LOGO VNBET
Giữ giới thì dễ sanh định và phát huệ (1). Tức là có giữ giới thì mới thành thánh, thành Phật được. Những người thanh tịnh, các bậc hiền nhân, thánh chúng đều trọng giới hạnh, tuân theo giới hạnh, và không hề chê bai, bài bác. Còn những kẻ mang áo thầy tu mà xưng mình sống ngoài vòng giới luật, không cần giới cấm rộn ràng, ấy là những kẻ ngu dốt, giả dối vậy thôi.
 Hạng xuất gia, tỳ-kheo, nhà sư thường được xem như là thầy của bậc cư sĩ tại gia, là vì các ngài giữ gìn đạo hạnh thanh cao, tự giải thoát ra ngoài cảnh đời. Trầm tỉnh, khoan hòa, minh mẫn, sáng suốt, các ngài là tấm gương bia cho thiện nam tín nữ. Trong sạch nhờ theo giới luật, yên ổn nhờ giữ giới luật, khoái lạc nhờ nương theo giới luật, các vị được thanh nhàn, tự tại, dứt các sự phiền não ở đời. Trong thiền môn mà có một số đông người trì trai, giữ giới cho đúng đắn, giữ gìn phong hóa cho hoàn toàn thì lo gì chẳng bảo tồn được pháp Phật đặng giúp ích cho đại chúng tăng đồ và cư sĩ tại gia!
3. Phong hóa của hạng tại gia.
Phong hóa của tại gia cư sĩ, gom vào mấy chữ này: Tam qui, Ngũ giới.
 Người tu Phật tại gia phần đông đều có chịu lễ thế độ nơi một ngôi chùa. Một hay là vài vị sư thay mặt cho giáo hội tăng già, nhận cho họ xưng: Qui y Phật! Qui y Pháp! Qui y Tăng! Vị thầy truyền giới tùy theo nhận xét mà trao giới cho, hoặc một, hai, ba, bốn giới, hay năm
____________________
(1) Nhân giới sanh định, nhân định phát huệ.

* Trang 36 *
device

giới, nhưng thường là năm giới. Năm giới là: 1. Không sát sanh, 2. Không trộm cắp 3. Không tà dâm (1), 4. Không nói dối 5. Không uống rượu. Vị thầy truyền giới cũng sẽ đặt cho đệ tử một cái tên đạo, gọi là pháp danh. Từ hôm ấy, người thọ giới phải trọn đời gởi mình vào đức cả từ bi của Phật; nương mình nơi đạo pháp quảng đại, từ bi, hỷ xả của Phật; và trao mình vào giáo hội Tăng già cao thượng mà Phật đã lập ra.
 Lại có nhiều người, tuy không làm lễ thế độ với một nhà sư, mà cũng cầm bằng có qui y thọ giới. Ấy là những người lập tâm phát nguyện với đức A-di-đà. Đến ngày lành, họ lập bàn thờ Phật A-di-đà, thành tâm mà khấn nguyện với đức A-di-đà, cầu ngài chứng minh cho họ phát nguyện qui y. Kể từ ngày ấy, họ được nhập vào hàng đệ tử Phật, họ trì trai giữ giới và niệm đức A-di-đà. Nếu họ tinh tấn mà tu hành, đến ngày lâm chung họ cũng sẽ được về Phật quốc theo chí hướng của họ. Dưới đây là mười ngày trong năm có thể làm lễ phát nguyện tu trì theo tông Tịnh độ. (2)
 Tháng giêng, ngày mồng một, lúc tảng sáng.
 Tháng hai, ngày mồng chín, lúc năm giờ sáng.
 Tháng ba, ngày mồng bảy, lúc mười giờ tối.
_____________________
(1) Khác với giới của hàng xuất gia là dứt hẳn việc dâm dục, người tại gia giữ giới không tà dâm, nghĩa là không làm việc dâm dục với người không phải là vợ hoặc chồng mình.
(2) Tông Tịnh độ: Tông phái Phật giáo chủ trương tu trì bằng vào việc niệm Phật cầu vãng sanh tịnh độ, tức là về cõi Phật của đức Phật A-di-đà.

* Trang 37 *
device

 Tháng tư, ngày mồng tám, lúc chín giờ rưỡi tối.
 Tháng năm, ngày mồng ba, lúc mặt trời lặn.
 Tháng sáu, ngày mồng bảy, lúc mười giờ rưỡi tối.
 Tháng bảy, ngày mồng tám, lúc giữa trưa.
 Tháng chín, ngày mồng chín, lúc giữa trưa.
 Tháng mười, ngày mồng một, lúc giữa trưa.
 Tháng mười một, ngày mười bảy, vía A-di-đà, suốt ngày.
 Tháng chạp, ngày mồng ba, lúc mặt trời lặn.
 Những ngày giờ ấy, kẻ chưa phát nguyện thì phát nguyện rất phải lúc, vì thế nào cũng được chư Phật chứng minh.
 Làm lễ đức Phật A-di-đà, đứng về hướng Đông mà lạy về hướng Tây (1), tượng ngài để về hướng Tây. Sau khi ấy, mình trở nên người tu tại gia, cư sĩ.
 Cả đời, bao giờ người cư sĩ cũng nhớ công đức Phật, kính trọng, ngưỡng mộ Phật, tự phó thác mình vào sự cứu vớt của Phật, nghĩ rằng lúc nào sức Phật cũng bao bọc, gia hộ cho mình. Ấy là qui y Phật.
 Trọn cả đời, siêng năng học pháp Phật, đọc, tụng kinh điển, suy nghĩ cho thấu đáo và ăn ở theo giáo pháp của Phật. Ấy là qui y Pháp.
 Trọn cả đời, ghi nhớ công đức của các vị cao tăng, thường thăm viếng những vị xuất gia có đức hạnh, tưởng đến chư thánh, chư đại đệ tử của Phật, tu tập theo các vị
______________________
(1) Sở dĩ như vậy là theo trong kinh A-di-đà, cõi Phật của ngài nằm về phương Tây.

* Trang 38 *
device

đức độ trong giáo hội thanh tịnh, cao cả của Phật. Ấy là qui y Tăng.
 Niệm tưởng đức Phật A-di-đà, nhớ ơn đức Phật Thích-ca, không quên ngôi Tam bảo (1) tức là thọ trì Tam quy y vậy.
 Kẻ tại gia thường thường giữ năm giới, có sự châm chế cho phù hợp với đa số mọi người. Chẳng hạn như giới thứ ba cấm tà dâm, chứ không cấm sự chung chạ của vợ chồng. Cư gia có người nguyện giữ tám giới trọn đời. Tám giới là năm giới, cọng thêm vào ba giới nữa: 1. Không dùng các loại hương hoa, phấn sáp mà trang điểm 2. Không xem các loại ca, vũ, nhạc, kịch 3. Không ngồi, nằm trên giường ghế cao, rộng và phải ăn chay đúng ngọ. Lại có người tinh tấn mà giữ luôn mười giới theo hạng xuất gia sa-di và trì tuyệt dục.
 Kẻ qui y giữ giới thường trì trai, như vậy cho tiện bề niệm Phật. Tùy theo sức, trong tháng họ ăn chay một ngày, hai ngày, bốn ngày, sáu ngày, mười ngày, hay ăn thường xuyên luôn. Những người ăn luôn, trường trai càng tốt. Muốn vừa với sức khỏe, nên nguyện dùng chay lần hồi, từ một ngày, hai ngày, bốn ngày, sáu ngày mà tăng dần lên. Song dầu cho ăn trường hay ăn kỳ, về những ngày ăn chay, nên niệm nhớ công đức của Phật, giữ giới lành cho trọn vẹn và lấy lòng từ bi hỷ xả mà đối đãi với chúng sanh. Chẳng chờ đến ngày chay, mà ngày thường, mình cũng nên niệm Phật và cư xử hiền lành với
_____________________
(1) Tam bảo: Phật. Pháp, Tăng.

* Trang 39 *
device

mọi người và mọi vật. Kẻ thiện nam tín nữ bao giờ cũng ăn ở cho hiền hòa, thuận thảo. Cái thân cho trong sạch, lời nói cho chính đính, cái ý cho thanh bai, cố giữ như vậy thì tạo ra được mười nghiệp lành về thân, miệng, ý:
 1. Không sát sanh hại mạng; cần phải phóng sanh, cứu người.
 2. Không trộm cắp; cần phải bố thí.
 3. Không tà dâm; cần phải cung kính.
         (Ba nghiệp trên đây là về thân)
 4. Không nói dối; cần phải nói thật.
 5. Không nói sai lệch, dua nịnh, tục tĩu, nhơ nhớp; cần phải nói lời có nghĩa lý, hữu ích.
 6. Không nói lời ác độc, thóa mạ, chửi mắng người khác; cần phải nói lời êm ái, dịu dàng.
 7. Không nói hai lưỡi, nói đâm thọc hai đầu để gây chia rẽ, thêm bớt không chừng; cần phải nói sự hòa hiệp.
           (Bốn nghiệp trên đây là về miệng)
 8. Không tham muốn trái lẽ; phải tưởng sự bất tịnh, sáu trần đều chẳng sạch.
 9. Không sân hận; phải tưởng sự từ bi, ở cho nhẫn nhục.
 10. Không si mê, tin bậy; phải có lòng chánh tín, qui y chánh pháp.
                                          (Ba nghiệp trên đây là về ý)

* Trang 40 *
device

 
Đạo Lý Nhà Phật