LOGO VNBET
LUẬN A TỲ ĐÀM CAM LỘ VỊ

QUYỂN HẠ
 
Phẩm 11: TRÍ
 
Mười trí là Pháp trí, trí vị tri (loại trí), đẳng trí, trí tri tha nhân tâm (Trí tha tâm), khổ trí, tập trí, tận trí, đạo trí, diệt trí, và trí vô sinh.
Thế nào là pháp trí? Là trí vô lậu trong các hành khổ thuộc cõi Dục. Trí vô lậu trong các hành tập thuộc cõi Dục. Trí vô lậu trong các hành tận thuộc cõi Dục. Vì các hành đạo dứt trừ phiền não thuộc cõi Dục, trí vô lậu trong đạo và trí vô lậu trong địa pháp trí, đó gọi là pháp trí.
Thế nào là trí vị tri? Là trí vô lậu trong các hành khổ thuộc cõi Sắc, Vô Sắc. Trí vô lậu trong các hành tập thuộc cõi Sắc, Vô Sắc, vì các hành đạo dứt trừ phiền não thuộc cõi Sắc, Vô Sắc, trí vô lậu trong đạo và trí vị tri, trí vô lậu trong địa trí vị tri, đó gọi là trí vị tri.
Thế nào là đẳng trí? Tất cả trí tuệ hữu lậu hoặc là thiện, bất thiện, vô ký, đó là đẳng trí.
Thế nào là trí tri tha nhân tâm? Do sức tư duy trong thiền mà biết được pháp tâm, tâm sở của người khác ở cõi Dục, Đó là trí tri tha nhân tâm.
Thế nào là khổ trí? Là trí quán vô lậu về vô thường, khổ, không, phi ngã (vô ngã) trong năm thọ ấm, đó là khổ trí.
Thế nào là tập trí? Là trí quán vô lậu về tập nhân hữu duyên của năm thọ ấm. Đấy là tập trí.
Thế nào là tận trí? Là trí quán vô lậu về tận, chỉ, diệu, xuất, đó là tận trí.
Thế nào là đạo trí? Là trí quán vô lậu về tám trực đạo (bát chánh đạo) nên trụ xuất, đó gọi là Đạo trí.
Thế nào là diệt trí? Là kiến khổ, đoạn tập, chứng diệt, tư duy đạo, là trí quán vô lậu trong bốn pháp, đó gọi là Diệt trí.
Thế nào trí vô sinh? Ta đã thấy khổ, không còn thấy khổ nữa,

* Trang 628 *
device

ta đã đoạn, không còn đoạn tập nữa. Ta đã tác chứng, không còn tác chứng nữa. Ta đã tư duy đạo, không còn tư duy đạo nữa, là trí quán vô lậu trong bốn pháp. Đây gọi là trí vô sinh, là mười sáu hành của hai trí trong mười trí.
Pháp trí, trí vị tri là mười sáu hành của đẳng trí trong pháp Noãn, Đảnh, Nhẫn, bốn hành của đẳng trí trong pháp bậc nhất thế gian. Ngoài ra, không có hành nào khác. Bốn hành của trí tha tâm vô lậu, như đạo trí. trí tri tha tâm hữu lậu là không hành.
Khổ trí có bốn hành, tập trí có bốn hành, tận trí có bốn hành, đạo trí có bốn hành, diệt trí, trí vô sinh, mỗi trí này đều có mười bốn hành, trừ hành không, vô ngã.
Thiền vị đáo và thiền địa trung gian có chín trí, trừ trí tri tha tâm.
Mười trí trong bốn thiền khác, định Vô Sắc có tám trí, trừ pháp trí và trí tri tha tâm. Tâm vô lậu bậc nhất thành tựu một đẳng trí. Tâm vô lậu thứ hai thành tựu ba trí là đẳng trí, pháp trí và khổ trí. Tâm vô lậu thứ ba vượt qua, tâm vô lậu thứ tư thành tựu bốn trí: Đẳng trí, pháp trí, khổ trí và trí vị tri. Tâm vô lậu thứ năm vượt qua, tâm vô lậu thứ sáu thành tựu năm trí: Đẳng trí, pháp trí, khổ trí, trí vị tri và tập trí. Tâm vô lậu thứ bảy vượt qua. Tâm vô lậu thứ tám cũng vượt qua. Tâm vô lậu thứ chín thành tựu sáu trí: Đẳng trí, pháp trí, khổ trí, trí vị tri, tập trí và tận trí. Tâm vô lậu thứ mười, thứ mười một vượt qua. Tâm vô lậu thứ mười hai thành tựu bảy trí: Đẳng trí, pháp trí, khổ trí, trí vị tri, tập trí, tận trí và đạo trí. Nếu trí đã lìa dục, từng biết được tâm người khác, sẽ có hai thứ tu trí là đắc tu và hành tu, trước chưa được công đức, đến nay mới được, đó là đắc tu. Trước đây đã được công đức, hiện nhập ở trước, đó là hành tu. Tu hiện ở trước trong đạo kiến đế, sự tu đó tức tu ở vị lai.
Như vậy tu các nhẫn hiện ở trước, cũng là tu ở mai sau. Trí khổ vị, tập vị tri, trí tập vị tri, là tu đẳng trí trong ba trí vị tri. Hoặc tu sáu trí, hoặc tu bảy trí trong đạo trí vị tri. Nếu chưa lìa dục tu sáu trí, đã lìa dục tu bảy trí, thì trí tri tha tâm vượt qua quả Tu-đà-hoàn. Tu bảy trí trong mười bảy tâm, trừ diệt trí, trí vô sinh và trí tri tha tâm, là tín giải thoát lúc được căn cơ nhạy bén trong mười bảy tâm. Tu sáu trí trong hai đạo: vô ngại và giải thoát, trừ trí tha tâm, đẳng trí, diệt trí và trí vô sinh được quả A-na-hàm. Tu tám trí trong đạo giải thoát, trừ diệt trí, trí vô sinh.
Như vậy, lúc bảy địa lìa dục, tu tám trí trong đạo giải thoát, trừ diệt trí, trí vô sinh, đó là tu bảy trí trong các đạo vô ngại, trừ trí tri tha tâm, diệt trí và trí vô sinh.
Lúc hữu tưởng Vô tưởng lìa dục, tu bảy trí trong tám đạo giải

* Trang 629 *
device

thoát, trừ đẳng trí, diệt trí, và trí vô sinh. Tu sáu trí trong chín đạo vô ngại, trừ đẳng trí, tri trí tha tâm, diệt trí và trí vô sinh. Tu các căn thiện hữu lậu, vô lậu trong tâm vô học ban đầu. Tâm vô học đầu tiên này tương ưng với trí khổ vị tri. Có người nói là tương ưng với trí tập vị tri. Vì sao? Vì xứ hữu tưởng, Vô tưởng tương ưng với sinh duyên, tâm vô học ban đầu kiến đế. Vì tám nhẫn tìm kiếm, nên gọi là kiến, không phải trí. Diệt trí, trí vô sinh là trí không phải kiến. Ngoài ra, tuệ vô lậu vừa là tuệ, vừa là kiến, vừa là trí, trừ tuệ hữu lậu thiện tương ưng với ý thức và năm tà kiến. Tuệ hữu lậu còn lại vừa là trí, vừa là tuệ, không phải kiến. Pháp trí duyên theo chín trí, trừ trí vị tri. Trí vị tri duyên theo chín trí, trừ pháp trí. Đạo trí duyên theo chín trí, trừ đẳng trí. Khổ trí, tập trí duyên nơi tất cả pháp hữu lậu. Trí còn lại duyên mười trí và đẳng trí, trí tha tâm, diệt trí, và trí vô sinh.
Hai trí: Trí tận pháp và Trí đạo pháp có thể làm dứt trừ kiết của ba cõi, sáu thông, bốn thông, đẳng trí, thân thông, nhĩ thông, nhãn thông, túc mạng thông và tha tâm thông.
Năm trí: Pháp trí, trí vị tri, đạo trí, đẳng trí và trí tha tâm thuộc lậu tận thông. Chín trí vô lậu trừ đẳng trí.
Bốn ý chỉ: Thân ý chỉ có tám trí, trừ trí tha tâm, tận trí. Thống (thọ) ý chỉ, tâm ý chỉ có chín trí, trừ tận trí. Pháp ý chỉ có mười trí. Bốn biện là pháp biện, từ biện, ứng biện, nghĩa biện của đẳng trí đều có mười trí, nguyện trí có bảy trí, trừ trí tha tâm, diệt trí, trí vô sinh.
Lực thứ nhất trong mười lực nhận biết mười trí. Hai lực, ba, bốn, năm, sáu lực có chín trí, trừ tận trí.
Bảy lực có mười trí. Tám lực, chín lực có một trí là đẳng trí. Mười lực có chín trí, trừ đẳng trí.
Pháp vô úy thứ nhất có mười trí nhận biết. Pháp vô úy thứ hai có chín trí nhận biết, trừ đẳng trí. Pháp vô úy thứ ba có tám trí nhận biết, trừ đạo trí, tận trí. Pháp vô úy thứ tư có tám trí, trừ khổ trí và tập trí.
 
--------------------

* Trang 630 *
device

Phẩm 12: THIỀN ĐỊNH
 
Được thiền định nhất tâm, tâm không phân tán, trí tuệ thanh tịnh.
Ví như đèn dầu xa nơi có gió thì ánh sáng sẽ tỏa ra sáng tỏ.
Thế nào là thiền định? Tám thứ thiền định là bốn thiền và bốn định Vô Sắc.
Bốn thiền: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, là các thiền định. Vị tịnh của ba thiền là vô lậu tương ưng với ái, đây gọi là có vị. Thiền hữu lậu thiện, đó là tịnh. Không có phiền não, đó là vô lậu.
Hai thứ định trong Hữu đảnh: Có vị và tịnh, không có pháp thiện của định vô lậu. Ở chỗ vắng lặng, hoặc ngồi hoặc đứng, hoặc nằm, hoặc bước đi với ý, trí nhất định, tin tưởng thật sâu xa trong tâm khéo léo. Người có tâm như vậy, nên nhập thiền định.
Dục, tinh tiến, niệm, tuệ, nhất tâm (định) tương ưng với thiền. Các pháp thiện này hướng đến định của Sơ thiền, lìa dục, lìa pháp ác bất thiện. Có giác, có quán, lìa dục, sinh đắc hỷ lạc, đó là Sơ thiền.
Nhiễm đắm nơi ngoại nhập, đó là tham dục, sân hận, thùy miên, điệu, hý, nghi, năm cái này là pháp ác, bất thiện. Dứt trừ hai thứ pháp ác trong ngoài ấy, đó gọi là lìa. Tâm duyên chuyển xoay lại, đó gọi là giác. Tâm thọ hành tư duy, đấy là quán. Dứt trừ pháp ác, bất thiện, gắng sức được thiền, đó là lìa dục. Tâm sinh vui vẻ, đó là hỷ. Thân tâm yên ổn, đó là lạc. Buộc tâm trong duyên, đó là nhất tâm. Là năm chi của Sơ thiền. Dâm dục là tội khổ lớn, không vui, do sức lìa dục, nên được yên ổn và xuất ly.
Như thế, tư duy các pháp thiện như dục, v.v…, phải sinh trong tâm, đó gọi là được đạo Sơ thiền. Hỷ, lạc, xả căn tương ưng với ba thọ căn. Lạc căn tương ưng với ba thức thân là nhãn, nhĩ, thân thức. Hỷ căn tương ưng với ý thức, xả căn tương ưng với bốn thức.
Sô thiền này có thân riêng, tưởng riêng. Có thân riêng một tưởng, bốn tâm ở Sơ thiền là nhãn, nhĩ, thân, ý, đó gọi là các giác quán của Sơ thiền. Nội diệt nhất tâm tịnh, vô giác vô quán, định sinh được tương ưng với hỷ lạc. Đó là giác quán của Nhị thiền, như trước đã nói.
Dứt trừ hẳn, đó gọi là diệt. Niềm tin của các địa không cấu uế, đó gọi là bên trong thanh tịnh. Ý thức buộc nơi duyên không phân tán, đó gọi là nhất tâm. Về chi hỷ, lạc như trước đã nói.
Hỷ căn, xả căn tương ưng với hai thọ căn. Một tưởng của thân riêng tương ưng với hỷ. Địa gần căn bản tương ưng với xả căn, trừ diệt cấu uế giác, quán, trừ diệt công đức tư duy là con đường đi đến hai

* Trang 631 *
device

thiền, vì lìa cấu uế của hỷ.
Xả hành thọ thân ở địa dưới, người lạc vô lậu, là nói lạc, xả, niệm dưới, lạc nhập Tam thiền lìa hỷ như trước đã nói.
Tâm xả, phóng xả và lạc. Hai thứ thọ, lạc không phiền não là ưa hành niệm, nhớ giữ trong thân. Lạc này khó biết được pháp thật, thế nên vô lậu được nói là lạc, cũng thực hành, xả các pháp thiện như dục v.v... là con đường tiến đến ba thiền.
Quán hỷ ghét bỏ tội không hỷ lạc thiền quán, chỉ, lạc, xả, niệm, trí, nhất tâm, đó là năm chi như trước nói, đó gọi là ba thiền dứt trừ lạc, khổ. Trước hết là diệt ưu, hỷ căn, xả niệm tịnh nhập Tứ thiền. Các pháp thiện như dục, v.v... cũng lại quán cấu uế của vui khổ, không khổ, không lạc. Khéo chỉ là đạo đi vào Tứ thiền.
Bốn chi là xả niệm, trí thiện, nhất tâm, sức thiền và diệt hơi thở, đó là Tứ thiền. Tất cả chi thiền thiện, thiền vị đáo có giác, có quán, thiền trung gian không có giác, có quán. Hai địa này tương ưng với xả căn. Hai thứ tịnh vô lậu của địa thiền vị đáo không phải là vị. Ba thứ vị, tịnh, vô lậu trong Tứ thiền gọi là thiền pháp.
Lìa ghi nhớ sắc cũng quán vô lượng không, nhập định không, quán cấu uế của sắc, khéo dừng lại ở Không xứ. Quán này là con đường hướng đến định không.
Ghi nhớ vô lượng thức, nhập thức xứ quán cấu uế của không xứ.
Khéo dừng lại ở thức xứ, quán theo cách đó hướng đến định thức.
Vô lượng thức hành, đó là khổ. Ghi nhớ hành bất dụng xứ, nhập định bất dụng. Quán cấu uế của vô lượng thức xứ, khéo dừng lại ở Bất dụng xứ. Quán theo cách ấy hướng đến định Bất dụng, là xứ hữu tưởng bệnh, xứ Vô tưởng si. Tư duy như vậy, nhập định hữu tưởng, Vô tưởng, quán cấu uế của Bất dụng xứ, khéo dừng lại ở hữu tưởng, Vô tưởng. Quán theo cách ấy hướng đến định hữu tưởng, Vô tưởng. Đó là định hữu tưởng, Vô tưởng.
Đạo hướng đến Niết-bàn có hai thứ:
1. Quán thân bất tịnh.
2. Đến hơi thở.
Trong phần thứ nhất của thân ý chỉ, hai giải thoát, bốn trừ nhập có nói rõ về pháp bất tịnh. Nhập định sổ tức, từ một, hai cho đến mười niệm, gìn giữ hơi thở ra vào như người giữ cửa quán tất cả pháp khởi, diệt. Hai tướng này là sáu thứ phân biệt của tự tướng, quán thân vô thường, khổ, không, phi ngã (vô ngã).
Như thế, tất cả các pháp quán về sự sợ hãi thế giới, dần dần diệt

* Trang 632 *
device

cấu uế, bắt đầu thực hành pháp thiện, hướng về Niết-bàn.
Địa của thiền vị đáo, địa của thiền trung gian, địa của Tứ thiền, địa của ba Vô Sắc có hai thứ: Hữu lậu, vô lậu. Tất cả hữu lậu của Hữu đảnh là mười tưởng: vô thường, khổ khổ, vô ngã, quán thức ăn, tất cả thế gian không đáng vui, bất tịnh, chết, đoạn, không có dục và tưởng diệt tận.
Nhớ nghĩ đến các hành vô thường, đó là tưởng vô thường.
Nhớ nghĩ nỗi khổ đau của sanh, v.v... đầy khắp thế gian, đó là tưởng khổ.
Nhớ nghĩ trong ngoài đều vô thường, khổ, không tự tại, trống không, đó gọi là tưởng khổ vô ngã.
Lúc nhớ nghĩ đến nhiều sự khổ nhọc mà được thức ăn là bất tịnh, đó là quán tưởng về thức ăn.
Nhớ nghĩ đến những sự sợ hãi về sinh, già, bệnh, chết, v.v..., các thứ phiền não đầy khắp thế giới, đó gọi là tưởng về tất cả thế gian không đáng vui.
Quán những thứ chứa đựng trong tự thân, đó là tưởng bất tịnh. Nhớ nghĩ hết thảy sự sống đều phải chết, đó là tưởng về chết.
Nhớ nghĩ sự dứt trừ tất cả phiền não, là khéo dừng lại, đó là tưởng dứt trừ.
Nhớ nghĩ đến sự vô thường lìa dục, đó là tưởng vô dục.
Nhớ nghĩ đến năm thọ ấm không còn sinh nữa, là tận chỉ diệu ly nơi Niết-bàn, đó là tưởng tận diệt.
Mười tưởng này thường nhớ nghĩ thì, dứt được bờ mé khổ.
 
-----------------------

* Trang 633 *
device

Phẩm 13: TẠP ĐỊNH
 
Tam muội v.v... chung cho tất cả ấm, nhập, trí giải thoát thiền.
Ba tam muội là tam muội Không, tam muội Vô nguyện, và tam muội Vô tướng. Vì buộc tâm nơi duyên vô lậu, nên gọi là tam muội. Nhất tâm quán năm thọ ấm là không, vô thường, phi ngã, đó là tam muội Không. Nhập tam muội này, không mong muốn dâm dục, phẫn nộ, ngu si còn có sinh ra, đó là tam muội Vô nguyện. Tam muội này duyên pháp lìa mười tưởng.
Thế nào là mười tưởng? Là năm trần như sắc, v.v..., nam, nữ, sinh, già, vô thừơng, đó gọi là tam muội Vô tướng.
Hai hành của tam muội Không là hành không và hành vô ngã.
Tam muội Vô nguyện có mười hành: Hành vô thường, khổ, cũng là hành tập, đạo.
Tam muội Vô tướng cùng đủ bốn hành, bốn đẳng (bốn vô lượng) là từ, bi, hỷ, hộ (xả). Tự mình được sự vui sướng, nhớ nghĩ đem cho tất cả chúng sinh, đó là có ba thứ tâm. Trước hết là bà con, thân thuộc. Kế là người trong nhà, sau là các kẻ thù. Nhất tâm tư duy về tất cả thân của chúng sinh trong ba cõi và kẻ thù đều bình đẳng, không khác nhau, trừ sự giận dữ bên trong, là thọ, tưởng, hành, thức tương ưng với từ, v.v... Có thể khởi chánh ngữ, chánh nghiệp, cũng là các hành không tương ưng. Đó là từ đẳng (từ vô lượng). Nhất tâm tư duy về thân tâm của chúng sinh trong ba cõi, đã gieo trồng sự cay đắng, mong muốn được cứu giúp. Tư duy như vậy, có thể tiêu trừ khổ não bên ngoài, là thọ, tưởng, hành, thức tương ưng với bi, v.v... Có thể khởi chánh ngữ, chánh nghiệp, cũng là các hành không tương ưng. Đó gọi là bi đẳng (bi vô lượng). Nhất tâm tư duy chúng sinh trong ba cõi hoan hỷ được vui, có thể dứt trừ lo khổ, là thọ, tưởng, hành, thức tương ưng với hỷ, v.v... Có thể khởi chánh ngữ, chánh nghiệp, cũng là hành không tương ưng. Đó gọi là hỷ đẳng (hỷ vô lượng). Nhất tâm tư duy về vui, khổ, hỷ, phóng, xả của chúng sinh trong ba cõi, có thể dứt trừ dục, sân. Xả đẳng tương ưng với thọ, tưởng, hành, thức, có thể khởi chánh ngữ, chánh nghiệp, cũng là hành không tương ưng. Đó là xả đẳng (xả vô lượng).
Sáu thông là thần túc; thiên nhãn, thiên nhĩ, thức túc mạng, trí tha tâm và lậu tận thông, trừ thông thứ sáu (lậu tận), các thứ kia thì phàm phu cũng đạt được.
Thế nào là thần túc thông? Thần túc thông này có ba thứ:
1. Bay đi.

* Trang 634 *
device

2.  Biến hóa.
3. Thần thông của bậc Thánh. Có ba thứ bay đi:
1. Tự thân bay đi, ví như chim bay.
2. Ở cõi này, bỗng nhiên biến mất và hiện đến cõi khác.
3. Sức của tâm tự tại, như co duỗi cánh tay, đó gọi là thần thông của Chư Phật, không phải là của các đạo khác.
Thường quán thân là không, học cất mình lên một cách nhẹ nhàng, là đáo thú đến thần thông, có thể biến hóa thành lớn, nhỏ, có thể hóa nhiều thành ít, hóa ít ra nhiều, có thể chuyển biến thành các thứ vật dụng, đó gọi là thần thông biến hóa.
Phàm phu biến hóa đến bảy ngày, quá bảy ngày thì diệt. Phật và đệ tử biến hóa tự tại. Lúc biến hóa, quán thế gian tịnh thành bất tịnh, bất tịnh thành tịnh, trừ niệm tịnh, bất tịnh, tâm, niệm, xả. Đó gọi là thần thông của bậc Thánh.
Ba thứ thông này sinh từ diệu lực của bốn thần túc. Tất cả duyên theo sắc, dần dần được cất mình lên hư không một cách nhẹ nhàng. Chư Phật trong một lúc được thiên nhãn thông, từ mắt của mình, bốn đại tạo cõi Sắc tịnh, sinh khởi được thiên nhãn, nhìn thấu suốt cả gần, xa, trên, dưới. Thấy tất cả sắc rất vi tế, ghi nhớ mặt trời, mặt trăng, các vì sao, lửa, ngọc sáng là con đường đạt được thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông. Từ tai mình, bốn đại tạo cõi Sắc thanh tịnh, sinh khởi được thiên nhĩ, nhớ nghĩ, nhận biết các thứ tiếng nói của cõi trời, người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Là con đường hướng đến thiên nhĩ thông.
Thức túc mạng thông, nhớ nghĩ các việc đời trước và nơi mình sinh ở đâu. Đó là con đường hướng đến túc mạng thông.
Thần thông nhận biết được tâm địa của người, tức đều biết rõ tâm thanh tịnh và tâm nhiễm ô của người. Tự tâm sinh, diệt, có thể phân biệt nhận biết, là con đường hướng đến tri tha tâm thông.
Tất cả lậu của ba cõi, ta đều dứt hết. Như vậy nhớ nghĩ, nhận biết được năm thọ ấm là vô thường, v.v…, là con đường đạt được lậu tận thông. Túc mạng thông và thiên nhãn thông hoàn toàn là minh. Túc mạng thông nhận biết nhân duyên thứ lớp của thế gian, đó là minh.
Thiên nhãn thông nhận biết nhân duyên như hành nghiệp được quả báo, đó là minh.
Lậu tận thông là lậu của cõi Dục, Sắc, Vô sắc đã hết, “Ta đã dứt hết các lậu”, đó là minh.
Mười Nhất thiết nhập, ghi nhớ tất cả địa, không nhớ nghĩ gì khác, đó là nhất thiết nhập của địa, cho đến nhất thiết nhập của thức cũng

* Trang 635 *
device

như vậy.
Tám giải thoát: Trong có tưởng sắc, ngoài quán sắc, trong không có tưởng sắc, ngoài quán sắc, tịnh giải thoát tác chứng bốn định Vô Sắc, định Diệt tận, đó là tám giải thoát.
duyên quán chuyển tâm được giải thoát, đó là giải thoát. Quán sắc bên trong bất tịnh và quán sắc bên ngoài, đó là giải thoát ban đầu. Không quán sắc bên trong, quán sắc bên ngoài bất tịnh, là giải thoát thứ hai. Phân biệt quán sắc trong, ngoài, tất cả sắc tịnh là giải thoát thứ ba.
Bốn định Vô Sắc, bốn giải thoát, giải thoát diệt tận.
Trong có tưởng sắc, ngoài quán một ít sắc xấu, tốt, là duyên tri kiến thù thắng, là trừ nhập (thắng xứ) thứ nhất. Bên trong có tưởng sắc, bên ngoài quán vô lượng sắc tốt, xấu, là duyên tri kiến thù thắng, là trừ nhập thứ hai. Trong không có tưởng sắc, ngoài quán một ít sắc tốt, xấu, là duyên tri kiến thù thắng, là trừ nhập thứ ba. Bên trong không có tưởng về sắc, ngoài quán vô lượng sắc tốt, xấu, là duyên tri kiến thù thắng, là trừ nhập thứ tư. Trong không có tưởng sắc, ngoài quán sắc màu xanh, là duyên tri kiến thù thắng, là trừ nhập thứ năm. Các màu vàng, đỏ, trắng, cũng giống như vậy.
Bên trong không loại trừ tưởng về sắc, bên ngoài quán một ít sắc tịnh là:
1. Duyên vô lượng.
2. Bên trong trừ tưởng sắc, bên ngoài quán một ít sắc tịnh.
3. Duyên vô lượng.
4. Nhớ nghĩ đến các màu xanh, vàng, đỏ, trắng, khác.
Vì duyên thù thắng của bốn thứ trừ nhập tịnh, nên nói là trừ nhập.
Sắc đẹp hình dáng trang nghiêm, vì trừ bỏ cấu uế, nên giải thoát, đó là trừ nhập, gọi riêng là ba giải thoát, bốn trừ nhập.
Tám nhất thiết nhập (biến xứ) thuộc về giải thoát tịnh. Mười trí như trước đã nói. Ba đẳng tâm là từ, bi, xả và năm thông trong bốn thiền căn bản có.
Trong sáu địa: Pháp trí, thiền vị đáo, thiền trung gian, bốn thiền căn bản, hỷ v.v... là giải thoát thứ nhất, giải thoát thứ hai, bốn trừ nhập ban đầu, trong Sơ thiền, hai thiền có. Các trừ nhập còn lại, giải thoát tịnh, tám Nhất thiết nhập (tám biến xứ) có trong đệ Tứ thiền. Các giải thoát còn lại hai nhất thiết nhập thuộc về tên của mình.
Giải thoát diệt tận thuộc về Hữu đảnh. Ba tam muội, bảy trí lậu

* Trang 636 *
device

tận thông thuộc về chín địa, trừ đẳng trí trong Hữu đảnh.
Trong mười địa có ba giải thoát của cõi Vô Sắc, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu, ba giải thoát khác, tám trừ nhập, mười nhất thiết nhập là hữu lậu, tất cả hữu lậu trong Hữu đảnh, do chậm lụt, không nhanh nhẹn, cho nên là hữu lậu. Vì định Diệt tận không có trí tuệ, cho nên hữu lậu. Trong năm thông, thường là tâm vô ký. Bốn đẳng tâm (bốn tâm vô lượng) vì duyên theo chúng sinh, nên là hữu lậu. Ái dục chưa hết, kiết sử của ba cõi đã thành. Ái dục đã hết, kiết sử của cõi Sắc, Vô Sắc thành tựu. Ái cõi Sắc hết, kiết sử của cõi Vô Sắc thành tựu. Ái của cõi Vô Sắc hết, kiết sử của ba cõi không thành. Ái cõi Dục hết, vô lậu tịnh ở Sơ thiền thành tựu, như vậy, vô lậu của bậc Thánh trong tất cả địa đều thành tựu. Bậc Thánh sinh ở địa trên hay địa dưới đều thành tựu vô lậu, cầu được năm thông, bốn đẳng tâm, sự cấu uế của kiết ở địa dưới không thành tựu.
Đạo thế tục dựa vào địa thiền vị đáo, lìa dục của địa dưới. Như vậy, đạo vô lậu của tất cả địa đều dựa vào địa thiền căn bản. Địa mình cũng lìa dục địa trên. Vì tất cả địa đều như vậy, nên phàm phu trong Hữu đảnh không thể lìa dục. Các pháp Noãn, Đảnh, Nhẫn, pháp thế gian đệ nhất đều lìa dục. Người tu thiền định hữu lậu trong hai thời gian hiện tại, vị lai, khổ, tập, tận trong đạo kiến đế, tu trí vô lậu hiện ở trước trong trí vị tri.
Vị lai có hai thứ: trí hữu lậu, và trí vô lậu. Vô lậu của vị lai, vô lậu hiện ở trước trong những tâm khác.
Nếu đệ tử của Đức Thế Tôn lìa ái dục, dựa vào địa của thiền vị đáo, ở hiện tại tu đạo hữu lậu, ở vị lai tu đạo hữu lậu, vô lậu. Đạo giải thoát thứ chín tu đạo hữu lậu trong hiện tại, tu hữu lậu, vô lậu ở vị lai và Sơ thiền tu thiền vị đáo vô lậu. Nếu dựa vào thiền vị đáo để tu đạo vô lậu trong hiện tại, thì ở vị lai sẽ tu đạo hữu lậu, vô lậu. Nếu tu đạo vô lậu ở hiện tại trong đạo giải thoát thứ chín, thì sẽ tu đạo hữu lậu, vô lậu ở vị lai.
Về Sơ thiền, nếu đệ tử Đức Thế Tôn nếu đã lìa ái dục của Sơ thiền, dựa vào địa của Nhị thiền vị đáo hiện ở trước tu đạo vô lậu, vị lai tu đạo hữu lậu vô lậu. Trong đạo giải thoát thứ chín, tu đạo hữu lậu ở hiện tại, tu ba thứ vô lậu ở vị lai.
Sơ thiền và tu tịnh vô lậu ở đệ Nhị thiền, nếu lìa ái của Sơ thiền, dựa vào đạo vô lậu, hướng đến Nhị thiền, tu vô lậu ở địa mình, tu đạo hữu lậu, vô lậu ở địa khác.
Trong đạo giải thoát thứ chín, tu đạo vô lậu ở hiện tại, vị lai tu ba

* Trang 637 *
device

thứ vô lậu. Sơ thiền và vô lậu tịnh ở Nhị thiền, cho đến Bất dụng xứ lìa dục cũng giống như vậy.
Lúc lìa dục trong Hữu đảnh, tu tất cả thiền định vô lậu, hiện tại tu đạo vô lậu trong đạo giải thoát thứ chín, tu vô lậu ở vị lai và tu hai mươi ba thứ định của căn thiện thuộc ba cõi.
Có vị tám, tịnh tám, vô lậu bảy, tất cả vô lậu bảy địa là nhân tự nhiên vô lậu, vô lậu của địa mình, vô lậu của địa mình có ba thứ nhân: nhân tương ưng, nhân cộng hữu và nhân tự nhiên. Vị định của đệ nhất hữu, là nhân của vị định nơi đệ nhất hữu không phải nhân khác. Định tịnh thứ nhất nhân của định tịnh thứ nhất, không phải là nhân khác. Định vô lậu thứ nhất thứ lớp khởi sáu thứ định: Thiền thứ nhất có hai thứ: tịnh, vô lậu. Vô lậu của đệ nhị, đệ Tam thiền cũng như vậy. Vô lậu ở đệ Nhị thiền thứ lớp sinh tám địa: Địa mình có hai thứ, địa trên có bốn thứ, địa dưới có hai thứ. Đệ Tam thiền vô lậu, đệ Tứ thiền, định không xứ thứ lớp sinh mười địa: Trên, bốn địa dưới, bốn thứ và địa mình hai thứ. Thức xứ vô lậu theo thứ lớp sinh chín địa: Địa trên ba thứ, địa dưới bốn thứ, địa mình hai thứ. Định Bất dụng xứ vô lậu thứ lớp sinh bảy địa, địa trên một thứ, địa dưới bốn thứ, địa mình hai thứ.
Định Vô Sắc thứ tư thứ lớp sinh sáu địa: Địa dưới bốn thứ, tự địa hai thứ, thiền tịnh cũng như thế. Hữu vị thứ lớp sinh hai thứ. Hữu vị của tự địa cũng lại tịnh.
Như vậy, các thiền định tịnh, vô lậu của tất cả địa, tất cả duyên, tất cả pháp duyên theo tự địa hữu vị. Hữu vị của tự địa duyên cũng lại tịnh. Duyên theo hữu vị không thể duyên các tịnh vô lậu. Định Vô Sắc vô lậu không duyên địa hữu lậu. Định Vô Sắc hữu vị duyên theo hữu vị của tự địa, duyên tịnh không thể duyên theo vô lậu.
Bốn đẳng, tám trừ nhập, ba giải thoát, tám nhất thiết nhập, tất cả các pháp này đều duyên theo cõi Dục. Năm thông duyên theo cõi Dục, cõi Sắc. Tất cả thiền huân, thiền vô lậu, huân tập thiền hữu lậu được người của Tứ thiền, trước huân tu đệ Tứ thiền, sau huân tu ba thiền dưới, được quả báo của năm Tịnh cư.
A-la-hán Bất động pháp được tất cả thiền định, có thể được Đảnh thiền, có thể trụ thọ, cũng có thể xả thọ. Nguyện trí từ tâm nguyện mong, biết tường tận các pháp quá khứ, vị lai và hiện tại, thường là biết pháp vị lai.
Bốn biện tài: pháp biện, từ biện, ứng biện và nghĩa biện, khiến tâm người khác không nổi cơn giận. Đấy là vô tránh thuộc về Tứ thiền, cũng lại là nguyện trí của đệ Tứ thiền thuộc cõi Dục, cũng lại là pháp

* Trang 638 *
device

biện, từ biện của cõi Dục thuộc cõi Dục và hai biện tài khác trong Phạm thiên thuộc về chín địa.
Bốn thiền của cõi Dục, thiền tịnh của bốn Vô Sắc có hai thời: lúc được lìa dục và lúc phát sinh được thiền. Thiền được hữu vi có hai thời: lúc bị thoái chuyển và lúc được sinh. Được vô lậu thiền đạt có hai thứ được: Được hoặc lúc thoái chuyển, và khi lìa dục được, đều thuộc chín địa. Vô lậu có thể dứt trừ kiết sử.
Sự biến hóa có mười bốn tâm: Mười tâm cõi Sắc, bốn tâm của cõi Dục. Sơ thiền có hai tâm biến hóa: Sơ thiền có một, cõi Dục có một. Nhị thiền có ba tâm biến hóa: Nhị thiền có một, Sơ thiền có một, cõi Dục có một. Tam thiền có bốn tâm biến hóa, Tam thiền có một, Nhị thiền có một, Sơ thiền có một, cõi Dục có một. Tứ thiền có năm tâm biến hóa: Tứ thiền có một, Tam thiền có một, Nhị thiền có một, Sơ thiền có một, cõi Dục có một.
Những thiền nào thành tựu quả này? Tâm biến hóa của địa dưới thành tựu trụ địa của Tam thiền. Thức của Phạm thiên hiện ở , năng có thể thấy nghe bấy giờ thành tựu, liền diệt, bấy giờ không thành tựu.
 
----------------------

* Trang 639 *
device

Phẩm 14: TAM THẬP THẤT PHẨM
 
Ý chỉ, ý đoạn, thần túc, căn, lực, giác, đạo là bảy pháp dẫn đến Niết-bàn. Trong ấy bảy giác ý là vô lậu, sáu thứ còn lại thì phân biệt hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu.
Có thuyết nói: Bảy giác ý, tám trực đạo, tất cả đều vô lậu. Những thứ còn lại thì phân biệt. Bốn ý chỉ (bốn niệm xứ) có trong thiền định của tất cả địa, thuộc bốn thứ trí thường niệm giữ, đó là niệm chỉ. Ba thứ: Hành trí tuệ trong niệm thân, đó gọi là thân niệm chỉ. Như vậy, niệm chỉ thọ, tâm, pháp, đấy là bốn niệm chỉ. Vì sao không nói ba niệm chỉ hoặc năm niệm chỉ? Vì muốn phá trừ bốn điên đảo, nên nói bốn niệm chỉ (bốn niệm xứ).
Thế nào là thân niệm chỉ? Vì hủy hoại sự điên đảo của tưởng tịnh, quán tướng thật của thân có ba mươi sáu thứ bất tịnh. Nếu chết thì sâu trùng lúc nhúc bò ra v.v… thân thể hôi tanh, mục nát, còn trơ lại xương v.v... Quán thân như vậy là hủy hoại tưởng tịnh điên đảo.
Thế nào là thọ niệm chỉ? Quán sinh trụ diệt khổ của thọ nơi các hữu. Sử dâm dục trong lạc thọ, sử sân hận trong khổ thọ và sử vô minh trong thọ không khổ, không vui, quán vô thường, khổ, không, vô ngã, đó là thọ niệm chỉ.
Thế nào là tâm niệm chỉ? Là quán tâm nhiễm ô, tâm không nhiễm ô. Nếu nhất tâm, hoặc tâm phân tán, quán khổ, vô thường v.v... đấy là tâm niệm chỉ.
Thế nào là pháp niệm chỉ? Đó là quán pháp bên trong, quán pháp bên ngoài và quán pháp trong lẫn ngoài. Hoặc quán pháp quá khứ, vị lai, hoặc quán các kiết sử, có bao nhiêu pháp dứt trừ, bao nhiêu pháp không dứt trừ? Hoặc quán khổ vô thường, quán nhân duyên của tập, quán sự ngừng dứt, đó là pháp niệm chỉ.
Thế nào là bốn ý đoạn (bốn chánh cần)? Trong tâm đã sinh pháp ác bất thiện, muốn dứt bỏ, nên siêng năng tinh tiến chế ngự tâm, trụ nơi pháp thiện. Lúc chưa sinh pháp ác, bất thiện, chớ khiến cho chúng sinh siêng năng tinh tiến, ngăn giữ tâm, trụ nơi pháp thiện. Pháp thiện chưa phát sinh, muốn cho sinh, nên siêng năng tinh tiến trụ pháp thiện. Pháp thiện đã sinh, nhớ giữ lại đừng để cho mất, càng làm cho lớn thêm, siêng năng tinh tiến trụ pháp thiện, đó là bốn ý đoạn (bốn chánh cần).
Thế nào là bốn thần túc? Dục định, tinh tiến định, tâm định và tuệ định. Từ các định này được tất cả công đức, đó là bốn thần túc.
Dục định dứt trừ các hành, thành tựu thần túc bậc nhất, muốn làm,

* Trang 640 *
device

đó gọi là dục. Tâm không phân tán, đó là định. Dục, tinh tiến, niệm, tuệ, hỷ, ỷ (khinh an). Đó là các hành kết hợp với dục định. Như vậy, tâm tinh tiến, tuệ dục, đại dục, vì muốn được định, đó là dục định. Tâm tuệ tinh tiến như vậy, đó là bốn thần túc.
Tín, tinh tiến, niệm, định, tuệ, đó là năm căn. Tín, có niềm tin trong bốn đức tin không hư hoại, đó là tín căn. Bốn ý tinh tiến, đó là tinh tiến căn. Niệm không quên trong bốn niệm chỉ, đó là niệm căn. Nhất tâm trong bốn thiền định, đó là định căn. Tuệ trong bốn đế, đó là tuệ căn. Căn cơ nhạy bén, nhanh nhẹn bậc nhất, đó là nghĩa của căn.
Năm lực như tín v.v..., pháp ác, bất thiện không thể hủy hoại được, đó là lực. Nhỏ là căn, lớn là lực.
Niệm, trạch pháp, tinh tiến, hỷ, ỷ (khinh an), định, hộ (xả), đó là bảy giác ý.
Thế nào là Niệm? Là nhớ nghĩ đến các thứ tội sinh, diệt của pháp hữu vi và sự mầu nhiệm cùng cực của Niết-bàn. Đấy là niệm giác. Sự tư duy phân biệt trong đó là trạch pháp giác. Sự tư duy, siêng năng, tinh tiến ở đấy là tinh tiến giác. Trong đấy, được vui vẻ với vị pháp thiện, đó là hỷ giác. Sự tư duy về thân tâm nhẹ nhàng, yên ổn, tùy theo định, đó là ỷ giác (khinh an). Nhân duyên trong đây thâu giữ tâm trụ không loạn, đó là định giác. Ở đây, buông tâm, dừng nghỉ, không nghĩ, không mong muốn, đó là xả giác. Các thứ trí tuệ được sức của thiền định dứt trừ tất cả phiền não, đó là quả của bảy giác. Bảy pháp như niệm v.v... dứt trừ tất cả phiền não, đó gọi là giác.
Thấy ngay thẳng (chánh kiến), tư duy ngay thẳng, lời nói ngay thẳng, nghề nghiệp ngay thẳng, mạng sống ngay thẳng, niệm ngay thẳng, phương tiện ngay thẳng và định ngay thẳng, đó là tám trực đạo (tám chánh đạo).
Trí tuệ chân thật trong bốn đế, đó là sự thấy ngay thẳng (chánh kiến). Trong đây, ba thứ giác, quán là thiện, không giận, không não hại là nói sự tư duy ngay thẳng (chánh tư duy). Dứt trừ bốn thứ nói bất chính, đó là lời nói ngay thẳng (chánh ngữ). Đoạn trừ ba thứ nghiệp tà, đó là trực nghiệp (chánh nghiệp). Dứt bỏ tà mạng bất thiện, đấy là trực mạng (chánh mạng). Trong đây, tư duy siêng năng, tinh tiến là trực phương tiện (chánh tinh tiến). Trong đó, tư duy nhớ nghĩ không quên, là niệm ngay thẳng (chánh niệm). Trong đây, nhất tâm trụ là định ngay thẳng.
Đó là tám đạo ngay thẳng (tám chánh đạo) hướng về Niết-bàn. Tín, tinh tiến, niệm, định, tuệ, hỷ, ỷ (khinh an), xả, tư, giới, mười

* Trang 641 *
device

pháp này phân biệt nói là ba mươi bảy pháp tín. Đó là tín căn, tín lực, tinh tiến, tinh tiến căn, tinh tiến lực, bốn ý đoạn, tinh tiến giác ý, phương tiện ngay thẳng, niệm căn, niệm lực, niệm giác ý, trực niệm, hỷ, hỷ giác, tuệ, tuệ căn, tuệ lực, bốn niệm chỉ, trạch pháp giác, trực kiến, ỷ (khinh an), ỷ giác, định, định căn, định lực, bốn thần túc, định giác, trực định, xả, xả giác, tư, trực tư, giới, trực ngữ, trực nghiệp, trực mạng, và nhân duyên ngay thẳng.
Trụ trong bốn thứ trí tuệ, đó là niệm chỉ. Sự tinh tiến ngay thẳng, đó là ý đoạn. Nhất tâm trụ trong duyên không phân tán, đó gọi là bốn thần túc.
Sinh trong tâm của người căn cơ chậm lụt, đó gọi là năm căn. Sinh trong tâm người căn cơ nhạy bén, đó gọi là năm lực. Trong đạo kiến đế, đó gọi là tám trực đạo (tám chánh đạo). Trong đạo tư duy, đó gọi là bảy giác, là ba mươi bảy phẩm thuộc mười pháp.
Địa thiền Vị đáo có ba mươi sáu phẩm trừ hỷ giác, Địa của Nhị thiền cũng có ba mươi sáu phẩm, trừ tư duy ngay thẳng (chánh tư duy). Tam thiền, Tứ thiền, thiền trung gian có ba mươi lăm phẩm trừ hỷ giác, tư duy ngay thẳng(chánh tư duy). Sơ thiền có ba mươi bảy phẩm. Ba định không có ba mươi hai thứ, trừ hỷ giác, tư duy ngay thẳng(chánh tư duy), lời nói ngay thẳng (chánh ngữ), nghề nghiệp ngay thẳng (chánh nghiệp), mạng sống ngay thẳng (chánh mạng). Trong Hữu đảnh có hai mươi hai thứ, trừ bảy giác, tám đạo. Cõi Dục cũng có hai mươi hai thứ, trừ bảy giác, tám đạo.
 
----------------------

* Trang 642 *
device

Phẩm 15: BỐN ĐẾ
 
Bốn đế: Khổ đế, Tập đế, Tận đế (Diệt đế), Đạo đế.
Thế nào là Khổ đế? Một thứ tướng não là khổ. Hai thứ là thân khổ, tâm khổ. Ba thứ là khổ khổ, biệt ly khổ (hoại khổ), hành vô thường khổ (hành khổ). Bốn thứ khổ trong ngoài của thân, nỗi khổ trong ngoài của tâm, năm thứ khổ của năm ấm lừng lẫy. Sáu thứ khổ của ba cõi, nỗi khổ của ba độc. Bảy thứ khổ của bảy thức xứ. Tám thứ khổ: sinh, già, bệnh, chết, oán ghét gặp nhau, ân ái biệt ly, nỗi đau khổ vì mong cầu không được. Tóm lại, tất cả mọi nỗi đau khổ, đó là Khổ đế.
Thế nào là Tập đế? Năm thọ ấm là nhân của các thứ khổ, đó là Tập đế.
Thế nào là Tận đế (Diệt đế)? Khổ, tập, hoàn toàn dứt hết, trí duyên tận, đó là Tận đế. Thực hành tám trực đạo (tám chánh đạo), đó là Đạo đế.
Bốn đế này theo thứ lớp, nên nhận biết dứt trừ, tu chứng. Tự tư duy về thật tướng, người tu tập chắc chắn được quả, không giả dối, đấy là đế. Vì nhận biết về thô, nên theo thứ lớp Khổ đế là thô dễ nhận biết. Vì lý do này, nên trước nói Khổ đế. Biết khổ, suy tìm nhân của khổ, từ trong tập sinh. Vì lẽ đó, nên Tập đế đứng thứ hai. Khổ đế này sẽ diệt hết ở xứ nào để được giải thoát, nên tư duy trong Niết-bàn. Vì lý do này, nên Diệt đế đứng thứ ba. Làm sao được diệt ấy? Phải tư duy thực hành tám trực đạo (tám chánh đạo), dứt hết kiết sử, được Tận đế. Vì lẽ này nên Đạo đế đứng thứ tư.
Lúc năm thọ ấm thọnhận quả báo, đấy là Khổ đế. Lúc năm thọ ấm làm nhân duyên, đó là Tập đế, vừa gọi là Khổ đế. Ví như một người vừa gọi là con, vừa gọi là cha. Tập đế đa số là kiết sử. Những thứ kiết sử nào? Có chín kiết là kiết ái, sân hận, kiêu mạn, vô minh, nghi, kiến, thất nguyện, san, tật đố.
Sự ham muốn của ba cõi là kiết ái, tâm phẫn nộ trong chúng sinh khởi động điều xấu ác, đó là kiết sân. Bảy thứ mạn là kiết mạn. Sự ngu si trói buộc khắp ba cõi là kiết vô minh. Ba kiến là kiết kiến, hai kiến là kiết thất nguyện (kiết thủ). Không quyết định rõ trong bốn đế là kiết nghi. Tâm luyến tiếc, bỏn sẻn là kiết san, ganh ghét người khác, ôm lòng tức giận, là kiết tật.
Tận đế có hai thứ:
1. Đạo hữu lậu dứt hết kiết sử.
2. Đạo vô lậu dứt hết kiết sử.

* Trang 643 *
device

Hai thứ này là các pháp thanh tịnh.
Bốn biện tài: Pháp, từ, ứng, nghĩa. Biết thật tướng của tất cả danh, tự, đó là pháp biện. Trí của tất cả nói năng, bàn luận, đó là từ biện. Biết thật tướng của tất cả pháp, đó là ứng biện. Tất cả trí tuệ, ngôn ngữ, thiền định, thông, trí, đó là nghĩa biện.
Bốn niềm tin không hư hoại của Tu-đà-hoàn: Tin Phật không hư hoại, tin Pháp không hư hoại, tin Tăng không hư hoại, tin tịnh giới không hư hoại.
Các pháp vô học thuộc về quả A-la-hán. Các niềm tin vô lậu trong vô số công đức to lớn của Phật, đó là tin Phật không hư hoại.
Vô lậu trong Niết-bàn và pháp học, vô học trong đế vô lậu là niềm tin tịnh vô lậu trong công đức chân thật của Bồ-tát, đó là tin Pháp không hư hoại.
Tin đạt được đạo quả vô lậu có tất cả công đức của bốn hướng bốn quả (tứ song bát bối), là niềm tin trong chúng đệ tử Phật, chứ không phải tin ở nơi nào khác. Đấy là tin Tăng không hư hoại.
Giới vô lậu vô giáo. Tin vô lậu trong đó là tin giới không hư hoại. Trí tuệ tịnh thật, kết hợp chung với niềm tin. Vì lý do này nên không gì có thể vượt hơn giới vô lậu ấy, cho nên tin không hư hoại. Đây gọi là bốn niềm tin không hư hoại.
Có bốn việc tu định: Tu định được sống yên vui trong hiện pháp, tu định được trí kiến, tu định được tuệ phân biệt, và tu định được các điều thiện, dứt hết lậu. Sơ thiền có thể được sống vui trong hiện tại (hiện pháp lạc trụ). Sinh tử trí thông, đó là trí kiến. Phương tiện cầu công đức là công đức của giới vô giáo, nơi văn, tư, tu ở cõi Dục. Tất cả pháp của cõi Sắc, Vô Sắc, tất cả pháp hữu vi, vô lậu, đó là nói tuệ phân biệt. Bốn thiền của Kim Cương dụ là tâm học sau cùng, tương ưng với lậu tận, đó là tu định được lậu tận thuộc về đệ Tứ thiền. Bốn đạo là khổ khó biết, khổ dễ biết, vui khó biết và vui dễ biết. Tùy tín hành với căn cơ chậm lụt, đối với pháp vô lậu là khổ khó biết. Căn cơ nhạy bén đối với pháp vô lậu của Tùy pháp hành, là khổ dễ biết. Căn cơ nhạy bén trong bốn thiền căn bản và pháp của căn cơ chậm lụt, gọi là lạc đạo. Vì sao? Vì đạo chỉ quán đều song hành, vì trong địa khác chỉ quán hoặc nhiều, ít, nên nói như thế. Hai xứ khổ của thiền vị đáo, thiền trung gian thì đạo chỉ ít, đạo quán nhiều. Trong Vô Sắc thì đạo quán ít, đạo chỉ nhiều, đó gọi là đạo khổ khó được. Có bảy thức trụ:
1. Chư thiên trong cõi Dục và loài người, trời Phạm chúng của cõi Sắc, trừ trời mới sinh, là thân khác, tưởng khác.

* Trang 644 *
device

2. Trời Phạm chúng mới sinh, thân khác, tưởng một.
3. Sinh lên trời Nhị thiền, thân một, tưởng khác.
4. Sinh lên trời Tam thiền, một thân, một tưởng.
5. Sinh lên trời Không xứ.
6. Sinh lên trời Thức xứ.
7. Sinh lên trời Bất Dụng xứ (Vô sở hữu xứ).
Đó là bảy thức trụ. Vì sao? Vì thức không hư hoại. Vì khổ thọ làm thức bị hư hoại trong đường ác, nên không được lập thức trụ. Vì đệ Tứ thiền và định Vô tưởng làm thức hư hoại, nên cũng không được lập thức trụ.
Vì Phi tưởng Phi phi tưởng xứ và định Diệt tận, thức bị hư hoại, nên cũng không được lập thức trụ.
Chín chúng sinh ở bảy thức trụ này và chúng sinh Vô tưởng nơi Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, đó gọi là nơi cư trú của chín chúng sinh. Vì cư ngụ trong đó, do sức của tư duy duyên về y phục, thức uống ăn, giường nằm, ưa dứt kiết sử mà được đạo, nên nói là bốn Thánh chủng. Hoặc tốt đẹp, hoặc không tốt đẹp, đồng thời y phục, thức uống ăn, giường nằm, đều biết vừa đủ, là ba Thánh chủng.
Khổ của mong cầu, giữ gìn, mất mát, ba khổ này làm mất đạo thiện. Vì không ăn thì thân mạng không sống, do đó nên hướng đến được tri túc, lìa dục, được niềm vui hoan hỷ trong tâm, đó gọi là thứ tư.
Một trăm lẻ tám thứ thọ: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý sinh ra cánh lạc (xúc), đó là sáu cánh lạc (xúc) có ba thứ: Mắt thấy sắc, ưu, hỷ, xả, cho đến ý niệm pháp, ưu, hỷ, xả. Trong đó có thiện, bất thiện: Thiện có mười tám thứ, bất thiện có mười tám thứ. Đó là ba mươi sáu thứ, nhân với ba thứ thành một trăm lẻ tám thứ. Ba mươi sáu thứ ở quá khứ, ba mươi sáu thứ ở vị lai và ba mươi sáu thứ ở hiện tại. Vì năm thức không thể phân biệt, nên không có ưu (lo), hỷ (mừng). Pháp tâm sở trong ý hành nối tiếp nhau không dứt, thường ghi nhớ, đó là niệm. Nhân duyên của sự ghi nhớ thuận theo pháp này, nhân duyên của pháp thức ghi nhớ lại, với sức nhớ nghĩ rất mạnh mẽ, nên không quên pháp quá khứ. Nhân duyên của pháp tâm, tâm sở nơi người ngủ nằm mộng thấy có, không nhân, không duyên, nơi những gì đã thấy trong mộng. Cảnh mộng này hoặc đời quá khứ, hoặc đời vị lai, hoặc mộng thấy người mọc sừng, là vì trước kia người ấy đã thấy có bò sừng, tư duy rất mạnh mẽ: Vì sao con người không mọc sừng? Nghĩ như vậy rồi, người đó nằm mộng thấy người có mọc sừng.
Tâm phân tán, rối loạn, đó là si. Hoặc vì thân bệnh mà si, hoặc vì

* Trang 645 *
device

bị quỷ mị mê hoặc nên si, hoặc vì nhân duyên của đời trước, nên si.
Ba chi: chi giới, chi định, chi tuệ.
Thế nào là chi giới? Giới có giáo (hữu biểu), vô giáo (vô biểu)của cõi Dục, giới vô giáo (vô biểu) ở cõi Sắc.
Thế nào là chi định? Là tu mười bốn thứ định.
Thế nào là chi tuệ? Là ba thứ tuệ: văn, tư và tu. Cõi Dục có hai thứ: văn và tu. Cõi Sắc có hai thứ là văn và tư. Cõi Vô Sắc chỉ có một thứ là tu.
Hai thứ luật nghi:
1. Luật nghi tình.
2. Luật nghi giới.
Thế nào là luật nghi tình? Không được khởi tưởng dâm với mẹ mình, v.v... hoặc có tưởng dâm với chị, em gái mình. Nhìn thấy người nữ, không nên nhớ, không sinh tưởng nhớ, nghĩ đến nữ căn, vì từ tưởng này gây nên rất nhiều tội lỗi, khổ não. Quán thân tâm xa lìa, đó là luật nghi tình.
Dứt trừ hẳn pháp bất thiện của các thứ dâm dục. Không hủy hoại giới hạnh, không chút tâm nhiễm ô, tuyệt đối tịnh, không có một vết nhơ, trừ khử hẳn bảy thứ dâm dục, đó là luật nghi giới.
Phiền não nghiệp ác và báo của nghiệp ác là có ba chướng, nghiệp trái ngược, phiền não rất nặng và báo của ba đường ác. Nếu có một trong ba việc này thì không được thọ Thánh pháp, cho nên nói là chướng-ngại. Giác, quán bất thiện có ba thứ là dâm dục, giận dữ, phiền não. Ba thứ này phá hoại ba thứ giác quán thiện là không dâm, không giận, không gây phiền não.
Có ba thứ bệnh: dâm, nộ, si. Bệnh này có ba thứ thuốc trị:
1. Quán thân bất tịnh.
2. Tâm từ, nghĩ đến chúng sinh
3. Quán mười hai nhân duyên. Đấy là ba thứ thuốc.
Tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ. Pháp này không thọ tất cả quả báo ác, hoặc nhận lãnh một ít báo, hoặc đời này, đời sau thọ một ít báo.
Thế nào là tu thân? Tu thân là quán vô số các thứ là vô thường, v.v...
Thế nào là tu giới? Là giữ giới, không trái phạm, thường thủ hộ. Thế nào là tu tâm? Tu tâm là trừ bỏ giác quán ác, thực hành giác quán thiện.
Thế nào là tu tuệ? Tu tuệ là phân biệt các thứ pháp thiện, càng ích
 

* Trang 646 *
device

lợi thêm cho trí tuệ. Người làm điều thiện sẽ dễ được đạo tốt đẹp, kẻ làm việc bất thiện dễ rơi vào đường ác. Hoặc có người thiện bị đọa vào đường ác, hoặc có kẻ dữ lại sinh vào đường tốt, vì nhân duyên của năng lực lớn đời trước với báo dư chưa hết, hoặc đến khi chết, tâm sau cùng của họ có thiện, bất thiện. Vì thế, nên người thiện bị đọa đường ác, kẻ bất thiện lại được sinh vào đường tốt.
--------------------------

* Trang 647 *
device

Phẩm 16: TẠP
 
Bốn quả Sa-môn, sáu pháp, năm ấm. Trí duyên tận, đó gọi là phân biệt bốn quả:
Quả A-la-hán thuộc về chín địa, trừ địa trong Hữu đảnh, quả thứ ba thuộc sáu địa, trừ bốn Vô Sắc, vì không có pháp trí. Quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm thuộc về địa thiền Vị đáo, vì thân của người chưa lìa dục.
Có bốn thứ điên đảo:
Vô thường tưởng là thường, là tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo, khổ có tưởng vui, bất tịnh có tưởng tịnh, phi ngã có tưởng ngã. Đó là tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo. Tất cả điên đảo đều do kiến khổ đế mà dứt trừ. Vì sao? Vì hành duyên xứ khổ thuộc về ba kiến: thân kiến, biên kiến và trộm kiến (kiến thủ) điên đảo. Tất cả sáu mươi hai kiến thuộc về năm tà kiến.
Ngã không thật trong năm ấm mà thấy có ngã thật, là thân kiến. Thường, đoạn dựa vào nhân duyên quả báo mà không biết là biên kiến. Đối với pháp chân thật của đế mà cho là không có đời này, đời sau, không có Niết-bàn và bốn đế, v.v... là tà kiến.
Không phải lạc, tịnh chân thật mà quán có lạc tịnh, ví như cây bị chặt gốc vẫn còn đứng, trong đêm trông thấy từ xa, cho là con người, là trộm kiến (kiến thủ). Không phải nhân chấp là nhân, không phải đạo chấp là đạo, đó là trộm giới (giới cấm thủ).
Thân kiến do kiến khổ đế dứt trừ, vì chấp ngã trong năm ấm. Tưởng thường, tưởng đoạn, do khổ đế dứt trừ, vì duyên năm ấm hiện tại. Tà kiến, hoặc chê bai khổ thì kiến khổ dứt trừ. Như vậy, chê bai tập, diệt, đạo thì kiến tập, diệt, đạo dứt trừ. Trộm kiến (kiến thủ) nếu chấp có lạc, tịnh trong khổ đế, thì kiến khổ dứt trừ. Như vậy, chấp có lạc, tịnh v.v... trong tập, diệt, đạo, thì do kiến tập, diệt, đạo dứt trừ.
Trộm giới không phải là đạo cầu Niết-bàn và chẳng phải nhân mà chấp nhân là trộm giới (giới cấm thủ), do kiến khổ, kiến đạo mà dứt trừ.
Sáu tu: tu đắc, tu hành, tu đoạn, tu trừ, tu phân biệt và tu luật nghi.
Thế nào là tu đắc? Chưa từng được công đức của pháp thiện mà
được, sau khi được công đức này rồi, các công đức khác cũng được.
Thế nào là tu hành? Đã từng được các công đức, hiện nay đang thực hành.
Thế nào là tu đoạn? Pháp thiện dứt trừ các kiết sử.

* Trang 648 *
device

Thế nào là tu trừ? Có thể dứt trừ các pháp bất thiện.
Thế nào là tu phân biệt? Quán phân biệt về thật tướng của thân.
Thế nào là tu luật nghi? Duyên vượt hơn đối với sáu căn nhiễm ô duyên cảnh.
Năm căn: Sơ thiền diệt hết ưu căn. Nhị thiền diệt hết khổ căn, không sót; Tam thiền diệt hết hỷ căn, không sót; Tứ thiền diệt hết lạc căn, không sót; Tam muội vô tướng diệt hết xả căn.
Ba cõi không sót là cõi đoạn, cõi vô dục và cõi tận. Trừ kiết ái, còn các phiền não khác đều dứt trừ, đó gọi là cõi đoạn. Kiết ái đã dứt trừ, đó gọi là cõi vô dục.
Các pháp khác được dứt trừ, gọi là cõi tận.
Diệt dâm, dục được tâm giải thoát, diệt ngu si được tuệ giải thoát. Nhập trong ngoài không lệ thuộc nhau. Sự dâm dục là chủ thể trói buộc. Ví như hai con bò bị buộc chặt vào chiếc ách. Vì lý do đó, nên trong trần (cảnh) có ái, không ái, tâm nên xả, không nên có tâm ái, sân hận.
Mười pháp: Là cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô Sắc, vô lậu, tương ưng không tương ưng, thiện, vô vi, vô ký, vô vi. Đó là mười pháp.
Năm pháp: Pháp trí duyên. Năm pháp đó là: Pháp tương ưng, pháp không tương ưng thuộc cõi Dục. Pháp tương ưng, không tương ưng với vô lậu và pháp thiện, vô vi. Đó gọi là năm pháp.
Trí vị tri duyên bảy pháp. Bảy pháp đó là: Pháp tương ưng, không tương ưng thuộc cõi Sắc. Pháp tương ưng, không tương ưng thuộc cõi Vô Sắc, pháp tương ưng, không tương ưng với vô lậu và pháp vô vi thiện.
Trí tha tâm duyên ba pháp: Pháp tương ưng thuộc cõi Dục, pháp tương ưng thuộc cõi Sắc, và pháp tương ưng với vô lậu.
Đẳng trí duyên mười pháp: Pháp tương ưng, không tương ưng thuộc cõi Dục. Pháp tương ưng, không tương ưng thuộc cõi Sắc, pháp tương ưng, không tương ưng thuộc cõi Vô Sắc. Pháp tương ưng, không tương ưng với vô lậu và pháp vô vi thiện, pháp vô vi vô ký.
Khổ trí, tập trí, mỗi trí đều duyên sáu pháp: Pháp tương ưng, không tương ưng thuộc ba cõi, đó là sáu pháp.
Tận trí duyên một pháp, là pháp vô vi thiện. Đạo trí duyên hai pháp là pháp tương ưng, pháp không tương ưng với vô lậu.
Diệt trí, trí vô sinh duyên chín pháp, trừ pháp vô vi, vô ký.
Phiền não của địa mình, sử sai khiến của địa mình, sử nhất thiết biến, nhất thiết biến trong địa mình và địa khác. Ngoài ra, đều bị sử của địa mình sai khiến.
Có hai thứ pháp: Pháp tương ưng và không tương ưng.

* Trang 649 *
device

Thế nào là pháp tương ưng? Pháp tương ưng là các pháp tâm, tâm sở.
Thế nào là pháp không tương ưng? Đó là mười bảy pháp, như đắc v.v... Mười bảy pháp gồm:
1. Thành tựu.
2. Định Vô tưởng.
3. Định Diệt tận.
4. Xứ Vô tưởng.
5. Mạng căn.
6. Chủng loại. (chúng đồng phần)
7. Xứ đắc.
8. Vật đắc.
9. Nhập đắc.
10. Sinh.
11. Già.
12. Trụ.
13. Vô thường.
14. Danh chúng (danh thân).
15. Tự chúng (Cú thân).
16. Vị chúng (văn thân).
17. Tánh phàm phu.
Khi các đắc pháp, pháp không tương ưng với tâm đều đắc, đó gọi là thành tựu.
Tưởng ưa chuộng Niết-bàn, nhàm chán sinh tử. Lúc này lực định nhiều, ít của bốn thiền làm diệt mất pháp tâm, tâm sở, đó là định Vô tưởng.
Chán ngán nỗi vất vả nhọc nhằn, ngừng dứt ý tưởng, do sức của định Hữu tưởng, Vô tưởng làm mất pháp tâm, tâm sở trong thời gian dài, ngắn, đó là định Diệt tận.
Sinh lên cõi trời Vô tưởng, pháp tâm, tâm sở không hoạt động, đó gọi là xứ Vô tưởng.
Các căn v.v... của bốn đại nối tiếp nhau không hư hoại, đó là mạng căn.
Các xứ sinh, thân tâm, lời nói của chúng sinh khác là giống nhau, đó gọi là chủng loại của chúng sinh (chúng đồng phần).
Đến nơi khác mà được, gọi là xứ đắc.
Vật lẫn lộn của các hành, đó là vật đắc.
Đắc các nhập trong ngoài đó là nhập đắc. Các hành khởi là sinh,

* Trang 650 *
device

hành chín muồi là già, hành này chưa diệt là trụ, hành diệt là vô thường. Kết hợp chữ nghĩa lại, đó gọi là danh chúng (danh thân). Hợp tên để nói tên sự là cú chúng (cú thân). Hợp để nói rộng là ngữ chúng (văn thân). Chưa được đạo Thánh vô lậu là tánh phàm phu. Đó gọi là mười bảy pháp tâm bất tương ưng.
Trong các pháp này có bao nhiêu pháp là thiện, bao nhiêu pháp là bất thiện và bao nhiêu pháp là vô ký? Có hai thiện, bảy vô ký và tám nên phân biệt.
Định Vô tưởng, định Diệt tận, đó là thiện. Xứ Vô tưởng, chủng loại, danh chúng, cú chúng, ngữ chúng, mạng căn, tánh phàm phu, đó là vô ký. Thành tựu, sinh, già, trụ, vô thường là thiện trong thiện, bất thiện trong bất thiện, vô ký trong vô ký. Xứ đắc, vật đắc, nhập đắc, có thiện, bất thiện, vô ký.
Có bao nhiêu pháp thuộc cõi Dục? Bao nhiêu thuộc cõi Sắc? Bao nhiêu pháp thuộc cõi Vô Sắc? Và bao nhiêu pháp không lệ thuộc? Có ba thứ thuộc cõi Dục, có hai thứ thuộc cõi Sắc và có một thuộc cõi Vô Sắc. Có mười một thứ nên phân biệt: hoặc thuộc cõi Dục, hoặc thuộc cõi Sắc, hoặc thuộc cõi Vô Sắc, hoặc không lệ thuộc. Danh chúng, cú chúng, ngữ chúng là thuộc cõi Dục, cõi Sắc. Định Vô tưởng, xứ Vô tưởng là thuộc cõi Sắc. Định Diệt tận là thuộc cõi Vô Sắc.
Thành tựu, mạng căn, chủng loại, xứ đắc, vật đắc, nhập đắc, tánh phàm phu là thuộc ba cõi. Sinh, già, trụ, vô thường thuộc cõi Dục. Trong pháp cõi Dục thì thuộc cõi Dục. Trong pháp cõi Sắc thì thuộc cõi Sắc. Trong pháp cõi Vô Sắc thì thuộc cõi Vô Sắc. Trong pháp không lệ thuộc thì không lệ thuộc.
Mười bảy pháp, trong đó có bao nhiêu pháp là hữu lậu, bao nhiêu pháp là vô lậu? Có mười ba thứ hữu lậu và bốn thứ sẽ phân biệt: Sinh, già, trụ, vô thường là hữu lậu trong hữu lậu, vô lậu trong vô lậu.
Khi được tâm vô lậu đầu tiên, lúc đó xả tánh phàm phu, lúc sinh ở cõi khác, cũng xả tánh phàm phu, được tánh phàm phu của cõi khác.
Khi lìa dục, là được dứt trừ trong đạo giải thoát thứ chín.
Thế nào là ba vô vi? Trí duyên tận, không phải là trí duyên tận hư không.
Thế nào là trí duyên tận? Sức của trí tuệ hữu lậu, vô lậu, dứt trừ mọi kiết sử, được giải thoát, đó là trí duyên tận (trạch diệt).
Thế nào là không phải trí duyên tận? Nhân vị lai lẽ ra sinh lại không sinh, đó gọi là không phải trí duyên tận (phi trạch diệt).
Thế nào là hư không? Xứ Vô Sắc không có đối, không thể thấy,

* Trang 651 *
device

đó là hư không.
Nhân cùng nương, nhân tương ưng và nhân cộng hữu trước sinh tự giống nhân làm nhân cho các pháp sau chưa sinh.
Như vậy, nhân biến cũng là duyên thứ đệ, là nhân báo trong chúng sinh. Tất cả pháp hữu vi, quả của pháp hữu vi cũng chính là quả của Niết-bàn. Vì sao? Vì tất cả nhân duyên của pháp hữu vi sinh ra đạo quả Niết-bàn. Các pháp tương ưng trong một duyên cùng lúc hiện hành, cùng duyên nơi pháp tâm, tâm sở trong tướng khác không phải tự tướng, không có chỗ, không nơi chốn. Vì sao? Vì duyên theo tất cả xứ. Lúc đạo sinh ra, các kiết sử sắp diệt, cho nên, lúc đạo sắp sinh là được giải thoát, lúc đạo không diệt, sắp diệt, đạo vô ngại dứt trừ kiết sử, sắp sinh giải thoát, được giải thoát.
Ba thứ ái: Dục ái, hữu ái, bất hữu ái. Tìm cầu các sự vật, đó là dục ái. Lúc được thì tham tiếc, đó là hữu ái. Do kiến dứt trừ, mong cầu dứt trừ, đó gọi là bất hữu ái. Do tư duy dứt trừ trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, trừ trực tư, trực ngữ, trực nghiệp, trực mạng, ỷ (khinh an), xả, các pháp khác là pháp căn.
Bốn niệm chỉ, mỗi niệm chỉ đều hiện ở trước. Vì sao? Vì lần lượt duyên theo các pháp. Các pháp tương ưng với cái khác, không tương ưng với chính mình, trong duyên theo các pháp, kiết sử nên xa lìa, đó gọi là đoạn, có đoạn mà chưa lìa.
Đoạn mà chưa lìa là sao? Là được khổ trí, chưa được tập trí, do tập đế đã đoạn. Khổ đế đã đoạn. Duyên theo ba đế được hai niềm tin không hư hoại. Niềm tin không hư hoại về pháp, giới của khổ đế, tập đế, tận đế, được bốn niềm tin không hư hoại trong đạo đế. Tất cả pháp tâm sở đều hiện hành tùy theo tâm, vì cùng chung một duyên.
như vậy, giới vô giáo là sinh, trụ, lão, hư hoại, đều tùy theo tâm hiện hành.
Tất cả pháp hữu lậu nên dứt trừ. Vì sao? Vì tội cấu uế. Tất cả pháp hữu lậu, vô lậu nên nhận biết. Vì sao? Vì trí duyên nơi tất cả pháp. Các pháp quá khứ, vị lai là xa. Vì sao? Vì việc không hoàn thành. Các pháp hiện tại thì gần. Vì sao? Vì công việc hoàn tất. Vô vi cũng gần. Vì sao? Vì nhanh chóng được, vì kiến xứ của tất cả pháp hữu lậu, khi duyên nơi năm kiến thì thành tựu nhiều ít trong mười chín căn tình không hư hoại.
Có hai căn cũng lại là người kiến đế, căn không hư hoại mà chưa lìa dục. Đó gọi là mười chín. Ít nhất là tám căn dứt trừ căn thiện, dần dần qua đời, có thân căn còn lại. Cũng lại là ba việc cánh lạc (xúc) của

* Trang 652 *
device

phàm phu, ở cõi Vô Sắc, hợp tình (căn), duyên thức là năm thứ cánh lạc (xúc) này: Có đối, tăng ngữ, minh, vô minh, phi minh phi vô minh. Tương ưng với năm thức, đó là xúc có đối, tương ưng với ý thức gọi là xúc tăng ngữ. Cánh lạc (xúc) nhiễm ô, gọi là xúc vô minh. Cánh lạc vô lậu gọi là xúc minh. Cánh lạc không nhiễm ô, hữu lậu, gọi là xúc phi minh, phi vô minh.
Có hai đạo được quả:
1. Dứt trừ kiết sử.
2. Được giải thoát.
Báo của A-la-hán là tâm bát Niết-bàn, vì tất cả pháp đều buông xả.
Bốn hữu là sinh hữu, tử hữu, bản hữu và trung hữu. Mới sinh được
năm ấm, đó là sinh hữu. Năm ấm lúc chết, đó là tử hữu. Trừ năm ấm sinh tử, ở khoảng giữa là bổn hữu. Sau khi chết rồi, năm ấm đến được các cõi khác, đó gọi là Trung hữu.
Trí nhẫn của khổ đế, tập đế duyên các pháp, đó gọi là sự nhàm chán, nhàm chán duyên nơi sự vật. Các trí nhẫn trong bốn đế là lìa dục vì sắp diệt.
Ba hữu lậu: dục, hữu, vô minh. Ở cõi Dục trừ vô minh, các phiền não còn lại, gọi là dục hữu lậu. Cõi Sắc, Vô Sắc, trừ vô minh các phiền não khác, gọi là hữu hữu lậu. Si của ba cõi là vô minh hữu lậu. Tất cả các lậu này đều diệt hết, lúc ấy được dứt hết tất cả khổ, được vị cam lộ của đấng Nhất thiết trí, bậc Thánh đắc đạo tên là Cù-sa soạn.
 

* Trang 653 *
device

* Trang 654 *
device

Đại Tập 98 - Bộ Tỳ Đàm X - Số 1550 ->1557