Người trí thấy tất cả pháp hữu vi đều hư vọng, không có nguồn gốc, không quyến thuộc, không ở trong số lượng. Khi quán như vậy không còn tham chấp duyên nơi hữu vi, cũng không chấp thủ pháp hữu vi. Vì sao? Này Bồ-tát Trì Thế! Không phải lìa hữu vi là được vô vi, không phải lìa vô vi là được hữu vi. Tướng như thật của hữu vi chính là vô vi. Vì sao? Vì không có hữu vi trong hữu vi, không có vô vi trong vô vi. Chỉ vì chúng sinh tương ưng với điên đảo, làm cho họ thấy biết về pháp hữu vi nên phân biệt nói pháp hữu vi, pháp vô vi, tướng hữu vi, tướng vô vi. Ở trong ấy những gì là tướng hữu vi? Nghĩa là sinh, trụ, dị, diệt.
Thế nào là tướng vô vi? Nghĩa là không sinh, không trụ, không dị, không diệt. Đó là nói tướng hữu vi và tướng vô vi chỉ vì hướng dẫn cho phàm phu.
Này Bồ-tát Trì Thế! Pháp hữu vi không có tướng sinh, tướng trụ, tướng dị, tướng diệt, nên nói tướng sinh, trụ, dị, diệt là không có sinh, không có tướng. Nếu pháp hữu vi này nhất định có ba tướng, Phật sẽ quyết định nói tướng như vậy là sinh, tướng như vậy là diệt, như vậy là trụ, dị.
Này Bồ-tát Trì Thế! Như Lai thuyết giảng tất cả pháp đều là vô tướng. Này Trì Thế! Vô sinh nếu có tướng, vô diệt nếu có tướng, vô trụ, dị nếu có tướng, chắc chắn Phật phải nói đó là tướng vô vi.
Này Bồ-tát Trì Thế! Nếu vô vi mà có tướng, có nói được thì chẳng phải là vô vi. Nói về tướng, chỉ vì phàm phu nên nói về số pháp, nói về ba tướng hữu vi là sinh, diệt, trụ, dị, nói ba tướng vô vi là vô sinh, vô diệt, vô trụ dị.
Này Bồ-tát Trì Thế! Nếu người thấy biết, thông đạt pháp hữu vi, vô vi, người ấy hoàn toàn không còn có sinh, diệt, trụ dị, nên gọi là người được vô vi.
Này Bồ-tát Trì Thế! Sinh diệt tức là thấy nghĩa của tập diệt. Nếu pháp không tập khởi thì không có diệt mất. Nếu không tập khởi thì 

* Trang 692 *
device

không có thoái thất, cũng không có trụ dị.
Này Bồ-tát Trì Thế! Đó gọi là thấy biết như thật về hữu vi. Nếu người thấy biết như thật về hữu vi thì không rơi trong pháp số là sinh, diệt, trụ, dị. Bồ-tát tư duy về pháp hữu vi, vô vi như vậy, không thấy pháp hữu vi hợp với pháp vô vi, cũng không thấy pháp vô vi hợp với pháp hữu vi. Chỉ nghĩ thế này: “Tướng như thật của pháp hữu vi tức là vô vi” thì hoàn toàn không còn phân biệt. Nếu không phân biệt pháp hữu vi, vô vi tức là pháp vô vi. Nếu phân biệt đây là hữu vi, đây là vô vi thì không thể thông đạt vô vi. Dứt trừ tất cả phân biệt, gọi là thông đạt vô vi. Thông đạt tánh duyên như thật, dứt các duyên, không ở pháp số, không ở phi pháp số.
Này Bồ-tát Trì Thế! Đó là Đại Bồ-tát biết rõ phương tiện về pháp hữu vi, vô vi, nghĩa là đối với các pháp không chỗ trụ, không bị trói buộc, cũng không tham thọ nhận pháp hữu vi hay vô vi.
 
 Phẩm 11: BẢN SỰ

 
 Này Bồ-tát Trì Thế! Nếu Đại Bồ-tát biết rõ như thật về năm ấm, mười tám giới, mười hai nhập, mười hai nhân duyên, bốn Niệm xứ, năm Căn, tám Thánh đạo, pháp thế gian, xuất thế gian, pháp hữu vi, vô vi, sẽ được biết rõ về thật tướng của các pháp, cũng khéo phân biệt văn từ, chương cú của tất cả pháp. Cũng được niệm lực, do niệm lực này chuyển thân thành tựu niệm bất đoạn, cho đến được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Này Bồ-tát Trì Thế! Nơi đời quá khứ vô lượng a-tăng-kỳ kiếp về trước, bấy giờ có Phật hiệu là Diêm-phù-đàn Kim Tu-di Sơn Vương gồm đủ mười tôn hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ , Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Này Bồ-tát Trì Thế! Phật Diêm-phù-đàn Kim Tu-di Sơn Vương này sống lâu năm kiếp, có vô lượng chúng Thanh văn. Quốc độ của Phật đó thanh tịnh, trang nghiêm, giàu có, an ổn, vui vẻ. Các chúng sinh ở quốc độ đó hoàn toàn sung 

* Trang 693 *
device

sướng, ít tham dục, sân giận, ngu si, dễ dạy, dễ độ, dễ làm cho thanh tịnh. Này Trì Thế! Phật Diêm-phù-đàn Kim Tu-di Sơn Vương này vì các Bồ-tát cũng thuyết giảng kinh Đoạn Trừ Nghi Hoặc Cho Chúng Sinh Thuộc Bồ-tát Tạng này.
Này Bồ-tát Trì Thế! Bấy giờ có Bồ-tát tên là Bảo Quang, nghe ấm, giới, nhập, duyên, bốn Niệm xứ, năm Căn, tám Thánh đạo, thế gian, xuất thế gian, pháp hữu vi, pháp vô vi, phương tiện thì liền phát khởi tinh tấn. Hai mươi ức năm hoàn toàn không sinh tâm ác, hoặc tham dục, sân giận, ngu si, hoặc lợi dưỡng về ẩm thực, y bát. Chỉ vì hội nhập nơi pháp môn phương tiện này nên thường siêng năng tinh tấn.
Này Bồ-tát Trì Thế! Bồ-tát Bảo Quang ấy ở chỗ Phật Diêm-phù-đàn Kim Tu-di Sơn Vương trọn đời luôn tu phạm hạnh. Sau khi mạng chung được sinh trở lại làm người ở trong quốc độ của Phật đó. Mạng chung lúc tuổi còn nhỏ, liền sinh trở lại quốc độ Phật đó và tu tập phạm hạnh, nơi mỗi một kiếp có năm trăm lần sinh tử. Lần sinh cuối cùng lúc Phật Diêm-phù-đàn Kim Tu-di Sơn Vương sắp nhập Niết-bàn thì ở kiếp thứ năm thành tựu pháp đa văn như vậy, cũng chứng đắc phương tiện thật tướng của các pháp như vậy. Theo Phật nghe các pháp thì đều có thể ghi nhớ, được niệm lực như vậy nên bạch Phật: “Cúi xin Đức Thế Tôn rộng thuyết giảng các pháp cho con. Ngay trong đời này độ thoát cho vô lượng, vô biên chúng sinh, khiến họ an trụ trong đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”
Phật Diêm-phù-đàn Kim Tu-di Sơn Vương này khi nhập Niết-bàn vì sự hộ trì pháp nên hộ niệm cho Bồ-tát Bảo Quang. Sau khi Phật diệt độ, chánh pháp trụ một kiếp, người này ở trong một kiếp ấy, nơi năm trăm đời thường sinh vào cõi nhân gian, xuất gia học đạo, cũng thường đối với thật tướng của các pháp được tăng trưởng tự tại, cũng tạo lợi ích cho vô lượng, vô biên chúng sinh.
Này Bồ-tát Trì Thế! Bồ-tát Bảo Quang ấy lần lượt được gặp vạn ức chư Phật như vậy, vào đời sau cùng, được Phật Vô Lượng Quang thọ ký, trải qua a-tăng-kỳ kiếp sẽ được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trong a-tăng-kỳ kiếp lại gặp trăm ngàn vạn ức na-do-tha chư Phật, sau cùng được quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thành Phật hiệu là Nhất Thiết Nghĩa Quyết Định Trang Nghiêm gồm 

* Trang 694 *
device

đủ mười tôn hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ , Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Có vô lượng, vô biên a-tăng-kỳ chúng Bồ-tát và vô lượng Thanh văn Tăng. Phật sống hai kiếp, quốc độ của Đức Phật ấy giàu có, an ổn, vui tươi, tất cả đều được trang nghiêm.
Này Bồ-tát Trì Thế! Cho nên Bồ-tát muốn được các pháp phương tiện như vậy thì ở trong bốn pháp phải siêng năng tinh tấn. Bốn pháp đó là:
1.Xuất gia.
2.Độc hành.
3.Trì giới thanh tịnh.
4.Trừ tâm biếng trễ.
Bồ-tát có bốn pháp ấy nên siêng cầu về đa văn, an trụ nơi nhẫn nhục sẽ mau được gặp ngay bốn pháp. Đó là:
1.Sinh trong cõi Diêm-phù-đề.
2.Được gặp Phật.
3.Tùy pháp hành.
4.Đoạn trừ mọi nghiệp chướng của tội lỗi.
Lại nữa, này Bồ-tát Trì Thế! Đại Bồ-tát ở trong pháp này phải siêng năng tinh tấn mới được sức của bố thí thanh tịnh, trì giới thanh tịnh, nhẫn nhục thanh tịnh, tinh tấn thanh tịnh, thiền định thanh tịnh, sức của trí tuệ thanh tịnh. Đại Bồ-tát trụ trong pháp này thì sẽ mau chóng được sức phương tiện như vậy.
Lại nữa, này Bồ-tát Trì Thế! Đại Bồ-tát tuy hành pháp Đầu-đà vi tế, cũng thường có tâm đại Bi đối với chúng sinh. Người ấy đi vào tâm đại Bi nên ở trong pháp phương tiện này rất siêng năng tinh tấn.
Này Bồ-tát Trì Thế! Lại có Đại Bồ-tát muốn chứng đắc pháp như vậy phải siêng năng tinh tấn đi vào các môn Đà-la-ni. Vì sao nhập nơi môn Đà-la-ni cần phải siêng năng tinh tấn? Nghĩa là quán sát rõ vô lượng duyên của tất cả các pháp, cũng quán vô lượng phương tiện của tất cả pháp, cũng quán vô lượng phương tiện sinh khởi. Khi quán như vậy, dùng môn Tam-muội phương tiện khéo vào vô lượng duyên của các pháp môn, cũng vào vô lượng phương tiện, vào sự sinh khởi vô lượng duyên phương tiện, ở trong pháp này nhờ đạt được diệu lực nên 

* Trang 695 *
device

biết rõ thật tướng của các pháp, cũng phân biệt rõ văn từ, chương cú, cũng được niệm lực, cũng được chuyển thân thành tựu niệm bất đoạn, pháp bất thoái, cho đến được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Lại nữa, này Bồ-tát Trì Thế! Đại Bồ-tát đi vào các môn Đà-la-ni nên thông đạt nhân duyên tùy thuận nơi tất cả các pháp. Dùng một nhân duyên có thể đi vào ngàn loại nhân duyên, tùy sức của trí tuệ mà được phương tiện các pháp.
Lại nữa, này Bồ-tát Trì Thế! Đại Bồ-tát ở trong pháp như vậy nhờ siêng năng tinh tấn nên đi vào môn nhất tướng Tam-muội, được môn nhất tướng Tam-muội thì đi vào môn vô lượng tướng Tam-muội. Đi vào như vậy rồi thì dùng vô số phương tiện nhân duyên đi vào các pháp môn ấy. Các Bồ-tát đi vào tất cả các pháp môn như vậy rồi thì sẽ được tất cả phương tiện của các pháp.
Lại nữa, này Bồ-tát Trì Thế! Đại Bồ-tát phần nhiều hành trí tuệ nên biết rõ tướng các thiền định, cũng biết rõ Tam-muội vô duyên. Nhờ sức của Tam-muội phương tiện này nên biết rõ vô lượng duyên, phát sinh vô lượng thiền định. Bồ-tát trụ trong địa ấy tức đạt được tất cả thật tướng của các pháp phương tiện.
Lại nữa, này Bồ-tát Trì Thế! Đại Bồ-tát thường quán sát các duyên phương tiện của thế gian, thường quán sát duyên phương tiện của pháp hữu vi, thường quán sát các duyên phương tiện của thế đế, cũng thường siêng năng phá trừ duyên phương tiện của tất cả pháp, cũng không tham chấp một nơi nào. Bồ-tát tu tập pháp như vậy thì mau chóng được phương tiện thật tướng của các pháp.
Lại nữa, này Bồ-tát Trì Thế! Đại Bồ-tát siêng năng tinh tấn, phát khởi sức phương tiện mà cũng thường quán thật tướng của các pháp, không nương tựa vào cái vui ở đời, cũng không thực hành xen tạp pháp của thế gian. Người thành tựu pháp như vậy thì sẽ mau chóng chứng đắc thật tướng của các pháp, cũng phân biệt rõ về văn từ, chương cú của tất cả pháp, cũng được niệm lực, cũng được chuyển thân thành tựu niệm bất đoạn, cho đến được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Này Bồ-tát Trì Thế! Cho nên Đại Bồ-tát muốn được vượt qua bờ 

* Trang 696 *
device

kia của các pháp thì ngay nơi pháp này phải y như lời dạy mà tu hành. Này Trì Thế! Các ông nên siêng năng tinh tấn đối với pháp này, không bao lâu các ông sẽ được trí tuệ vô ngại nơi pháp ấy.
Này Bồ-tát Trì Thế! Nơi đời quá khứ vô lượng, vô biên bất khả tư nghì a-tăng-kỳ kiếp về trước, bấy giờ có Phật hiệu là Vô Lượng Quang Đức Cao Vương gồm đủ mười tôn hiệu Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ , Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Phật Vô Lượng Quang Đức Cao Vương này sống lâu một kiếp, quốc độ của Đức Phật ấy dùng màn lưới bằng bảy báu che phủ ở trên, dùng tất cả các cây Đa-la bằng bảy báu để trang nghiêm cho thế giới đó. Các cây Đa-la này cũng dùng màn lưới bằng bảy báu bao phủ ở trên. Bên mỗi gốc cây có trải tòa Sư tử. Các cây Đa-la đều sinh ra thiên y, các tòa đều dùng lưu ly báu, vàng Diêm-phù-đàn, xích trân châu làm thành. Bốn bên các cây Đa-la đều có cây hương, cây hoa trang nghiêm chung quanh. Nơi mỗi gốc cây đều có hồ, nước tám công đức tràn đầy trong đó. Các ao đó đều dùng pha lê, xa cừ, xích trân châu làm thành. Trên mặt nước trong các ao đều có các loại hoa sen xanh, đỏ, trắng, hồng bao phủ, dùng toàn bảy báu làm lan can bao quanh các ao.
Này Bồ-tát Trì Thế! Quốc độ của Phật ấy dùng toàn các thứ báu như vậy để trang nghiêm thế giới. Lại có cây báu bốn bên như cây Ba-lợi-da Đa-la, Ca-câu-tỳ Đa-la ở cõi trời Đao-lợi. Ngàn vạn ức số cây báu như vậy bao bọc chung quanh thế giới. Các cây báu này sáng chói, che khuất tất cả ánh sáng của mặt trời mặt trăng, khiến chúng không còn hiện được.
Này Bồ-tát Trì Thế! Các cây Đa-la và lưới báu tự nhiên phát ra vô số mùi thơm, tiếng hay như âm thanh ca ngâm của kỹ nữ cõi trời. Quốc độ của Phật đó thường phát ra những âm thanh vi diệu như vậy. Quốc độ ấy không có ba đường ác, cũng không có tên gọi ba đường ác.
Này Bồ-tát Trì Thế! Phật Vô Lượng Quang Đức Cao Vương này vì các chúng sinh nên thuyết giảng nhiều pháp như vậy. Đó là Bát-nhã Ba-la-mật và kinh thuộc Bồ-tát tạng: Đoạn Nhất Thiết Chúng Sinh Nghi, Hỷ Nhất Thiết Chúng Sinh Tâm.
Này Bồ-tát Trì Thế! Khi Phật Vô Lượng Quang Đức Cao Vương 

* Trang 697 *
device

thuyết pháp, trong một ngày có vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sinh phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Người đã phát tâm đều được đầy đủ pháp trợ Bồ-đề. Này Trì Thế! Phật Vô Lượng Quang Đức Cao Vương này dùng nhân duyên ấy để giáo hóa vô lượng, vô biên chúng sinh thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trong quốc độ của Đức Phật đó có vô số Đại Bồ-t át.
Này Bồ-tát Trì Thế! Sau khi Đức Phật đó diệt độ, chánh pháp trụ nửa kiếp. Phật Vô Lượng Quang Đức Cao Vương này sau khi diệt độ, lúc chánh pháp sắp diệt thì ở phương dưới, cách mười thế giới Phật, có Bồ-tát tên là Vô Lượng Ý, mạng chung rồi thì thọ sinh trở lại, mới mười sáu tuổi xuất gia học đạo, ngay khi chánh pháp của Phật Vô Lượng Quang Đức Cao Vương sắp diệt, nghe giảng nói kinh Phương Tiện Ấm Giới Nhập này của Đại Bồ-tát, Bồ-tát Vô Lượng Ý nghe xong liền phát khởi đại tinh tấn, ngay nơi pháp ấy đạt đến tận cùng, thành tựu sức phương tiện sâu xa. Bồ-tát ấy nhờ nhân duyên của căn lành này, nên sau khi mạng chung được gặp hai mươi ức Phật, đều được thành tựu pháp như vậy, thường biết túc mạng, đồng chân xuất gia tu hành phạm hạnh, thường được niệm lực, đời đời không lìa pháp ấy, đời đời thành tựu niệm không gián đoạn, sau cùng đắc thành đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hiệu là Phật Vô Lượng Quang Trang Nghiêm Vương.
Này Bồ-tát Trì Thế! Cho nên Đại Bồ-tát nếu muốn mau chóng đạt được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nếu muốn mau chóng được đầy đủ tất cả trí tuệ, sau khi ta diệt độ năm trăm năm trong đời ác trược, phải siêng năng hộ trì, phát đại thệ nguyện, nên sinh tâm mong muốn, rất tinh tấn, hoàn toàn không buông lung, ở đời sau phải luôn hộ trì những kinh điển như vậy.
Bấy giờ, các Bồ-tát Bạt-đà-bà-la, Già-la-ha-đạt-đa… là bậc Thượng thủ, từ tòa ngồi đứng dậy, hướng về phía Phật, chắp tay thưa: –Kính bạch Thế Tôn! Chúng con trong năm trăm năm sau, sau khi Phật diệt độ, lúc chánh pháp sắp diệt, chúng con sẽ giữ gìn những kinh như vậy, sẽ siêng năng tinh tấn đọc tụng, lãnh thọ, cũng sẽ giảng dạy rộng rãi cho những người khác.
Lại có ngần ấy ngàn số Bồ-tát từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay 

* Trang 698 *
device

hướng về Phật chiêm ngưỡng tôn nhan Phật và phát nguyện:
–Kính bạch Thế Tôn! Trong năm trăm năm nơi đời sau, chúng con phát thệ nguyện: Ở nơi trụ xứ của chư Phật thâm diệu không cấu nhiễm như vậy, nghe các công đức thiện có thể sinh của Bồ-tát, được đầy đủ pháp trợ Bồ-đề cho các Bồ-tát, chúng con sẽ cùng nhau hộ trì người nghe pháp này, sẽ làm cho tâm người đó luôn thanh tịnh, vui vẻ và chuyên tâm dốc cầu, thọ trì, đọc tụng.
Bấy giờ, Phật liền mỉm cười. Ngay khi ấy, tam thiên đại thiên thế giới có vô lượng ánh sáng chiếu khắp, tam thiên đại thiên thế giới chấn động đủ sáu cách. Lúc này, Tôn giả A-nan liền rời tòa ngồi đứng dậy, bày áo vai phải, gối phải quỳ sát đất, chắp tay bạch Phật:
–Kính bạch Thế Tôn! Vì sao hôm nay Đức Thế Tôn mỉm cười và đại địa chấn động?
Phật bảo Tôn giả A-nan:
–Ông có thấy các Bồ-tát này phát đại thệ nguyện là ở đời sau sẽ hộ trì các pháp thâm diệu không cấu nhiễm như vậy không? Này A-nan! Các Bồ-tát này không phải chỉ đời này mới phát thệ nguyện như vậy. Này A-nan! Ta nhớ các Bồ-tát này ở chỗ vô lượng, vô biên chư Phật đã từng phát thệ nguyện như vậy. Ba đời hộ trì pháp của chư Phật, cũng thường làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh. Ngày nay trong ba thời cũng hộ trì pháp của ta. Ngay hiện tại và sau khi ta nhập Niết-bàn, khi pháp sắp diệt cũng sẽ làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh.
Này A-nan! Như Bồ-tát Bạt-đà-bà-la… ba thời hộ trì pháp của ta, cũng lại ngay trong Hiền kiếp này, ba thời hộ trì pháp của chư Phật. Đối với chư Phật đời vị lai cũng ba thời hộ trì pháp như vậy. Này A-nan! Ta nay khen ngợi người này thành tựu công đức vô lượng như vậy nói không thể hết luôn thương xót tạo lợi ích, an ổn cho chúng sinh.
Này A-nan! Nếu ta nói hết công đức của người ấy, người đời không thể tin. Nếu người không tin lời Phật, người đó mãi mãi mất mọi sự lợi ích, đọa nơi đường ác, chịu các khổ não.
Này A-nan! Ta nay nói sơ lược về các Bồ-tát này đã làm lợi ích cho chúng sinh. Giả sử tam thiên đại thiên thế giới, ở đó đầy cả chúng sinh đều bị đọa nơi đại địa ngục, trong đó có một người nói với các chúng sinh kia: “Các ngươi chớ có sợ hãi, nay ta sẽ thay thế cho tất cả

* Trang 699 *
device

các ngươi chịu khổ trong cõi này.” Người này lập tức đưa chúng sinh ra khỏi địa ngục và đều vì mỗi một chúng sinh mà chịu khổ nơi địa ngục trải qua ngàn vạn năm.
Này A-nan! Ý ông nghĩ thế nào? Có phải người này làm lợi ích lớn, tạo an lạc lớn không?
Tôn giả A-nan thưa:
–Kính bạch Thế Tôn! Người này đã làm lợi ích lớn, tạo an lạc lớn cho chúng sinh.
–Này A-nan! Người này đưa chúng sinh ra khỏi địa ngục xong, hiện bày uy lực làm cho tất cả đều thành tựu sự an vui bậc nhất ở thế gian. Này A-nan! Có phải người này là người có công ơn ban vui cho chúng sinh không?
Tôn giả A-nan thưa:
–Kính bạch Thế Tôn! Người này đã tạo lợi ích cho chúng sinh, không có thể dùng lời nói diễn đạt được.
–Này A-nan! Nay ta nói thật cho ông rõ: Bồ-tát Bạt-đà-bà-la, Già-la-ha-đạt-đa… đã tạo lợi ích cho chúng sinh và nay cũng tạo lợi ích cho chúng sinh, việc làm lợi ích an vui của hai người này, toán số, thí dụ cũng không thể so sánh. Vì sao? Này A-nan! Vì sự ưa thích của người ấy hoàn toàn trái với pháp hữu vi, không phải vì sự nhàm chán, không phải vì lìa dục, không phải vì trí tuệ, không phải vì quả vị Sa-môn, không phải vì Niết-bàn. Này A-nan! Các Bồ-tát này làm lợi ích cho tất cả chúng sinh bằng cách ban vui vô thượng. Tất cả những người trí vì ưa cầu Phật đạo, đều làm Phật sự, người chưa đi vào chánh vị thì Bồ-tát này cũng làm cho họ được quả vị Thanh văn, Bích-chi-phật. Các Bồ-tát đem pháp Phật giáo hóa, chỉ dạy khiến họ được lợi ích an vui.
Này A-nan! Các Bồ-tát này thường chỉ dạy, tạo lợi ích an vui cho các chúng Bồ-tát, vì không diệt mất giống Phật, vì giữ gìn hạt giống Nhất thiết trí nên trụ ở thế gian.
Này A-nan! Những vị ấy nơi quá khứ trong vô lượng trăm ngàn vạn ức na-do-tha kiếp, khi hành đạo Bồ-tát đều khiến cho giống Phật không bị đoạn mất. Ở vô lượng trăm ngàn vạn na-do-tha kiếp đời vị lai cũng khiến cho hạt giống Phật không bị đoạn mất. Vì sao? Này A-nan! Vì các Bồ-tát ấy khi hành đạo Bồ-tát đã làm cho vô lượng chư Phật an 

* Trang 700 *
device

trụ nơi Phật đạo. Các Bồ-tát này đời đời hộ trì, giáo hóa, thành tựu trăm ngàn vạn ức chư Phật, khiến thành tựu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Từ đấy trở về sau cũng lại giáo hóa vô số trăm ngàn vạn ức chúng sinh, làm cho trụ trong Phật đạo. Nhờ sức giáo hóa này nên được đầy đủ pháp Phật, cũng đều sẽ được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Này A-nan! Cho nên các Bồ-tát như Bạt-đà-bà-la… này vì ban sự an lạc của giác ngộ, sự an lạc của Nhất thiết trí tuệ cho chúng sinh, nên luôn siêng năng tinh tấn.  Này A-nan! Nếu có người hỏi: “Các Bồ-tát nào là cha mẹ, là người cứu hộ, là nhà cửa, là chỗ nương tựa, là hòn đảo… cho chúng sinh?” Các Bồ-tát sẽ nói đó là năm trăm Bồ-tát như các Bồ-tát Bạt-đà-bà-la, Già-la-ha-đạt-đa…
Này A-nan! Người nào thành thật hỏi: “Người nào là các vị Bồ-tát ấy?”, thì phải nói đó chính là năm trăm vị Bồ-tát như Bạt-đà-bà-la, Già-la-ha-đạt-đa…. Các vị thiện nam ấy vì không để đoạn mất giống Phật, không đoạn mất tất cả giống trí tuệ nên trụ ở thế gian. Các thiện nam này cũng ở năm trăm năm cuối nơi đời sau, dùng sức của phương tiện ấy giáo hóa, dùng nhân duyên tạo an lạc làm cho chúng sinh không rơi vào ba đường ác, cũng làm cho vô lượng trăm ngàn chúng sinh trụ nơi thừa Bồ-tát.
Này A-nan! Vô số ngàn Đức Phật nói về những công đức của những thiện nam này cũng không thể hết được. Vì sao? Vì các thiện nam ấy đã thành tựu công đức bất khả tư nghì như vậy.
Này A-nan! Những pháp tạng mà ta giảng dạy trong vô lượng trăm ngàn vạn ức a-tăng-kỳ kiếp, các thiện nam ấy đều thọ trì hoàn mãn.
Này A-nan! Ta nay đem pháp bảo đã tu tập trong vô lượng ức kiếp này phó chúc cho các vị ấy. Các thiện nam ấy luôn được chư Phật hiện ở trong vô lượng a-tăng-kỳ quốc độ hộ niệm.
Này A-nan! Các thiện nam này được tất cả hàng trời, người ở thế gian lễ bái, cúng dường.
Này A-nan! Những vị này thường được ngàn Đức Phật trong mười phương khi giảng thuyết pháp luôn khen ngợi.

* Trang 701 *
device

Này A-nan! Ta đã ấn chứng vì nhằm đoạn nghi ngờ cho tất cả chúng sinh. Người nào ở nơi đời sau cùng, thọ trì, đọc tụng, thông suốt về kinh này và giảng rộng cho người khác thì nên biết, thiện nam, thiện nữ ấy gần với Nhất thiết chủng trí. Người nào ở vào đời sau cuối, được nghe kinh thâm diệu như vậy mà tin hiểu và phát thệ nguyện thì Ta đều thọ ký cho họ được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nếu năm trăm năm cuối nơi đời sau sinh tâm tin hiểu, siêng năng tinh tấn hộ trì kinh này thì nay thiện nam, thiện nữ ấy được ta đem pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác phó chúc cho họ. Nếu hàng Thanh văn tin thọ pháp sâu xa này, không có tâm trái ngược, ta cũng thọ ký cho họ đời sau sẽ được gặp pháp hội của Đức Phật Di-lặc. Người nào cầu Phật đạo nghe pháp này mà thọ trì, tin hiểu thì người ấy sẽ được Đức Phật Di-lặc thọ ký, nhờ bản nguyện nên được xuất gia học đạo.
Tôn giả A-nan nên biết! Những thiện nam, thiện nữ ấy, nơi đời sau lúc năm trăm năm cuối, đối với pháp này mà siêng năng tinh tấn hành trì thì nên biết, người ấy căn lành rất mạnh mẽ.

Phẩm 12: CHÚC LỤY

 
Bấy giờ, Đại Bồ-tát Trì Thế bạch Phật:
–Kính bạch Thế Tôn! Cúi xin Đức Thế Tôn vì sự lợi ích cho các Đại Bồ-tát mà hộ niệm kinh này. Các Đại Bồ-tát ở đời sau được nghe pháp này thì tâm liền thanh tịnh, an vui, cũng vì muốn đạt được đầy đủ pháp như vậy nên siêng năng tinh tấn.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn vì hộ niệm kinh này, liền dùng thần lực làm cho hương thơm lan khắp tam thiên đại thiên thế giới, từ xưa chưa từng có. Tất cả chúng sinh đều hướng đến nhau bằng tâm Từ.
Phật hộ niệm xong, bảo Bồ-tát Trì Thế:
–Này Bồ-tát Trì Thế! Ta nay hộ niệm kinh Pháp Ấn Phẩm này để đoạn trừ tất cả nghi ngờ. Này Bồ-tát Trì Thế! Người nào thọ trì đọc tụng kinh này không lâu sẽ được tất cả trí tuệ, chỉ trừ bản 

* Trang 702 *
device

nguyện. Ta nay cũng thọ ký cho người ấy mau chóng đạt được đầy đủ tất cả trí tuệ.
Này Bồ-tát Trì Thế! Đại Bồ-tát thọ trì đọc tụng kinh Pháp Ấn Phẩm này mà tư duy, vì người khác giảng nói thì người ấy không lâu sẽ mau chóng đạt được phương tiện của năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới, mười hai nhân duyên, bốn Niệm xứ, năm Căn, tám Thánh đạo, pháp thế gian, xuất thế gian, pháp phương tiện hữu vi, vô vi, cũng mau chóng chứng đắc thật tướng của các pháp, cũng mau chóng đạt được sự phân biệt về chương cú nơi tất cả các pháp, cũng mau chóng chứng đắc niệm lực, cũng mau chóng đạt được chuyển thân, thành tựu niệm bất đoạn, cho đến được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Này Bồ-tát Trì Thế! Kinh này vào đời sau có thể vì chúng sinh làm nhân duyên phước đức, làm ánh sáng của đại pháp, làm ánh sáng của đại trí tuệ, cũng giúp cho các Bồ-tát đạt đầy đủ pháp trợ đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Này Bồ-tát Trì Thế! Các Bồ-tát nào ở đời sau cùng được gặp kinh này và kinh sâu xa khác thuộc tạng Bồ-tát, tương ưng với các Ba-la-mật, thì người ấy không bị việc ma che lấp, không bị nghiệp chướng não hại.
Này Bồ-tát Trì Thế! Nếu người ấy chưa được pháp Nhẫn vô sinh thì ta sẽ thọ ký cho người đó nơi Đức Phật thứ hai, thứ ba trong đời vị lai sẽ được pháp Nhẫn vô sinh. Khi đã được pháp Nhẫn vô sinh rồi, đối với tất cả pháp mau chóng đạt được sức tự tại, mau chóng được quốc độ thanh tịnh của Phật, mau được vô lượng chúng Thanh văn, mau được vô lượng chúng Bồ-tát.
Này Bồ-tát Trì Thế! Ta nay thuyết giảng pháp ấn này vì đoạn trừ tất cả nghi ngờ cho đời sau. Này Trì Thế! Đại Bồ-tát thấy bốn việc lợi ích nên nơi đời sau cùng hộ trì những kinh này và phát thệ nguyện. Những gì là bốn nguyện? Các Bồ-tát nghĩ thế này:
1.Ta sẽ mau được vô lượng, vô biên công đức, cũng làm cho chúng sinh phát khởi căn lành lớn.
2.Cũng hộ trì chánh pháp cho chư Phật.
3.Cũng làm người giữ gìn tạng pháp cho chư Phật.

* Trang 703 *
device

4.Cũng gặp và khen ngợi vô lượng chư Phật.
Này Bồ-tát Trì Thế! Đại Bồ-tát lại thấy bốn việc lợi ích nơi đời sau cùng hộ trì kinh này và phát thệ nguyện. Những gì là bốn nguyện? Các Bồ-tát nghĩ như vầy:
1.Chúng ta nơi đời xấu ác, sợ hãi sau cùng vì sự hộ trì chánh pháp mà hành đại tinh tấn.
2.Nơi đời xấu ác, sau khi chánh pháp bị suy diệt, dốc giữ gìn tạng pháp, làm việc khó làm này.
3.Nơi đời xấu ác, sau khi pháp đạo loạn, chúng ta dốc bảo vệ chánh pháp nên tâm không loạn.
4.Bấy giờ sẽ được đầy đủ nhẫn nhục, dùng pháp không sân giận để giữ gìn chánh pháp.
Này Bồ-tát Trì Thế! Đại Bồ-tát thấy bốn việc lợi ích ấy nên nơi đời xấu ác sau cùng, hộ trì những kinh sâu xa như vậy và phát thệ nguyện như vậy. Bấy giờ năm trăm Bồ-tát như Bồ-tát Bạt-đà-bà-la, Già-la-ha-đạt-đa… và các Bồ-tát khác, được nghe kinh Pháp Ấn Phẩm này, liền ở trước Đức Phật chắp tay phát nguyện: “Nơi đời xấu ác sau này xin dốc sức hộ trì pháp sâu xa ấy.”
Phật đưa tay phải xoa đầu tất cả và dạy:
–Này các thiện nam! Ta nơi vô lượng a-tăng-kỳ kiếp tích tập pháp bảo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Tạng pháp bảo lớn thật khó tích tập, chịu vô lượng, vô biên các ưu bi khổ não, cũng xả bỏ vô lượng, vô biên sự hoan hỷ, an lạc. Nay ta đem phó chúc cho các ông, nơi đời sau cùng sẽ ở trong vô lượng kiếp kiến tập pháp tạng này và mở bày chỉ dạy cho tất cả mọi người, rộng vì bốn chúng phân biệt ban bố môn chánh pháp ấy, khiến không bị đoạn mất. Các ông phải đốt lên ngọn đuốc đại pháp.
Các thiện nam! Ngày nay Như Lai mong muốn: Phật tử các ông hãy trụ chỗ Phật trụ. Ta ở nơi vô lượng trăm ngàn vạn ức a-tăng-kỳ kiếp kết tập Tạng pháp bảo này, vì các hàng trời, người rộng giảng dạy cùng khắp.
Ngay lúc ấy, các Bồ-tát Bạt-đà-bà-la, Già-la-ha-đạt-đa… liền đảnh lễ nơi chân Phật và thưa:
–Kính bạch Thế Tôn! Chúng con nương theo năng lực, cũng

* Trang 704 *
device

nương nhờ oai thần của Phật nên ở đời sau sẽ ban bố rộng khắp Tạng pháp bảo này.
Khi Phật thuyết giảng kinh Pháp Ấn Phẩm này, có vô lượng, vô biên a-tăng-kỳ các Bồ-tát Nhất sinh bổ xứ thành tựu căn lành, cùng có vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sinh phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đều được thọ ký thành tựu đạo quả Bồ-đề vô thượng.
Phật thuyết giảng kinh này xong, Bồ-tát Trì Thế, Bồ-tát Bạt-đà-bà-la, Bồ-tát Già-la-ha-đạt-đa… và các Bồ-tát khác cùng bốn chúng, tất cả chúng Trời, Người, A-tu-la… nghe Phật giảng thuyết đều rất hoan hỷ.

* Trang 705 *
device

* Trang 706 *
device

Đại Tập 56 - Bộ Kinh Tập III - Số 468->489