LOGO VNBET
Chứng Minh Về Luân Hồi
 
Ba mươi hai năm trước, có một Y Sĩ người Đức-Do Thái tên là Woff, cùng đi với Y Sĩ Văn đến nói chuyện với tôi, nói là muốn nghiên cứu về Phật học. Tôi nói là lầu cao mười trượng phải xây cất từ nền móng. Phật pháp cao sâu và hoằng đại, cần phải bắt đầu nói từ Lục Đạo luân hồi. Ông Woff nói là tôi đã tin ở lý thuyết luân hồi. Tôi hỏi tại sao, thì ông Woff kể là mấy năm về trước ở bên Đức có người đàn bà có thể nói được một thứ tiếng mà không ai hiểu được. Sau này do một vị giáo sư đại học chuyên nghiên cứu về văn tự đời cổ đến nghiên cứu, mới biết người đàn bà này dùng văn tự của người dân tộc Aramaisch. Văn tự này đã mất đi hơn ngàn năm, nhưng thơ tịch vẫn còn có người tàng trữ được. Người đàn bà này chưa có trình độ giáo dục cao đẳng, tự nhiên lại biết nói thứ tiếng này, nên cho rằng Bà ấy là người của dân tộc này tái sinh, nên mới có thể nhớ lại ngôn ngữ sinh tiền. Đó là một chứng minh của sự luân hồi. Lúc đó tôi nhớ ông Woff viết cho tôi chữ Aramaisch để ghi vào sổ tay. Năm ngoái ông Woff đã qua đời nhưng bút tích của ông đến nay vẫn

* Trang 185 *
device

còn tồn tại. Để căn cứ vào lý luận của tôi, bác sĩ Hồ Tuyên Minh thường nói với tôi rằng, ở bên Mỹ có người bệnh nhân bị đánh thuốc mê, nằm trong một bệnh viện nọ, lúc hôm mê bỗng nói tiếng La Tinh. Khi tỉnh lại hỏi y thì y không hiểu gì cả, vì y chưa học tiếng La Tinh bao giờ. Các nhà tâm lý học giải thích rằng đó là tác dụng của tiềm thức. Nhưng tiềm thức này vì đâu mà có, nếu chẳng phải từ kiếp trước đã biết ngôn ngữ này, là linh hồn chuyển thế. Và tiềm thức nầy từ đâu sanh?
Nhà tâm lý học cũng không thể quả quyết suy đoán được. Nhưng Phật pháp có nói ai cũng có Tàng Thức. Lại có tên gọi là Thức Thứ Tám. Tức là người đời từ trước đến nay bị tiêm nhiễm tập khí, trong tình thức ẩn tàng. Phàm người có những trí, ngu, dại hay khôn ngoan, không thể đều đặn được. Tất cả đều là do từ kiếp trước ẩn tàng đến kiếp này mới lộ ra. Đó là sự giải thích hợp lý của tiềm ý thức. Ở Ba Tây có một đứa trẻ nhà nghèo, năm mười hai tuổi tự nhiên biết một thứ tiếng không ai biết, lại có thể dịch ra tiếng Bồ Đào Nha, văn phạm rất đúng. Đứa trẻ này từ xưa đến nay chưa học văn Bồ Đào Nha. Các nhà tâm lý học Ba Tây cố tìm hiểu, nhưng không thể nào giải thích, chỉ có thể cho rằng: “Trí thức của kiếp trước đem tới.”
Mấy năm gần đây học giả Âu Mỹ đối với Phật giáo càng ngày càng thêm tin tưởng. Thuyết luân hồi của Phật giáo vấn đề này trở thành đối tượng để nghiên cứu. Các nhà tâm linh học Ban Nha có tổ chức Quốc

* Trang 186 *
device

Tế Luân Hồi Ủy Viên Hội, mùa Hạ năm 1935 phát khởi sưu tầm chứng cớ sự thực về luân hồi của Phật giáo. Đặc San Phật giáo ở Anh Quốc cũng có luận văn bàn về sự việc này. Nội dung bài luận trích lục như sau: “Chứng cớ về sự luân hồi, đã sớm có được nhiều chuyện thật tồn tại, nhưng không biết có thể phủ định sự nhận thức kia về “việc quyết định” chăng ? Thí dụ như đã từng có nhiều đứa trẻ có thể nói về việc kiếp trước. Sau khi điều tra, đã chứng minh là xác thực. Lại có những nhà thôi miên, đã làm được kẻ bị thôi miên nhớ lại chuyện kiếp trước. Có thể chứng thực là họ nói lại được ngôn ngữ kiếp trước. Thử hỏi những sự thật như vậy, có được cho là chứng cớ quyết định chưa? Haman, là một Bác Sĩ người Đức cũng có bản văn như sau: Mọi lý luận và chứng minh về mọi phương diện, chứng minh về thuyết luân hồi đã tường tận ghi trong các sách viết về luân hồi, đã nói rõ.
Sự thực về những chuyện chứng minh của kiếp trước, sách vở cổ truyền của nước ta, Trung Quốc cũng đã nói đến nhiều. Cũng như những chuyện kể về việc mượn xác hoàn hồn cũng thường có, và những chính sử cũng thường viết đến. Khiến cho những chuyện xảy ra tranh cãi kiện tụng giữa hai gia đình cũng không ít. Những quan lại xét xử thì chỉ chú trọng theo hình dáng chứ không theo linh hồn, để tránh những tệ đoan gian xảo.
Ông cư sĩ Đinh Trọng Cổ có viết Lục Đạo Luân Hồi Lục, là tuyển lục trong các sách cổ truyền, có nói

* Trang 187 *
device

rõ về sự luân hồi, có cả vài trăm vụ, được trích trong các sách, có nói rõ tên sách và tác giả. Những người không tin có quỷ thần thì cho rằng đó là do những nhà tin Tôn Giáo, muốn khuyên người đời làm việc thiện mà đặt ra những chuyện thần thoại như vậy. Nhưng những chính sử xưa nay ghi ra theo bản án kỷ lục của các pháp đình, chứ không phải do các nhà Tôn Giáo bịa đặt ra những chuyện thần thoại như vậy. Năm Dân Quốc thứ 4 (1915) ở tỉnh Sơn Đông, có người con của một nhà nông chết đi một ngày sau sống lại, không biết nói tiếng Hoa, tự viết ra tên họ nói mình là người Giao Châu Phủ bên Việt Nam, nhân có người cùng chết một ngày nên mượn xác sống lại. Chuyện này do Tỉnh Trưởng Thái Nho Giai thân hành đến khám xét và cảnh sát trưởng Mai Quang Hy thuật lại bản án này. Các báo chí Thượng Hải cũng có đăng tin này.
Từ xưa đến nay, ghi chép những chuyện như trên đều là do các nhà bác học nho sĩ ghi lại. Họ đều là những người học rộng mà không tin Phật giáo. Thí dụ như đời nhà Thanh, có Vương Ngư Dương, Viên Tử Tài, Kỷ Nhiêu Lam, Dư Khúc Viên, đều là những thành phần học rộng cả, chứ không phải Phật giáo đồ, mà là người ghi chép những sự việc kể trên. Mỗi người đều ghi chép mấy chuyện. Từ đời nhà Minh đến đời nhà Thanh có Thôi Sùng Trình, đặt ra luật rằng nếu học giả nào nghiên cứu văn tự Phật pháp thì khi chết đi không được đặt vào Khổng Miếu để tế lễ, cho nên các nhà nho đời nhà Thanh phỉ báng Phật học, nhưng trong các bút ký của họ ghi chép sự thực về quỷ thần, luân

* Trang 188 *
device

hồi, quả báo lại nhiều như vậy, thì đủ biết rằng sự thực chính xác. Trong  lương tâm không cho phép họ làm mai một đi việc ghi chép những sự thực này. Đời nhà Tống các nho sĩ ưa mạt sát sự thực, bất quá đó chỉ là thành kiến chủ quan của riêng họ mà thôi. Nếu nói về học thuật, như Âu Dương Tu, tu chỉnh cuốn Tân Đường Thi. Những câu nói đến sự thực về quỷ thần, nhân quả ghi trong cuốn Cựu Đường Thi đã bị xóa đi trên 2000 điều, đó là một chứng minh vậy. Bỏ khách quan mà tin ở chủ quan rồi kết luận một cách độc đoán. Cho nên hơn 100 năm nay, học thuật suy thoái, văn hóa trụy lạc, nguyên do chủ yếu là như vậy.
 

* Trang 189 *
device

 
Địa Tạng Bồ Tát Bản Tích Linh Cảm Lục