LOGO VNBET
CHIÊM BÁI PHẬT TÍCH TẠI ẤN ĐỘ*


Ngày 20 tháng 11, tôi từ Rangoon, kinh đô Miến Điện đáp tàu thủy đến Ấn Độ để đi chiêm bái các Phật tích ở xứ Ấn cùng khảo sát Phật giáo. Tại Calcutta, tôi được gặp Thầy Thích Quảng Độ, một Tăng sĩ Việt Nam, người Bắc, trước kia cũng đến Tích Lan với chúng tôi, và hai chúng tôi cùng sửa soạn đi chiêm bái. Chúng tôi ở Calcutta gần hai tuần tại Hội Quán Hội Maha Bồ Đề, lo mua vé tàu loại du lịch, cùng mua các thức ăn cần thiết, vì chúng tôi ăn chay và không quen với thức ăn Ấn Độ cho lắm, nên nghĩ cũng phải sắp đặt đôi chút, để cuộc hành trình được dễ dàng, và không tổn hại sức khỏe lắm. Chúng tôi cũng đã thỉnh các sách vở cần thiết, cùng các bóng chụp kỷ niệm để được nhiều tài liệu khảo sát.
Đến ngày mồng 2 tháng 11, chúng tôi mới mua được vé tàu sau gần một tuần chờ đợi, vé tàu chỉ rõ hành trình chúng tôi sẽ đi, dài tất cả là 3.604 dặm Anh, khoảng 5.799 cây số qua các chỗ Howrah - Gaya, Bukhtiarpur – Banaras – Cantt - Gorakhpur,



* (Liên Hoa, xb 1956).

* Trang 259 *
device

Nautanwa – Lucknom - Agra Cantt - Delhi, Sanchi -Jalgaon, Auran – Gabad – Bombay - V.T. Wardha –Nagpour - Howrah. Giá tiền tàu hạng nhì, mỗi người chỉ tốn 135 Rs một ans và 6pice. Mua được vé, chúng tôi liền về sắp đặt hành lý, gồm chỉ có một bọc đệm đựng đồ nằm ngủ cùng áo quần cần thiết, một bị vải đựng các sách vở, giấy tờ cần dùng và một giỏ đựng thức ăn cùng chiếc đèn cồn nhỏ. Trước khi đi, chúng tôi được vị Trú Trì tại Hội quán Maha Bồ Đề
viết danh thiếp giới thiệu trước các chỗ chúng tôi sẽ đến.
Đúng 8 giờ 45 tối, chúng tôi đáp chiếc tàu suốt đi Gaya, vào ngày 2-11-1955, được hiểu đôi chút cách thức đi tàu ở Ấn Độ, chúng tôi được một chỗ nằm khá tử tế. Tàu hạng nhì ở Ấn Độ không lấy gì làm sang, chỉ được đỡ khỏi chen như ở hạng ba thôi. Nhìn đến hành khách hạng ba tranh giành cho được một chỗ trên tàu cũng phải khiếp. Đến ga Howrah, chúng tôi mới thấy rõ công trình mở mang của người Anh đối với Ấn Độ, một nhà ga không khác một thành phố nhỏ, đủ tất cả vật dụng cần thiết cho hành khách và so sánh lại với ga Huế hay ga Sài gòn, thật thấy rõ chính sách cai trị của người Pháp khác xa người Anh. Chúng tôi chỉ ngồi nhìn sóng người hành khách đi đi lại lại mua vé, lên xuống toa cũng đủ

* Trang 260 *
device

chóng mặt và được hiểu đôi chút về dân số Ấn Độ ông như thế nào. 8 giờ 45, tàu bắt đầu chạy và 6 giờ sáng ngày 3-11, chúng tôi đến Gaya. Sau khi đến Hội quán Bồ Đề Gaya nghỉ độ 15 phút, chúng tôi thuê xe đi ngay Buddhagaya, cách Gaya độ 7 dặm Anh. Đúng 7 giờ rưỡi, chúng tôi thấy ngọn tháp báo hiệu cho biết chúng tôi đã đến Bồ Đề Đạo Tràng, chỗ Đức Phật Thành Đạo cách đây khoảng 2.500 năm.
 
*
BUDDHAGAYA: BỒ ĐỀ ĐẠO TRÀNG

Chúng tôi liền đến Lữ điếm (Rest house) của Hội Maha Bồ Đề, được gặp vị Bhramacara Prosad, giữ chức Quản Đốc Hội đồng Bảo vệ Bồ Đề Đạo Tràng, đón tiếp và sắp đặt chúng tôi ở lại Resthouse Tây Tạng, vì hiện chỗ của Hội không có phòng rảnh.
Đúng 8 giờ 30, chúng tôi đến chiêm bái tại Bồ Đề Đạo Tràng dưới sự chỉ dẫn của vị Quản Đốc, và dưới đây là những thánh tích chúng tôi được xem và nhận xét tại Bồ Đề Đạo Tràng và xung quanh đây. Có tất cả là 9 thánh tích đáng chú ý: 1. Chùa Bồ Đề Đạo Tràng; 2. Cây Bồ Đề; 3. Vajrasana, Kim cương tọa, chỗ Đức Phật ngồi thành đạo; 4. 7 chỗ Đức Phật đến trầm tưởng trong 7 tuần sau khi Ngài thành đạo;

* Trang 261 *
device















































































































5. Sông Neranjara – Ni Liên Thuyền; 6. Nhà của Sujata; 7. Khổ hạnh lâm, chỗ Thái tử tu khổ hạnh;
8. Chùa Trung Hoa; 9. Chùa Tây Tạng.

1. Maha Bodhi temple: Chùa Bồ Đề Đạo Tràng.


Ngôi chùa này được xem là do vua Asoka (A Dục) lập lên và do các Phật tử sau này sửa chữa mở rộng thêm. Chính ngôi chùa này được ngài Huyền Trang thấy khi ngài đến viếng An Độ vào khoảng thế kỷ thứ 7, sau kỷ nguyên. Ngôi chùa có kiến trúc hết sức đặc biệt và nhiều ngôi chùa về sau dựng lên đều theo một kiểu này, như ngôi chùa Pagan ở Miến Điện, ngôi chùa Nhật Bản ở Bombay, hay ngôi chùa của Hội Maha Bồ Đề ở Newdelhi. Nền chùa hình vuông, càng lên cao càng nhỏ dần, gần đến ngọn thì trở thành hình tròn. Tại bốn góc, có bốn ngọn tháp tương tự, khiến cho cả ngôi chùa được cân đối rất mỹ thuật. Chúng tôi vào chùa lễ Phật. Tôi nguyện hồi hướng tất cả công đức lễ bái cho toàn thể Phật tử Việt Nam; nhớ nghĩ lại đời sống của Đức Phật, những năm chuyên tu khổ hạnh, 49 ngày ngồi tu thuyền định dưới cây Bồ Đề, chính tại chỗ mà chúng tôi đang chiêm bái. Chúng tôi nghĩ nhiều đến Phật tử Việt Nam, lòng tin tưởng chân thành của những Phật tử quen biết. Bức tượng Phật được các Phật tử Tây Tạng






 

* Trang 262 *
device

thếp vàng nên nhìn không rõ nét khắc. Điện Phật không được rộng lắm, ánh sáng chỉ có thể do cửa chính chiếu vào, đèn không sáng lắm. Lễ Phật xong, chúng tôi leo lên tầng trên, đi vòng xung quanh ngọn tháp chính và nhìn xuống thấy cảnh vật xung quanh rất an tịnh và đẹp mắt. Tại hai ngọn tháp nhỏ về phía Tây, có tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát và tại thang cấp lên xuống, có hai tượng Phật khá lớn, dưới ngọn tháp chính có thờ tượng một vị Bồ Tát khá lớn và chính tại chỗ này mà Ngài Dharmapala định đặt một pho tượng Phật Nhật Bản để thờ và bị người Ấn Độ giáo quăng xuống đất. Ngôi chùa bề cao 170 Feet khoảng 51 thước 680 và nền rộng độ 48 Feet vuông, khoảng gần 15 thước vuông thì phải, tường tháp có nhiều khám tượng thờ Đức Phật hay các vị Bồ Tát chứng tỏ ảnh hưởng Đại Thừa Phật Giáo.

2. Cây Bồ Đề

Cây Bồ Đề là chỗ Đức Phật ngồi thành đạo và chỗ chính của các Phật tử khắp mười phương đến lễ bái. Cây mọc về phía Tây ngôi chùa, độ 100 Feet cao, khoảng 30 thước. Tương truyền, cây mọc cùng một lần Đức Phật đản sanh, và sống trải qua nhiều thế kỷ để các Phật tử đến chiêm bái. Ngài Pháp Hiển, trong tập ký sự có chép:

* Trang 263 *
device

“Vua A Dục thường đến viếng cây Bồ Đề để tự sám hối các lỗi lầm và nguyện trau dồi đức tánh. Bà Hoàng Hậu thấy Vua hay đến chiêm bái cây Bồ Đề, không chịu ở luôn trong cung cấm, sai người đến chặt cây ấy xuống. Khi Vua về thấy vậy, đau đớn quá đến ngã xuống bất tỉnh. Sau Ngài sai xây một bức tường xung quanh rễ cây, dùng sữa bò để tưới và Ngài nằm phục xuống đất, nguyện không đứng dậy nếu cây Bồ Đề không sống lại. Phát nguyện xong, cây Bồ Đề bỗng mọc lên lại và từ đó cho đến nay, cây ấy cao lớn đến 10 trượng. Cây Bồ Đề lại bị một vị Vua An Độ tên Sasanka bảo người chặt và phá gãy nát, nhưng may thay, rồi cũng có một cây Bồ Đề mọc lên lại. Đến năm 1870, khi ông Cunningham bắt đầu sửa chữa lại ngôi chùa, cây Bồ Đề cũ ngã xuống và ông cho trồng lại một nhánh khác để các Phật tử đến chiêm bái”.
Vua A Dục có cho dựng một lan can bằng đá bao vòng cây ấy. Lan can chạm khắc rất mỹ thuật. Vị Vua ấy cũng thường hay đến thăm cây Bồ Đề, và tại Sanchi, có bản đá khắc Vua A Dục đến chiêm bái cây Bồ Đề. Vị Công Chúa con Vua A Dục, cô Sanghamita có đem một nhánh Bồ Đề trồng tại Amradhapura, Tích Lan, cây ấy nay hiện sống sau gần 2.000 năm và được xem là cây xưa nhất thế giới!

* Trang 264 *
device

Khi tôi còn ở Tích Lan, cũng có đến chiêm bái cây ấy. Tôi có nói chuyện với vị Quản Đốc để xin thỉnh năm nhánh Bồ Đề đem về trồng tại các chùa Việt Nam. Vị ấy rất hoan hỷ, và dặn tôi lúc nào về sẽ ghé lại Buddhagaya, ông ta sẽ biếu năm cây đem về trồng tại Việt Nam.

3. Vajrasana: Kim Cang Bảo tọa.

Sau khi tu khổ hạnh 6 năm tại Uruvela, Đức Phật nhận thấy tu khổ hạnh không giúp Ngài thành đạo, Ngài liền nhận bát sữa do nàng Sujata dâng cúng. Rồi ngay đêm ấy, Ngài đến dưới cây Bồ Đề trải nắm cỏ của Sott Hiya cho Ngài trên Kim-cang-tọa, và phát nguyện sẽ không rời Bồ Đề này, nếu không thành đạo chứng quả chánh giác. Cũng chính tại cây Bồ Đề này, mà Ma vương đến giành chỗ ngồi của Đức Phật, luôn luôn bị thất bại, không làm Đức Phật thối chí bỏ đại nguyện thành đạo. Ma vương liền đến bảo Đức Phật phải trả chỗ ngồi cho Ma vương. Đức Phật không chịu, vì chúng sanh Ngài trải qua nhiều đời tu hành hạnh bố thí, hy sinh cả thân mạng để cứu độ chúng sanh, vì vậy chỗ này thuộc quyền sở hữu của Ngài. Ma vương bảo Ngài đem người làm chứng. Đức Phật khi ấy không có ai một bên Ngài, liền chỉ xuống đất và nói: “Quả đất là người làm chứng cho Ta”. Liền khi ấy, quả đất rung

* Trang 265 *
device

chuyển, và Ma vương hoảng hốt bỏ chạy. Hiện tại chỗ Kim Cang Tọa chỉ là một tảng đá chạm, đo 2 thước rưỡi bề dài, một thước rưỡi bề rộng và độ 8 tấc cao. Kim Cang Tọa này đặt giữa cây Bồ Đề và ngôi chùa chính.

4. Bảy chỗ Đức Phật đến trầm tưởng, trong bảy tuần sau khi Ngài thành đạo.

a. Cây Bồ Đề: Tuần đầu, Ngài ngồi dưới cây Bồ Đề.
b. Tháp Nimisalocana: Dựng lên tại chỗ Đức Phật sau khi thành đạo. Ngài đứng nhìn cây Bồ Đề để tỏ lòng biết ơn cây này đã che chở Ngài tu hành chánh quả. Ngọn tháp này bằng gạch, khắc chạm mỹ thuật và cũng được Chánh phủ sửa sang lại, móng vuông bề cao độ 15 thước, có điện thờ tượng một vị Bồ Tát. Khi chúng tôi đến ngọn tháp này, có một vị sư người Tích Lan đã già đang ngồi tụng kinh. Vị này đến tại đây hơn một năm và chiều nào cũng ra ngồi tại chỗ ấy tụng kinh. Tiếng tụng run run, lúc cao lúc thấp, tùy theo âm vận chữ Pàli, cùng với cảnh an tịnh của ngọn tháp, tăng thêm vẻ thiêng liêng huyền bí.
c. Cankamana: Đường kinh hành. Đức Phật đi kinh hành tại chỗ này, trong 7 ngày. Hiện nay là một

* Trang 266 *
device

đá cao độ 1 thước, dài độ 18 thước. Trên bệ lúc xưa có hai dãy cột đá hai bên, che cao thành như nóc nhà, nay bị đổ nát gần hết, chỉ còn một cột đá thôi, trên cột đá có khắc tượng hình người.
d. Ratanaghara: Tại chỗ này, Đức Phật ngồi thuyền định trong 7 ngày và tụng đọc Kinh Samanta Patthana. Khi Ngài ngồi tại chỗ này, thân Ngài chiếu sắc xanh, vàng, đỏ, trắng, v.v… và cuối cùng mấy màu sắc này chung hợp thành một. Cờ Phật giáo làm dựa theo những màu sắc này. Hiện nay Ratanaghara chỉ là một phòng thờ nhỏ về phía Bắc ngôi tháp chính. Phòng xây bằng gạch, xung quanh có nhiều tháp thờ chạm khá đẹp, nay chỉ còn thấy bốn bức tường mà thôi.
e. Rajayatana: Chỗ này chỉ chỗ Đức Phật đến vào tuần thứ bảy, sau khi Ngài thành đạo, hiện tại, chưa biết thuộc chỗ nào, Đức Phật được xem là ngồi trên một thạch tọa. Thạch tọa này tự nhiên ở dưới đất dựng lên để Đức Phật đứng.
f. Ajapala Nigrodha: Chính dưới cây này, Đức Phật nhận bát sữa do Sujata dâng cúng và cũng dưới cây này vào tuần thứ năm, sau khi Đức Phật thành đạo Ngài đến tại cây này. Xưa kia có một ngôi tháp dựng lên để kỷ niệm, nhưng nay không còn nữa, hiện

* Trang 267 *
device

chỗ này chưa biết chắc tại nơi nào. Chúng tôi được đưa đến một cây, chắc về loại Nigrodha, gần giống những cây bàng của xứ ta, nhưng không được rậm lắm, gần một bên sông Ni Liên Thuyền.
g. Mucalinda: Theo dân trong làng thì hồ Mucalinda độ một dặm Anh về phía Nam ngôi tháp chính. Chính tại chỗ này, Đức Phật ngồi thuyền định tuần thứ sáu, sau khi Ngài thành đạo. Khi Ngài ngồi thuyền định, một cơn giông tố nổi lên, và sợ Đức Phật bị ướt, một con rắn thần tên là Mucalinda từ dưới hang bò lên để che Đức Phật như lọng che khỏi mưa gió. Gần một bên hồ này, có một đống gạch bỏ ngỗn ngang, chắc trước kia có một ngôi tháp dựng lên để kỷ niệm. Ngài Huyền Trang khi đến xem hồ này có viết: “Nước hồ Mucalinda xanh biếc. Uống nước thấy mát ngọt vô cùng, phía Tây hồ có một tháp nhỏ, có thờ tượng Phật trong ấy”.

5. Sông Neranjara: Sông Ni Liên Thuyền.

5 giờ sáng ngày mồng 4-11, chúng tôi thuê một chiếc xe ngựa cùng với vị sư GhosÀnanda, một vị sư Cao Mên nhưng nói tiếng Việt rất thạo, chúng tôi được gặp ở chùa Tây Tạng, cũng đến viếng Bồ Đề Đạo Tràng như chúng tôi. Chúng tôi cũng thuê một người chỉ đường. Độ 6 giờ, chúng tôi xuống xe đi bộ,

* Trang 268 *
device

băng qua một vài đống cát khá rộng và đến sông Ni Liên Thuyền. Sông này gọi là Lilahan, không rộng lắm và suốt năm rất ít nước, chỉ trừ về mùa mưa, còn các mùa khác, nhất là về mùa hạ, chỉ thấy toàn cát với một giòng nước rất nhỏ, lội rất dễ dàng. Chính tại sông này, Đức Phật tắm và sau khi dùng sữa xong, Ngài quăng bát sữa xuống dòng sông và nói rằng: Nếu Ngài sẽ thành Phật thì chiếc bát này sẽ trôi ngược dòng và chìm xuống cùng một chỗ với những bát của các Đức Phật quá khứ. Lời nói của Ngài được chiếc bát chứng thật và Ngài hiểu Ngài sẽ thành đạo chứng quả chánh giác. Gần một bên sông này có một đám cây khá rậm, được xem là cây Ajapala Nigrodha, chỗ nàng Sujata dâng bát sữa cúng Phật.

6. Sujatakuti: Nhà của Sujata.

Độ một dặm Anh ngang sông Ni Liên Thuyền, có một đồi nhỏ mọc đầy cây cỏ dại và được xem là nhà ở của Sujata. Lại có người xem đó là chỗ của cây Ajapala. Không thể xem thuyết nào là phải, nhưng nhìn kỹ chỗ ấy thì thấy như là một ngọn tháp cũ, nay bị hoang tàn, có lẽ dựng lên để kỷ niệm. Rất có thể là một ngọn tháp cũ hơn là một nhà tư, phải chờ dẫn dắt lên xem mới có thể chắc chắn thuyết nào trúng.

* Trang 269 *
device

7. Khổ hạnh lâm.

Chúng tôi đi bộ một khoảng khá xa, qua nhiều con sông nhỏ, làng mạc và đồng ruộng, mới đến một ngọn núi toàn đá. Leo lên ngọn núi ấy, chúng tôi đến một hang đá nhỏ. Đó là chỗ được xem là hang tu hành của Đức Phật trong sáu năm. Hang không gì làm to, đục sâu trong núi, nền bằng xi-măng, có lẽ được sửa chữa lại sau này, có tượng thờ Đức Quán Thế Âm và một tượng thần Ấn Độ. Chúng tôi làm lễ xong, ra ngồi nói chuyện với hai vị Lạt Ma Tây Tạng. Hai vị nói đã ở tại động ấy ba năm, sống nhờ sự cúng dường của tín đồ hoặc của dân trong làng. Chúng tôi không hiểu tiếng nhau, nhưng chỉ ngồi ngó nhau cười cũng như đã hiểu nhau nhiều lắm. Giữa đường chúng tôi có mua một ít bắp rang, vì buổi sáng đi quá sớm không kịp ăn sáng, chúng tôi đem ra mời nhau ăn cùng uống nước lã, bập bẹ nói chuyện cùng nhau, chữ được chữ mất. Đến đây tôi nhớ lại một câu trong bài kinh: Sáu năm khổ hạnh Tuyết Sơn. Có lẽ lầm tưởng Ngài tu khổ hạnh ở dãy Hy Mã Lạp Sơn, vì ở đây nhứt định không có tuyết rồi. Sau khi ngồi nghỉ độ nửa giờ, chúng tôi từ giã hai vị sư Tây Tạng, đi bộ về lại chỗ xe ngựa đậu và lên xe về khoảng 10 giờ 30 mới về lại Buddhagaya. Trưa đó, chúng tôi đến tại chùa Trung Hoa dùng cơm.

* Trang 270 *
device

8. Chùa Trung Hoa.

Sau lưng Hội quán Maha Bồ Đề, có một ngôi chùa Trung Hoa tên là Trung Hoa Đại Giác Tự, khá đẹp và rộng lớn. Chỉ có một Ni cô đã già ra đón tiếp chúng tôi. Chúng tôi dùng tiếng Bắc Kinh nói chuyện với nhau, chữ được chữ mất, nhưng cũng có thể hiểu nhau, vì Ni cô dặn chúng tôi sau này có đến phải ở tại chùa Trung Hoa, khỏi phải tốn kém gì. Chúng tôi cũng được gặp hai vị sư Trung Hoa, hiện ở tại chùa Tây Tạng, hai vị này có đến thăm chúng tôi và nói chuyện nhiều. Chúng tôi được tặng nhiều tấm ảnh rất quý, một bó lá cây Bồ Đề màu vàng. Vị ấy tặng một vài kinh sách tiếng Trung Hoa, nhưng chúng tôi không thể nhận vì sợ nặng không thể đem đi được. Rất tiếc những đồ tặng này bỏ trong một bị vải đã bị thất lạc khi chúng tôi đáp tàu từ Gorakhupur đi Anga.

9. Chùa Tây Tạng.

Bên cạnh Hội Maha Bồ Đề là chùa Tây Tạng, rất lớn, hai tầng và có dành riêng một toà nhà cho khách thập phương đến ở, chỉ phải trả độ vài Anhan tiền điện thoại, còn phòng ở khỏi phải trả tiền. Chúng tôi cũng muốn lên hầu chuyện với vị Trú trì chùa, nhưng tiếc vị ấy đi vắng. Chúng tôi định sau này đến lại sẽ có dịp nói chuyện nhiều hơn.

* Trang 271 *
device

10. Ngoài chùa Tây Tạng, cũng có một ngôi chùa Miến Điện. Hiện nay, Thái Lan và Cao Mên đã mua được một miếng đất cũng định để cất chùa Thái và Cao Mên. Tôi được vị Quản Đốc gợi ý cho Phật tử Việt Nam một đám đất để cất chùa Việt Nam. Nhưng nghĩ đến tình hình ở nhà, chúng tôi thật tiếc không dám đả động thêm nhiều về vấn đề này. Tuy vậy, vị Quản Đốc hứa rằng khi nào cần cứ cho vị ấy biết, vị ấy sẽ hết sức giúp đỡ để cho Bồ Đề Đạo Tràng này phải là chỗ chung của tất cả Phật tử các xứ, không dành riêng cho một ai.
Buổi sáng ngày 5-11, chúng tôi có đến thăm một Ashrama Ấn Độ, được nói chuyện với một vài vị sư Ấn Độ. Những vị này sống tự lập, tự trồng trọt lấy mà ăn. Khi chúng tôi đến, có vị đang cày ruộng, có vị đang dệt vải, những việc nặng nhọc lắm thì nhờ các dân làng xung quanh đến giúp, họ không có sắc phục riêng, chỉ choàng miếng vải trắng thôi. Họ nói chuyện rất vui, biết đến Việt Nam nhiều, hiểu Đạo Phật một cách rộng rãi. Vị chủ có tặng tôi một bức tượng Phật nhỏ, đào được trong vườn, tuy bị bể một bên, nhưng tôi rất mừng. Tôi đã nói tượng Phật này đối với tôi quý gấp mấy các thứ tượng mới khác. Điều đáng tiếc, bức tượng này bị mất một lần với túi vải của tôi.

* Trang 272 *
device

Chúng tôi ở lại Buddhagaya trong hai ngày 3 và 4-11, đến sáng ngày 5 chúng tôi về lại Gaya để đáp xe điện đi Ràjagaha. Chúng tôi ghi sau đây lịch sử của Bồ Đề Đạo Tràng.
*
LỊCH SỬ CỦA BỒ ĐỀ ĐẠO TRÀNG
(BUDDHAGAYA)
Đối với Phật tử, lịch sử của Bồ Đề Đạo Tràng đã bắt đầu từ khi Thái Tử Tất Đạt Đa tu khổ hạnh tại Uruvela và sau khi Đức Phật thành đạo dưới cây Bồ Đề. Toàn thể Phật tử thế giới xem Bồ Đề Đạo Tràng là một thánh tích quan trọng bậc nhất. Và vì vậy trong suốt lịch sử thánh tích này, chúng ta thấy Phật tử khắp các nước đều nô nức đến chiêm bái cùng sửa sang Bồ Đề Đạo Tràng, cho đến mãi ngày nay cũng vậy.
Chính Vua A Dục đến chiêm bái chỗ này nhiều lần và cuộc chiêm bái của Ngài được khắc vào đá kỷ niệm, như đã thấy lại Sanchi. Rất có thể chính Vua A Dục đã lập ra ngôi tháp này, nhưng rất tiếc thiếu bia đá khắc để chứng thiệt: có lẽ vì các Vua sau Ngài cũng dựng thêm tháp để kỷ niệm thành thử dần dần công nghiệp của Vua A Dục bị quên dần. Và cũng rất

* Trang 273 *
device

có thể, đền tháp dựng lên bị Vua Sasanka phá hủy, vị Vua này thù nghịch đạo Phật.
Muốn hiểu lịch sử Buddhagaya, cần phải tìm lại những tài liệu của Ngài Pháp Hiển và Huyền Trang, và dựa theo tài liệu ấy, chúng ta có thể đoán chắc là ngôi tháp hiện tại được lập ra vào khoảng thế kỷ thứ hai, sau kỷ nguyên.
Ngài Pháp Hiển đến viếng thăm chỗ này vào năm 409 sau kỷ nguyên viết:
“Tại chỗ Đức Phật thành đạo, có ba ngôi chùa và nhiều vị sư tu hành chỗ ấy. Gia đình dân chúng xung quanh cúng dường các thức ăn mặc rất đầy đủ, không thiếu chút gì. Giới luật gìn giữ tinh nghiêm.”
(Dịch theo Ký sự Fa-Hiển của James Legge trang 89, 90)
Ngài Huyền Trang chiêm bái chỗ ấy vào năm 637, chép rằng:
“Về phía Đông cây Bồ Đề có một tu viện chừng 160 hay 170 Feet cao. Nền chùa thấp hơn độ 20 thước vuông. Tường bằng gạch xanh, trét với chu-nam; các khám tượng của mỗi tầng đều có tượng thếp vàng. Bốn mặt tường đều đầy những tượng khắc rất đẹp; tại chỗ này, hình ảnh những chuỗi ngọc dài, tại chỗ kia những vị tiên. Ngọn tháp là một trái amlak bằng đồng

* Trang 274 *
device

thếp vàng. Mặt phía Đông, cận một tòa lầu ba tầng, và các mái hiên, cột trụ và cột nhà, cùng cửa lớn và cửa sổ đều trang hoàng với những tượng bằng vàng hay bằng bạc, với ngọc ngà đính vào tường và các kẻ hở. Những phòng âm u và những dãy hành lang bí mật đều có cửa mở vào trong mỗi tầng lầu. Về phía mặt và phía trái cửa lớn, ở ngoài có những khám thờ như căn phòng. Về phía trái có tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát và phía mặt có tượng Đức Di Lặc Bồ Tát. Những tượng này đều bằng bạc và độ 10 Feet cao. Tại chỗ tháp hiện tại, Vua A Dục ban đầu có lập một ngôi chùa nhỏ, về sau một người Bà La Môn lập lại một chiếc khác to rộng hơn nhiều”.
(Beal’s Hsuen Tsiang, tập 11, trang 118-119)
Theo ông Alexander Cunningham, ngôi tháp Ngài Huyền Trang miêu tả “chính là ngọn tháp hiện tại không còn nghi ngờ gì nữa, dầu có sửa chữa và thay đổi”.
(Cunningham’s Maha Bodhi, trang 18).
Dầu chúng ta không tìm thấy một lịch sử tiếp tục về Buddhagaya thời cổ, nhưng khi nào chúng ta tìm được tài liệu, những tài liệu ấy cũng chứng tỏ là ngôi tháp đó thuộc về Phật tử cho đến khi dân Hồi giáo tràn vào chiếm cứ vào khoảng thế kỷ thứ 12, sau kỷ nguyên. Và tất cả những sửa sang và thay

* Trang 275 *
device

đổi, không những chỉ do các Phật tử Ấn Độ đảm nhận, mà các Phật tử ở Tích Lan, Miến Điện và các nước khác cũng đều dự vào. Như vậy, Buddhagaya không phải là một chỗ riêng cho một tôn phái nào, mà chính là trung tâm hoạt động của Phật tử thế giới.
Theo lịch sử ghi chép, Tích Lan có quan hệ với Bồ Đề Đạo Tràng từ khi Vua A Dục cử Sanghamitta qua Tích Lan với một nhánh cây Bồ Đề. Và Vua Meghavarna có lập một ngôi chùa tại Bồ Đề Đạo Tràng vào năm 330 để các vị tu hành ở Tích Lan và khách thập phương đến ở để chiêm bái. Vào khoảng 1079, các Phật tử Miến Điện sửa sang lại cả ngôi tháp và dãy tường bao bọc xung quanh. Một vị Tỷ-kheo tên là Dhammarakkhita, vào năm 1100 và 1200 có trùng tu lại và phí tổn đều do Vua Asokamalla, Vua xứ Sapadalaksha đứng chịu. Đến năm 1296, các Phật tử Miến Điện lại trùng tu chỗ ấy một lần nữa.
Một bia ký đề năm 1202 được tìm thấy tại Janibigha ở Bihar có chép, một làng được dành riêng để tu bổ cúng lễ Kim Cang Tọa tại Bồ Đề Đạo Tràng, và làng ấy do vị Tỷ-kheo Mangalaswami quản lý, vị này là người Tích Lan.

* Trang 276 *
device

Những tài liệu trên chứng tỏ ít nhất cho đến thế kỷ 12, sau kỷ nguyên, Buddhagaya ở trong tay các Phật tử, hoặc Tích Lan, hoặc Ấn Độ, và chỉ khi quân Hồi giáo đến chiếm cứ, Bồ Đề Đạo Tràng mới bị bỏ hoang không người quản lãnh cho đến khi ông Mahant đến chỗ ấy.
Vào khoảng năm 1500, một vị tu hành Ấn Độ, tên là Gosain Ghamandi Gir đến tại làng Buddha-gaya. Ông ta mến cảnh thanh tịnh của chỗ ấy, và quyết định lựa chỗ ấy làm nơi trú ẩn lâu dài. Ông dựng một ngôi đền nhỏ gần ngọn tháp chính, và quây quần xung quanh một số đệ tử. Theo thời gian, ngôi đền ấy càng được hưng thịnh, và trải qua một vài thế hệ, trở thành Math của ông Mahant rất to lớn. Ông Mahant hiện tại là người kế vị đời thứ 13 từ ông Ghamandi Gir. Chính trong đời ông Mahant Lak Gir mà Math của ông Mahant được mở rộng thêm ra. Làng Mastipur và Taradih đều được Vua Hồi giáo ở Delhi cho ông ta. Nhưng đây nên để ý là không gì làm chứng rằng ông Mahant có quyền sở hữu về ngôi tháp vì khi ấy ngôi tháp bị đổ nát, không ai sửa chữa lại.
Đến năm 1811, Vua nước Miến Điện đến chiêm bái tại chỗ ấy và về sau Vua Ava cử hai đại biểu đến tìm nhận lại Bồ Đề Đạo Tràng cùng các thánh tích kế cận, nhờ các sách vở về Phật giáo.

* Trang 277 *
device

Một vị tu sĩ Đại thừa người Nepal đến thăm chỗ ấy và sống thân cận với các người ở trong đền của ông Mahant. Vị này cải hóa một người Sanyasi theo Phật giáo.
Bác sĩ Buchanan Hamilton, nhà khảo cổ trứ danh đến thăm Buddhagaya vào năm 1812. Ông thấy ngôi tháp chính hoàn toàn hoang phế và rõ ràng ông Mahant không để ý gì đến chùa Maha Bodhi.
Đến năm 1833, vị Lãnh sự Miến Điện, tên là Mengy Maha Chesu cùng với tùy tùng đến thăm Bồ Đề Đạo Tràng. Ông ta tìm được một bia khắc tiếng Pàli bằng chữ Miến Điện tại chỗ ấy. Dưới đây là bản dịch :
“Đây là một trong số 8 vạn 4 ngàn ngôi đền, do Vua A Dục, Vua cõi Diêm Phù Đề, cuối 218, năm Đức Phật nhập Niết Bàn (326 trước kỷ nguyên) dựng lên tại chỗ thành đạo, sau khi Ngài dùng sữa và mật ong. Theo thời gian, ngôi chùa đó bị đổ nát, rồi lại được vua Naikamahanta dựng lên lại. Rồi bị đổ nát, rồi lại được Vua Sadomang dựng lên. Sau một thời gian, cũng lại bị đổ nát cho đến khi Vua Sempyu Sakhentaramangyi cử vị sư phụ của mình tên là Shammarajaguna, quản đốc tu bổ ngôi tháp ấy. Vị này đi đến chỗ ấy và cùng với đệ tử mình tên là

* Trang 278 *
device

Kasyapa bắt đầu trùng tu nhưng không thể hoàn thành, dầu được Vua giúp đỡ rất nhiều. Về sau, Varadasi Naik Đại đức yêu cầu Vua tự đứng lên quản đốc. Vua liền bằng lòng và cử Thái Tử Pyusa Jheng và vị Bộ Trưởng tên Ratha đến trùng tu lại ngôi tháp ấy. Như vậy, ngôi tháp được sửa lại lần thứ tư và đến ngày thứ sáu, tháng thứ mười lịch Pyadola, năm thứ 667, đời Vua Sakharaja (1306, sau kỷ nguyên) mới hoàn thành. Lễ hoàn thành cử hành rất long trọng với lễ cúng dường các món ăn, hương thơm, cờ, đèn, cúng dường cây rất có tiếng tên là Kalpa Vrisha; các người nghèo cũng được bố thí như con Vua vậy. Như vậy hoàn thành một nghĩa cử nhiều phước đức, cử chỉ ấy đem lại những phần thưởng vĩnh viễn, và những kết quả đạo đức. Mong rằng những vị trùng tu sẽ được sống trong danh vọng, an hưởng Niết Bàn an tịnh và trở thành A La Hán trong đời Đức Phật vị lai, Đức Phật Di Lặc”.
Đến năm 1871, Vua Miến Điện cử một phái đoàn đến thăm Chánh phủ Ấn Độ với nhiều tặng vật quý giá cho cây Bồ Đề và yêu cầu Chánh phủ giúp đỡ mọi sự cho những vị Đại biểu để có thể chiêm bái chỗ thánh tích ấy, thay mặt cho Vua Miến Điện. Vua cũng nêu rõ ý muốn sửa sang lại xung quanh cây Bồ Đề và cử hai người Đại biểu ở luôn gần cây ấy. Vua

* Trang 279 *
device

Miến Điện cũng mong mỗi năm một lần hay hai lần dân chúng Miến Điện được phép đến cúng dường cây Bồ Đề. Lời yêu cầu của Vua Miến Điện được gửi đến cho ông Mahant, và ông này chấp thuận những điều yêu cầu của Vua Miến Điện. Liền theo đó, các Đại biểu đến chiêm bái và về tường thuật lại cho Vua Miến Điện. Giá tiền các bảo vật bằng vàng và bằng bạc đáng giá đến 60.000 Rs. Dầu Vua Miến Điện biểu ông Mahant phải làm một tháp Paribhoga để dựng các đồ châu báu ấy, do Vua chịu các phí khoản, nhưng ông Mahant lại thâu dùng làm của riêng cả.
Sau khi phái đoàn về đến Miến Điện, Bộ Ngoại giao Miến Điện có gửi cho vị Đại biểu Quan Toàn quyền vào ngày 18 tháng 8, yêu cầu được phép sửa sang lại lan can xung quanh cây Bồ Đề, ngọn tháp do Vua A Dục lập nên; xây bức tường để đỡ một nhánh Bồ Đề phía tay mặt; được sửa tất cả những đền đài đổ nát trong phạm vi cây Bồ Đề; được phép lập gần cây Bồ Đề một ngôi chùa có thể chứa độ 20 vị tu hành sống để cử hành các lễ như thắp đèn, cúng dường hoa và nước; được phép xây một bức tường bao xung quanh ngôi chùa ấy; được phép thuê người sống tại chỗ ấy để gìn giữ và cung cấp các vật dụng cần dùng cho ngôi chùa; được phép lập một tháp Paribho Ga để cất những đồ cúng dường của Vua cho

* Trang 280 *
device

cây Bồ Đề. Ông Mahant thỏa thuận để công việc trùng tu được tiến hành và Vua Miến Điện dùng một số tiền khá lớn để tu bổ. Nhưng công việc làm không được tiến hành một cách khả quan, và sau đó Chánh phủ Ấn Độ phải cử hai vị, ông Alexander Cunningham và Bác sĩ Rajendralal Mitra để quản đốc các việc tu bổ. Trong khi ấy, chiến tranh giữa nước Anh và nước Miến Điện bùng nổ và các vị Đại diện của Vua Miến Điện phải từ giã nước Ấn Độ. Thành thử ngôi tháp đáng lý dưới quyền quản trị của Đại biểu Vua Miến Điện, lại đặt dưới quyền của ông Mahant và của Chánh phủ Ấn Độ.
 Chánh phủ Ấn Độ tiếp tục sửa chữa ngôi tháp và chi phí đến 100 ngàn rupies tất cả. Sửa chữa xong, Chánh phủ cử ông Maddox quản đốc ngôi chùa, một tháng phải đến thăm một lần để xem những gì cần phải sửa chữa và đừng cho lấy cắp các tượng và đá tại chỗ. Sau Sở Công chánh Ấn Độ giữ quyền quản đốc, và điều rất lạ Sở Bác Cổ lại không quan tâm một chút gì đối với ngôi chùa Bồ Đề Đạo Tràng.
Ý kiến giao lại ngôi chùa cho hàng Phật tử trông nom được một nhà Thi sĩ trứ danh, ông Sir Edwin Arnold, tác giả tập “Ánh sáng Đông phương” đề nghị. Ông đến thăm ngôi tháp trong khi trùng tu, và viết một lá đơn thống thiết yêu cầu Chánh phủ

* Trang 281 *
device

Anh và Chánh phủ Ấn Độ giao trả ngôi tháp ấy cho hàng Phật tử trông nom và cai quản. Ông cũng viết thư cho các nước Phật giáo, yêu cầu để tâm đến vấn đề ấy. Lời kêu gào của ông không được một ai hưởng ứng, chỉ chờ đến khi Ngài Anagarika Dharmapala tự đứng lên đảm nhận lấy trọng trách ấy vào năm 1891. Thật chính là một ngày lịch sử Bồ Đề tôn quý, khi Ngài Dharmapala đến tại Bồ Đề Đạo Tràng và đảnh lễ cây Bồ Đề tôn quý, vào ngày 21 tháng giêng năm 1891. Ngài Dharmapala chép trong quyển nhựt ký của Ngài như sau:
“Tôi đến với ông Durga Babu và Bác sĩ Chatterjee tại Buddhagaya, chỗ tôn quý nhất đối với hàng Phật tử. Sau khi đi độ 6 dặm Anh, chúng tôi đến tại thánh tích. Trong vòng một dặm Anh, chúng tôi có thể thấy la liệt chỗ này chỗ kia tượng Đức Từ phụ của chúng ta. Tại ngôi đền của ông Mahant, hai bên cửa có tượng của Đức Thế Tôn đang tu thiền định hay đang thuyết pháp. Ôi tôn nghiêm làm sao! Ngôi tháp quý báu, Đức Thế Tôn ngồi trên tháp tọa và sự tôn nghiêm tỏa trùm cùng khắp làm cho các vị đệ tử chí thành phát khóc. Ôi sung sướng biết bao! Khi vầng trán của tôi chạm đến Kim Cang Tọa, một ý niệm tự nhiên đánh mạnh vào tâm trí của tôi. Ý niệm ấy biểu tôi dừng lại chỗ này và gìn giữ thánh tích tôn nghiêm

* Trang 282 *
device

 này, tôn nghiêm đến nỗi không gì trên đời có thể sánh bằng chỗ mà Thái Tử Tất Đạt Đa đã chứng đạo quả dưới cây Bồ Đề. Tôi lượm một vài ngọn lá và một ngọn có hình dáng rất đặc biệt. Khi ý niệm đột nhiên đến với tôi, tôi hỏi vị tu sĩ người Nhật tên là Kozen có bằng lòng ở lại với tôi không. Vị này hoan hỷ bằng lòng và hơn thế nữa, vị này cũng đã nghĩ như tôi. Cả hai chúng tôi thề một cách trịnh trọng quyết ở lại chỗ này cho đến khi một vài vị tu sĩ đến và quản đốc chỗ này”. (Ngày 22 tháng giêng năm 1891).
Sau khi Ngài Dharmapala đi chiêm bái về đến Tích Lan, Ngài tổ chức một cuộc hội họp công cộng với Ngài Sumangala làm Chủ tịch vào ngày 31 tháng 6 năm 1897. Tại buổi họp ấy, hội Maha Bồ Đề chánh thức thành lập với mục đích lấy lại Bồ Đề Đạo Tràng và truyền bá chánh pháp tại Ấn Độ. Ngài Đại đức Sumangala được cử làm Chánh Hội trưởng và Ngài Dharmapala được cử làm Chánh Thư ký.
Đến tháng 7 năm 1891, Ngài lại đến Buddha-gaya với bốn vị tu hành và để bốn vị ấy ở tại chỗ. Ông Hem Narayan Gir, vị Mahant lúc thời ấy, có cảm tình với công việc của Ngài Dharmapala và chúc công việc được sớm có kết quả. Về sau, vị ấy miễn cưỡng cho phép tạm trưng một mẫu đất nhỏ để dựng

* Trang 283 *
device

nhà tạm trú cho những Phật tử chiêm bái. Không may vị Mahant này từ trần, và ông Krishna Dayal Gir lên thế, vào ngày mồng 4 tháng 2 năm 1892. Và với vị này lên chức Mahant, các nỗi khó khăn bắt đầu xảy ra, vì vị này không có cảm tình với công việc của Ngài Dharmapala.
Sau khi dự Hội nghị các tôn giáo từ Chicago trở về vào năm 1893, Đại đức Dharmapala đem về một bức tượng Phật rất đẹp từ Nhật Bản. Bức tượng này, các Phật tử Nhật Bản muốn Ngài đem về để thờ tại tầng trên ngôi tháp Bồ Đề Đạo Tràng. Ngày 26 tháng 2 năm 1895, Ngài Dharmapala tự thân hành thỉnh ngôi tượng ấy lên trên lầu, và sau khi an vị, Ngài đảnh lễ và ngồi quán tưởng. Liền khi ấy, những người của ông Mahant đến và dùng sức mạnh quăng bức tượng ấy xuống. Một số người đi cùng với Ngài Dharmapala đang lễ Phật cũng bị đánh đập và một người bị thương khá nặng. Do cuộc hành hung này mà xảy ra một vụ kiện giữa Dharmapala và ông Mahant. Tại toà án Đệ nhất, Đệ nhị cấp, Ngài Dharmapala lại thắng kiện. Nhưng lên đến tòa Thượng thẩm, ông Mahant lại được thắng. Tại đây cũng cần để ý rằng các quan tòa cũng đều xem ngôi tháp ấy hoàn toàn thuộc các Phật tử, nhưng vì vụ kiện này thuộc về bên hình, nên không bàn đến vấn đề ngôi tháp thuộc sở

* Trang 284 *
device

hữu của ai. Vị Quan tòa trong khi biện luận ở tòa đã nói:
“a. Ngôi tháp ấy tiếp tục và thường xuyên được các Phật tử đến chiêm bái và hành lễ.
b. Không có một hình thức lễ bái Ấn Độ giáo nào được cử hành trong ngọn tháp ấy, và không gì chứng tỏ những lễ nghi có cử hành tại đó, trải qua nhiều thế kỷ, từ đời Vua Sankara. Chỉ từ tháng bảy năm ngoái mới có sự cố gắng hành lễ theo nghi thức Ấn Độ giáo trước hình ảnh Đức Phật đặt tại khám thờ tầng dưới. Những hành lễ này rõ ràng là do ông Mahant và các đệ tử của ông ta xúi giục. Bắt đầu từ đó, như người Quản đốc ngôi tháp ấy đã khai, một vị tu sĩ Bà La Môn được dùng để thắp đèn trước bức tượng, đánh chuông, rửa bức tượng và chỗ thờ tự, đánh dầu tilak trên trán và đeo một chiếc áo trên thân mình Đức Phật và trên đầu có trang điểm bông hoa. Vị Quản đốc cũng là một người Bà La Môn thuộc giai cấp cao nhất khai rằng, những nghi lễ ấy chưa thật phải là nghi lễ Ấn Độ giáo. Và cần phải để ý rằng, dầu những nghi lễ này có cử hành, vị Mahant hay đệ tử của ông ta, không có một ai đến hành lễ trong tháp cả. Tất cả nghi lễ Ấn Độ giáo chỉ bắt đầu từ năm ngoái, sau khi Ngài Dharmapala có đặt tượng Phật Nhật Bản trên tầng lầu trên của ngọn tháp. Và

* Trang 285 *
device

sau khi quan sát kỹ các sự kiện, chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa rằng nghi lễ trên chỉ là một âm mưu để ông Mahant có quyền xen dự vào những hành động của Phật tử đối với ngọn tháp và tăng cường những quyền sở hữu ông ấy có thể có để hưởng những hoa lợi của các đồ vật cúng dường tại chỗ”.
Vị Quan tòa Thượng thẩm ở Calcutta khi nghe lời khai có tuyên bố:
“Chúng ta có thể công nhận rằng chùa Bồ Đề Đạo Tràng là một ngôi chùa cổ, rất tôn quý đối với Phật tử , chính là một ngôi chùa Phật. Và dầu ngôi chùa ấy thuộc sở hữu của các ông Mahant Ấn Độ, ngôi chùa ấy cũng chưa được biến cải thành một ngôi đền Ấn Độ, nghĩa là có đặt những tượng thần Ấn Độ trong ấy và nghi lễ Ấn Độ giáo chánh tông được cử hành tại chỗ ấy. Từ trước cho đến nay, các Phật tử chiêm bái đều có quyền tự do đến thăm và lễ bái”.
Dầu Ngài Dharmapala thua kiện, sự thua kiện đó giúp Ngài làm cho thế giới Phật tử hiểu rõ được tình trạng nguy khốn của Bồ Đề Đạo Tràng, một chỗ tôn quý nhất của người Phật tử. Bản kiện được đăng vào hết cả báo chí và vấn đề Bồ Đề Đạo Tràng trở thành một vấn đề được bàn tán rất nhiều khắp Ấn Độ, Miến Điện và các nước khác. Ngài Dharmapala

* Trang 286 *
device

không có đủ tiền để đưa vấn đề này lên Cơ Mật Viện của Ấn Độ.
Đến năm 1902, một vị tu sĩ Nhật Bản tên là Okakusa đến tại Bồ Đề Đạo Tràng và bắt đầu giao thiệp với ông Mahant để lập một tu viện Đại thừa độc lập tại chỗ này. Chánh phủ Ấn Độ sợ có ẩn ý chánh trị, và vì vậy công việc không được thành tựu. Công việc của vị sư Nhật đem lại kết quả tai hại cho công việc của Ngài Dharmapala, vì Chánh phủ Ấn Độ trước có cảm tình với công việc của Ngài, nay sợ những sự khó khăn do Nhật Bản can thiệp gây nên, và trở thành đối lập, chống lại các hàng Phật tử. Nhận thấy Chánh phủ Ấn Độ đã thay đổi thái độ, ông Mahant bạo gan vào năm 1900 làm đơn kiện Ngài Dharmapala để trục xuất Ngài ra khỏi Lữ điếm Miến Điện, mà từ trước nay Ngài được ở yên ổn. Ông Mahant lại được kiện một lần nữa. Và như vậy là các Phật tử bị trục xuất hẳn khỏi Bồ Đề Đạo Tràng, một chỗ tôn quý nhất của hàng Phật tử.
Ngài Dharmapala tuy bị thất bại nhưng không thối chí, Ngài liền dùng báo chí làm phương tiện tuyên truyền để kêu gọi công chúng can thiệp. Và nhờ vậy, nhóm Ấn Độ trí thức tán thành công việc của Ngài Dharmapala và hết sức giúp đỡ cho hàng Phật tử lấy lại quyền hành ở Bồ Đề Đạo Tràng.

* Trang 287 *
device

Vấn đề Bồ Đề Đạo Tràng được đem ra bàn cãi tại Quốc Hội Quốc Gia Ấn Độ (Indian National Congress) họp tại Gaya, Belgaon, Coconada và các chỗ khác. Vấn đề này cũng được đem ra thảo luận tại Hội nghị Hindu Maha Sabha họp tại Mussaffarpur, hội nghị này Ngài Dhamrmapala có đến dự cùng với các Phật tử khác. Đảng Quốc Đại Ấn Độ cử một ban do bác sĩ Rajendra Prasad làm Chủ tịch để xét đến vấn đề này. Sau khi bàn kỹ càng, ban này thảo một bản án rất tinh tường và đề nghị lập một hội đồng, gồm các Phật tử và Ấn Độ giáo để quản đốc ngôi chùa ấy. Hội nghị Maha Sabha họp tại Cawnpore đề cử một ban khác với ông Bha Paramnanda giữ ghế Chủ tịch. Ban này cũng nghiên cứu vấn đề ấy kỹ lưỡng, và cũng có một đề nghị tương tự như ban trước. Mọi đề nghị đều không được thi hành vì ông Mahant phản đối.
Sau khi Ấn Độ được độc lập, vấn đề này được đem ra bàn cãi, và cuối cùng Chánh phủ Ấn Độ đứng ra can thiệp, giao quyền quản đốc ngôi chùa Bồ Đề Đạo Tràng cho một ban gồm có 11 người: năm người Phật tử, năm người Ấn Độ giáo, (trong này có ông Mahant) và một vị Chủ tịch do Chánh phủ Ấn Độ cử để trông coi ngôi chùa. Ông Mahant nay không có quyền sở hữu gì nữa, chỉ trừ là một hội viên trong ban

* Trang 288 *
device

ấy thôi. Từ khi Bồ Đề Đạo Tràng được giao lại cho ban ấy quản trị, thời mọi việc tiến hành thỏa đáng cho người Phật tử. Không những Chánh phủ Ấn Độ cử người tu bổ và coi sóc, Chánh phủ còn khuyến khích các nước Phật tử đến lập chùa xung quanh ngôi tháp ấy để tiện cho khách thập phương viếng lễ. Hiện nay đã có một ngôi chùa Miến Điện, một Lữ điếm của Tây Tạng, một Lữ điếm của Hội Maha Bồ Đề, một ngôi chùa Trung Hoa tên là Đại Giác Tự. Gần đây Chánh phủ Thái Lan và Cao Mên cũng đã tạo một miếng đất để làm chùa. Mọi Phật tử đến viếng Bồ Đề Đạo Tràng đều tin tưởng rằng trong một tương lai rất gần, Bồ Đề Đạo Tràng sẽ trở thành một trung tâm hoạt động quốc tế Phật giáo. Chính tôi khi ở tại chỗ này, được vị Quản đốc nói chuyện nhiều và có gợi ý muốn có một ngôi chùa Việt Nam được lập tại chỗ Đức Phật thành đạo. Vị ấy có hứa tặng cho Phật tử Việt Nam nhánh Bồ Đề đem về trồng tại Việt Nam để đến chiêm bái được dễ dàng. Tôi chỉ ở có hai ngày, vì còn phải đi nhiều chỗ khác, tự thấy chưa được thỏa ý, và hẹn còn đến lại một lần nữa, trước để đem về những nhánh Bồ Đề hứa tặng cho Phật tử Việt Nam, sau nữa đến chiêm bái một lần nữa chỗ Thánh tích vĩ đại và tôn nghiêm này, tự mình chiêm bái và hồi hướng tất cả công đức cho Phật tử Việt Nam.
 

* Trang 289 *
device

Chúng tôi tiếp tục chiêm bái các Thánh tích gồm:

1. Chiêm bái núi Linh Thứu

Ngồi càng lâu chúng tôi càng cảm thấy thanh tịnh như tràn nhẹ vào tâm hồn bao trùm với cảnh vật. Và hơn bao giờ hết, chúng tôi thấy rõ hạnh thanh tịnh cần nhất cho người tu hành, thanh tịnh trong cảnh ồn ào náo nhiệt của thị thành, giao thiệp hoằng pháp học hỏi, thanh tịnh trong cảnh thanh tịnh của núi non, tu viện. Chúng tôi ngồi hơn một giờ, không ai buồn nói chuyện cùng ai, tôi lựa chỗ ngồi trên lưng thành, hai bạn tôi, người xuống ngồi trong hang đá của Ngài Anan, người nằm sát gần một bên bức tường phòng của Đức Phật. Bốn cô sinh viên thì xuống hái bông, hoặc nói chuyện nhỏ cùng nhau. Hơn 10 giờ, chúng tôi đến đảnh lễ căn phòng của Đức Phật, rồi đến coi phòng nhỏ, chỗ ở của Ngài Xá-lợi Phất, xuống thăm hang của Ngài Anan và của Ngài Mục Kiền Liên. Xuống một vài tầng cấp, chúng tôi đến chỗ Đức Phật bị Đề Bà Đạt Đa lăn hòn đá làm ngón chân của Ngài bị thương rỉ máu, chúng tôi lại đến chỗ Đức Phật nằm nghỉ sau khi bị thương, chỗ nào, bước nào, cũng ghi dấu một vài thánh tích liên hệ đến đời sống của Đức Từ Phụ. Xuống đến chân núi, chúng tôi từ biệt các cô sinh viên vì chúng tôi còn đi thăm các chỗ khác, các

* Trang 290 *
device

cô cho chúng tôi địa chỉ ở Calcutta và dặn thế nào lúc về đến Calcutta cũng đến thăm nhà các cô ấy. Chúng tôi hoan hỷ nhận lời. Rồi chúng tôi rẽ qua đường khác để đến ngôi tháp cũ gọi là Maniyar Math, (Về núi Linh Thứu, xin xem phần lịch sử của thành Vương Xá, trong những chương sau, về đoạn dịch tập ký sự của Ngài Huyền Trang).

2. Ngôi tháp cũ gọi là Maniyar Math

Chính giữa thung lũng và về phía Tây con đường chánh, có một ngôi tháp và một ngôi đền nhỏ, che dưới một mái bằng sát hình nón, gọi là Maniyar Math. Đào sâu xuống là hình một ngọn tháp đặc biệt, bên trong trống rỗng, và một vài hình ảnh trên tường ngoài. Xung quanh ngọn tháp, có những án thờ, không hiểu ngọn tháp và các án thờ này dùng để làm gì, có người cho đó là chỗ thờ rắn Nagi, vì có đào được một tượng rắn năm mai, rắn này xưa được xem là thần hộ trì cho thành Vương Xá.

3. Nhà tù của Vua Bimbisàra (Tần Bà Ta La)

Gần Maniyar Math, trên đường đi núi Linh Thứu, có một chỗ có một bức thành bằng đá 6 feet dày. Chỗ này được xem là Vua A Xà Thế giam Vua cha là Bimbisàra cho đến chết. Tại ngôi nhà tù này, Vua Bimbisàra nhìn Đức Phật đi đi lại lại trên ngọn núi

* Trang 291 *
device

Linh Thứu và nhờ vậy đỡ được đau khổ nhiều, tại ngôi nhà tù này có thể thấy được núi Linh Thứu. Và người ta có đào được một vòng sắt để trói người tù, nhờ vậy có thể biết chắc chỗ này là nhà tù của Vua Bimbisàra vậy.

4. Pippala, ngôi nhà đá

Phía Đông ngọn đồi Vebhara, gần suối nước nóng, có một ngôi kiến trúc bằng đá hơi lạ, được xem là hang Pippalaguha, trong kinh điển Pàli có nói đến. Ngôi nhà này cao từ 22 đến 28 feet, dài 85, rộng 81 feet, kiểu hình không phải là một ngôi tháp, có lẽ là một nhà gác, nhưng vì tiện lợi nên về sau các vị Sư dùng làm chỗ ở để tu thiền định và dần dần được gọi là hang Pipphalaguha. Còn động của Ngài Ca Diếp khi đau bệnh được Đức Phật đến cứu chữa có lẽ ở sau hang này, nhưng nay bị lấp cả. Ngôi nhà này mới được sửa lại nên xem mới lắm, có lan can chạy dài xung quanh và ở trên trông xuống thấy cả thành Vương Xá.

5. Sattapanni: Kỳ Xà Quật

Hang này chưa được rõ chính xác là chỗ nào. Có hai thuyết: thuyết của ông Sir Aurel Stein cho là 4 động về phía ngoài đồi Vebhara, từ ngôi đền Jain đi xuống. Còn ông Jhon Marahall cho là chỗ xa hơn về phía Bắc, tại đó hiện có một nhà bằng đá, nay đổ nát

* Trang 292 *
device

 được tìm thấy. Cả hai thuyết đều được tôn trọng vì hai vị này đều là những nhà khảo cổ trứ danh. Chúng tôi đi đến chỗ 4 động được ông Stein xem là hang Kỳ Xà Quật, nay chỉ là bốn động nhỏ, không sâu lắm, đi vào tối và gập ghềnh, rộng lắm là chứa độ 40 người là cùng, nhưng phía ngoài có đá lởm chởm bổ nhoài xuống. Có người nói động ấy trước rộng ra đến phía ngoài, nhưng nay bị đổ sập xuống thành ngó nhỏ như vậy. Dầu có thật vậy, chúng tôi nhìn hang động ấy, cũng không thấy ưng ý chút nào, và không thể tin được xưa kia có đến hàng trăm, hàng ngàn vị Tăng đến kiết tập kinh điển. Những hang về phía trong lởm chởm những đá, chứng tỏ không có người ở, lại thấp và hẹp không thể nào đủ không khí để thở, dầu xưa các vị kiết tập đều được xem đã chứng quả A La Hán và thần thông tự tại.

6. Suối nước nóng: Tapoha Nadi

Những suối nước nóng này được xem là có từ đời Đức Phật tại thế, và Đức Phật nhiều lần có nói đến trong những kinh của Ngài. Đức Phật cũng được xem là thỉnh thoảng có đến tắm tại những suối ấy. Xưa kia có một ngôi chùa gọi là Tapoda Monastery gần những suối nước này. Như tôi đã nói trước, tôi đến tắm tại hồ tắm của Hồi giáo. Còn hồ tắm của Ấn Độ giáo thì lớn hơn, nhưng vì đông người quá thành

* Trang 293 *
device

không được sạch sẽ, sánh với hồ tắm Hồi giáo. Nước không nóng sôi, chỉ vừa tắm, nhất là vào mùa đông, dân chúng Ấn Độ đến tắm rất đông. Nhiều vị Sư từ Nalanda, ngày nào cũng đến đấy tắm.

7. Veluvanaramaya: Trúc Lâm Tịnh xá

Hiện nay, cũng chưa chắc Trúc Lâm Tịnh xá, do Vua Tần Bà Ta La cúng hiến Đức Phật, hiện ở chỗ nào. Xưa kia cả vùng cây cỏ mọc hoang dại, che kín cùng khắp, chỉ mới được đào bới sửa sang một vài khoảng nhỏ thôi. Hiện nay, Chính phủ Ấn Độ rào một khoảng vuông khá rộng, gần chùa Nhựt Bổn, và xem đó là Tịnh xá Trúc Lâm. Khu vườn khá rộng, cây cối sửa sang trồng thẳng lại, có nhiều bụi tre về phía bên trong, nên vì vậy được gọi là Trúc Lâm Tịnh xá. Một hồ nước nhỏ gần đó, được xem là hồ nước Karandaka mà Ngài Huyền Trang có nói đến. Ngài nói Trúc Lâm Tịnh xá cách cửa thành phía Bắc độ một dặm. Để hiểu vì sao gọi là Trúc Lâm Tịnh xá, vì rất nhiều khóm tre mọc khắp cả vùng này, Đức Phật ở nhiều tháng tại ngôi chùa này, và sau đây là một vài bộ kinh được diễn giảng tại đây: Mahakassapa, Mahamogalla na và Mahacundabhojjhangas. Chính Ngài Mục Kiền Liên thệ thế trước ngôi chùa Trúc Lâm Tịnh xá, và riêng đặc biệt Ngài được Đức Phật chỉ cho một chỗ xây dựng một ngọn tháp để thờ Ngài.

* Trang 294 *
device

8. Lịch sử Rajagriha (Vương Xá Thành)

Thành Vương Xá là một thành cổ nhất ở Ấn Độ. Theo tập Ramayana, thành ấy do Vua Vasu lập ra và đặt tên là Vasumati. Đến đời Đức Phật được gọi là Vương Xá, vì rất nhiều cung điện được lập ra tại chỗ. Raja nghĩa là Vương, Griha dịch là Xá, Trung Hoa dịch là Vương Xá. Thành này có tiếng khắp cả Ấn Độ, vì là kinh đô xứ Ma Kiệt Đà. Ngài Buddhaghosa chép thành này có đến 32 cửa chính và 64 cửa phụ. Nhưng sau khi Vua Ajàtasattu (A Xà Thế) lập thành Pàtalipulra bên bờ sông Hằng thì thành Vương Xá mất dần địa vị quan trọng.
Vương Xá thành là chỗ Đức Như Lai thường trú ngụ, Ngài đến nhiều lần trong những thời Ngài đi thuyết pháp đó đây. Ngài đến đây lần đầu tiên, trước khi Ngài thành đạo, đi khất thực xung quanh thành, và khi vua Tần Bà Ta La thấy Ngài, và được biết Ngài là con của dòng họ Thích Ca, mời Ngài bỏ đời sống tu hành, và nhận một phần đất của nước Ma Kiệt Đà để trị vì. Đức Phật vì đã từ bỏ ngôi báu nên từ chối, nhưng hứa sau khi thành đạo chứng quả sẽ về lại giảng dạy cho Vua, theo như lời Vua thỉnh cầu.
Dưới đây là một đoạn dịch trong tập ký sự của Ngài Pháp Hiển khi Ngài đến thăm thì cả thành phố đã bị đổ nát rồi:

* Trang 295 *
device

“Đi về phía Tây độ một dặm sẽ đến thành phố mới của Vương Xá Thành. Thành này do Vua A Xà Thế lập ra. Giữa thành có hai ngôi chùa. Ra khỏi cửa thành phía Tây sẽ đến một ngọn tháp, ngọn tháp này do Vua A Xà Thế dựng lên để thờ Xá-lợi của Đức Phật khi Vua được chia một phần. Ngọn tháp này cao lớn đẹp đẽ và tôn nghiêm. Đi ra cửa thành phía Nam, và đi bộ độ bốn dặm về phía Nam, chúng ta đến một thung lũng. Thung lũng này đưa đến năm ngọn đồi, năm ngọn này bao bọc như một bức thành, đó là thành Vương Xá cũ của Vua A Xà Thế. Thành này rộng từ Đông sang phía Tây độ 5, 6 dặm, từ Bắc đến phía Nam độ 7, 8 dặm. Chính tại chỗ này, Ngài Xá Lợi Phất và Ngài Mục Kiền Liên lần đầu tiên nhận chân được Diệu Pháp; chính là chỗ mà Ni Kiền Đà đào một hố sâu đầy lửa và dâng đồ ăn có thuốc độc để Đức Phật dùng, và cũng là chỗ mà con voi đen say cuồng của Vua A Xà Thế chạy đến muốn hại Đức Phật, sau bị Đức Phật hàng phục. Tại góc động Đông Bắc của thành Vương Xá, có dựng một ngôi chùa, là chỗ của Ambapàli thỉnh Đức Phật cùng 1250 vị Đại đức Tỷ-kheo đến để kính lễ. Ngôi tháp đó hiện vẫn còn. Thành phố hoàn toàn vắng, không có người ở. Đi vào thung lũng và tiến về dãy núi độ 15 dặm phía Đông Nam, chúng ta đến ngọn núi Linh Thứu. Ba dặm trước khi đến ngọn núi, có một bệ đá giữa những

* Trang 296 *
device

tảng đá lớn, đó là chỗ Đức Phật ngồi thiền định, xoay mặt về hướng Nam. Độ ba mươi bước về phía Đông Bắc, có một hang đá, chỗ Đức A Nan ngồi thiền định. Khi ấy, một con quỷ Pisuna ở cõi trời biến hình thành con chim kên, đứng trước hang đá và dọa nạt Ngài A Nan. Đức Phật dùng thần thông mở rộng hang đá, cầm tay Ngài A Nan và làm Ngài hết sợ hãi. Dấu con chim và cổ tay Đức Phật đưa tay đến nắm Ngài A Nan nay vẫn còn (Tôi tìm mãi mà không thấy), do đó, hòn núi ấy gọi là “ngọn đồi của hang con chim kên”. Trước hang này là chỗ ở của bốn Đức Phật, các vị A La Hán, mỗi vị đều có một hang giống nhau khi các vị ngồi thiền định. Số động có đến 700.
“Đức Phật đang đi từ phía Đông sang phía Tây trước nhà đá. Đề Bà Đạt Đa đứng trên mỏm đá phía Bắc, quăng một hòn đá xuống và làm bị thương ngón chân Đức Phật. Hòn đá ấy hiện còn (Chúng tôi tìm không thấy). Phòng Đức Phật giảng kinh đã bị đổ nát, chỉ còn lại chân tường gạch. Ngọn đồi này đều và tôn nghiêm, cao hơn tất cả năm ngọn đồi xung quanh.
Pháp Hiển sau khi mua hương hoa và đèn dầu tại thành phố mới thuê 2 người đưa đến hang động và đến núi Linh Thứu. Sau khi dâng lễ hương và hoa, các ngọn đèn tự nhiên sáng to, Pháp Hiển cảm động, buồn đến phát khóc và nói rằng: “Trước kia Đức Phật

* Trang 297 *
device

chính ở tại chỗ này. Chính tại chỗ này Ngài giảng kinh Sheou leng yan (không hiểu là kinh gì vì chép bằng tiếng âm theo giọng Anh). Pháp Hiển tôi không được giáp mặt Đức Phật trong khi còn sống, nay chỉ tìm được dấu vết đời sống của Ngài. Tuy vậy, tự thấy cũng được chút gì vì đã từng đọc kinh Sheou leng yan trước hang đá này và ở tại đó một đêm”.
(Trích trong tập ký sự của Ngài Pháp Hiển, trang 288-289-298).
Dưới đây là ký sự của Ngài Huyền Trang:
“Ngoài cửa thành Vương Xá, phía Bắc là một ngọn tháp. Chính chỗ này, Đề Bà Đạt Đa và Vua A Xà Thế, sau khi thành bạn, đồng mưu thả con voi say rượu để hại Đức Phật. Nhưng Đức Như Lai dùng thần thông hóa năm con sư tử từ năm ngón tay của Ngài; và con voi phải phủ phục chịu hàng trước Ngài. Phía Đông Bắc ngọn tháp này lại có một ngọn tháp khác, chính là chỗ Ngài Xá-lợi Phất nghe vị Tỷ-kheo Assajita nói Pháp và chứng quả A La Hán. Về phía Bắc ngọn tháp này có một hố rất sâu, bên cạnh có xây ngọn tháp, đấy là chỗ mà Srigupta muốn hại Phật bằng cách đấu lửa trong hồ ấy và dùng gạo có tẩm thuốc độc. Thời ấy, Srigupta tôn sùng ngoại đạo và say mê theo tà giáo. Về phía Đông Bắc của hồ lửa

* Trang 298 *
device

 của Srigupta, về phía vòng cung của thành phố là một ngọn tháp, chính tại chỗ này mà Jivaka, vị thầy thuốc trứ danh lập một giảng đường cúng Đức Phật, xung quanh tường có trồng hoa và cây có trái. Dấu vết nền tường và rễ cây thúi nát vẫn còn thấy, Đức Phật khi Ngài còn sống thường dừng lại chỗ này. Gần giảng đường này là nhà của Jivika bị đổ nát, và một lỗ giếng cũ vẫn còn. Phía Đông Bắc thành Vương Xá độ 14, 15 dặm, chúng ta đến ngọn núi Linh Thứu. Sườn núi phía Nam của ngọn núi phía Bắc, có một ngọn núi rất cao, các chim kên làm tổ tại chỗ. Ngọn núi này hình dáng như một vọng lâu, màu xanh của trời biếc phản chiếu vào và màu sắc của núi và của trời xen trộn nhau.
“Khi Đức Phật Như Lai hoằng dương chánh Pháp khoảng 50 năm, Ngài thường ở tại ngọn núi này và diễn giảng Kinh điển thậm vi diệu. Vua Tần Bà Ta La vì muốn nghe pháp, thường lên núi cùng với một số tùy tùng. Số người này san bằng các thung lũng, dùng cầu bắt ngang các thác nước, và dùng đá làm một bậc cấp độ 10 bước rộng và 5, 6 dặm dài. Giữa chừng con đường có dựng hai ngọn tháp nhỏ: Một ngọn gọi là “Xuống xe”, vì Vua khi đến chỗ này thì đi bộ lên núi. Ngọn tháp kia gọi là “Biểu tùy tùng đi lui”, vì Vua tách riêng tùy tùng, không cho các

* Trang 299 *
device

người tùy tùng theo mình. Ngọn núi này dài từ phía Đông qua phía Tây và hẹp từ phía Bắc đến phía Nam. Có một ngôi chùa bằng gạch, một bên là thung lũng rất sâu về phía Tây của ngọn núi. Cửa ngôi chùa này hướng về phía Đông. Chỗ này Đức Như Lai thường dừng nghỉ và thuyết pháp. Ngôi chùa cao và rộng, xây rất đẹp. Nay hiện còn một tượng Đức Phật đang thuyết pháp và to lớn bằng hình dung Ngài.
“Phía Đông của ngôi chùa là một tảng đá dài, Đức Phật thường hay đi bách bộ trên tảng đá ấy để dưỡng sức. Bên cạnh là một hòn đá rất to, độ 14, 15 feet cao và độ 30 bước vòng tròn. Chính là chỗ Đề Bà Đạt Đa xô đá để hại Đức Phật. Về phía Nam chỗ này, dưới là hang thẳm, có một ngọn tháp. Tại chỗ này, khi Đức Như Lai còn tại thế, Ngài thuyết kinh Saddharma Pundarika Sutra (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh). Phía Nam ngôi chùa, gần phía sườn núi sâu thẳm có một nhà bằng đá. Chính tại chỗ này, khi Đức Như Lai còn tại thế, nhập thiền định (chỗ này là chỗ chúng tôi đến đảnh lễ). Phía Tây Bắc nhà đá ấy và trước mặt có một hòn đá rất lớn và kỳ lạ. Chính là chỗ Đức A Nan bị Ma Vương đến dọa nạt (có đến nhưng không thấy lỗ hổng, nói là Đức Phật dùng thần thông đưa tay đến cứu Ngài A Nan). Gần một bên ngôi chùa ấy có nhiều nhà đá, đó là chỗ của Ngài

* Trang 300 *
device

 Xá-lợi Phất cùng các vị Đại A La Hán khác nhập thiền định (nay chỉ còn nền tường, một phòng nhỏ được xem là chỗ ở của Ngài Xá-lợi Phất).
“Phía Đông Bắc ngôi chùa, giữa một giòng suối chảy trên đá, có một tảng đá lớn. Đó là chỗ Đức Như Lai phơi áo Cà-sa (chúng tôi không tìm thấy suối nước nào cả, xung quanh đó).
Gần một bên đó, trên một tảng đá có dấu chân Đức Phật, dầu hình “bánh xe” ở ngoài lu mờ rồi, nhưng vẫn có thể nhận được (không tìm thấy).
“Trên đỉnh dãy núi phía Bắc có một ngọn tháp. Từ chỗ đó, đức Như Lai nhìn thấy Ma Kiệt Đà và trong 7 ngày Ngài thuyết pháp.
“Về phía Tây, nhìn từ cửa thành phía Bắc, có một ngọn núi gọi là Vipula Giri. Theo tục truyền của dân làng thì về phía Bắc của những hẻm núi về phía Tây Nam trước kia có đến 500 suối nước nóng, nay chỉ còn độ 10 suối. Vài suối ấm, vài suối lạnh, nhưng không có suối nào nóng sôi. Tại cửa miệng các suối nước nóng có đặt những tảng đá chạm hoặc hình sư tử, hoặc hình đầu voi trắng. Nhiều chỗ có đặt những ống dẫn nước, nước chảy trong các ống dẫn nước về phía trên, còn phía dưới có những hồ nước bằng đá,

* Trang 301 *
device

nước chảy vào như hồ tắm. Tại những hồ này, dân chúng khắp nơi đến để tắm. Những ai bị bệnh, sau khi tắm có thể lành bệnh. Phía mặt và phía trái của những suối nước nóng, có nhiều tháp hoặc ngôi chùa đổ nát, không cách nhau xa lắm. Tại những chỗ ấy, 4 Đức Phật quá khứ đều đến ngồi hoặc đi bách bộ, và còn để lại những dấu tích tại những chỗ ấy. Những địa điểm này đều bao bọc bởi những dãy núi, và có đầy đủ nước dùng, nên những người có đức hạnh và sáng suốt đều đến ở tại chỗ đó, và có nhiều vị ẩn sĩ tu hành cũng sống tại chỗ này, sống trong cảnh thanh tịnh và vắng lặng.
“Về phía Tây các suối nước nóng là nhà đá Pippala… Trên đỉnh núi Vipula có một ngọn tháp, đó là chỗ khi xưa Đức Phật giảng lại chánh pháp. Hiện tại có nhiều ngoại đạo cởi trần (Nigranthas) thường đến tại chỗ ấy rất đông. Chúng tu hành khổ hạnh ngày đêm không dừng nghỉ, và từ sáng đến chiều tối, đi vòng quanh (các ngọn tháp) và chiêm ngưỡng rất thành kính.
“Phía tay trái cửa thành phía Bắc, đi về phía Đông, về phía Bắc của vức núi phía Nam, đi bộ 2, 3 dặm, chúng tôi đến một nhà đá lớn, chính là chỗ xưa kia Đề Bà Đạt Đa nhập thiền định.”

* Trang 302 *
device

Từ cửa thành phía Bắc, đi độ một dặm, chúng tôi đến chùa Karandavenu-vana, tại đó nay chỉ còn một nền đá và thành bằng gạch của một ngôi chùa xưa.
Phía Đông ngôi chùa Karandavenuvana là một ngọn tháp. Ngọn tháp này do Vua A Xà Thế lập nên. Sau khi Đức Như Lai nhập Niết Bàn, các Vua chúa phân chia Xá-lợi, Vua A Xà Thế đem phần của mình về và dựng lên (ngọn tháp) để thờ kính và cúng dường chiêm bái. Khi Vua A Dục thành Phật tử, Ngài mở ngọn tháp ấy, lấy Xá-lợi và tự mình dựng một ngôi tháp khác. Ngôi tháp ấy luôn luôn tỏa ánh sáng rất kỳ diệu. Một bên ngọn tháp của Vua A Xà Thế có một ngọn tháp khác đựng Xá-lợi của nửa thân Đức A Nan.
Về phía Tây Nam Trúc Lâm Tịnh xá độ 5, 6 dặm về phía Nam, có một rừng trúc. Giữa rừng trúc ấy có một nhà đá rất lớn. Tại đấy, Đại đức Ca Diếp với 999 vị A La Hán, sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, triệu tập một hội nghị Kiết tập (để kiết tập) Tam Tạng.
Phía Tây Bắc chỗ Đức Ca Diếp triệu tập hội nghị có một ngọn tháp. Đó là chỗ Đức A Nan sau khi bị các Đại đức khác không cho vào dự hội nghị, đến ngồi chỗ ấy, ngồi một mình im lặng và chứng quả A La Hán. Sau đó, Ngài được mời dự Hội nghị.

* Trang 303 *
device


Từ chỗ đó đi về phía Tây độ 20 dặm, có một ngọn tháp do Vua A Dục dựng lên, đó là chỗ mà Giáo hội Tăng già họp để kiết tập kinh điển. Phía Bắc Trúc Lâm Tịnh xá độ 200 bước, chúng tôi đến hồ Karanda. Phía Tây Bắc hồ ấy, độ 2, 3 dặm có một ngọn tháp do Vua A Dục dựng lên. Ngọn tháp ấy độ 60 feet cao, gần một bên có một trụ đá, trên đó có khắc kỷ niệm về ngôi tháp, độ 50 feet cao và trên đỉnh có hình một con voi.
Về phía Đông Bắc trụ đá, không xa lắm, chúng tôi đến thành Vương Xá. Bức thành ngoài đã bị phá hủy, không còn dấu tích gì. Bức thành trong dầu bị đổ nát, nhưng chỗ cao hơn đất bằng và độ 29 dặm vòng tròn.
Tục truyền Vua A Xà Thế trước tiên lập ngôi thành này và vị Vua kế vị khi lên ngôi cũng xem thành ấy là kinh đô, mãi cho đến đời Vua A Dục. Vua này đổi kinh đô ra Pàtaliputra và cho hạng Bà La Môn thành Vương Xá này. Vì vậy không còn thấy dân chúng ở, chỉ có các nhà Bà La Môn, ước dộ 1.000 gia đình.
Tập Ký sự của hai Ngài Pháp Hiển và Huyền Trang, tả rõ ràng những thánh tích còn ở thành Vương Xá. Và số Bác cổ hiện tại cũng nương nhiều


* Trang 304 *
device

về hai tập Ký sự trên để tìm lại những chỗ đã được tả một cách kỹ càng như vậy. Chỉ tiếc hiện nay không còn lại những ngọn tháp Ngài Huyền Trang đã thuật thành cũng khó mà tìm ra tất cả những thánh tích được tả trong tập Ký sự của hai Ngài. Chúng tôi về lại đến chùa Nhựt Bổn đã tối trời. Chúng tôi lại đến hồ tắm nước nóng của Hồi giáo một lần nữa và càng tắm càng thích tắm mãi. Tối đến, chúng tôi có đến dự một buổi họp tại một đền Ấn Độ giáo, thấy được lễ cung kính một bà Mẹ sống, cũng hơi kỳ lạ. Vì bài tường thuật quá dài, và cũng không thuộc về Phật giáo, nên tôi miễn tả ra đây. Chúng tôi về chùa Nhựt Bổn độ 8 giờ tối, đánh một giấc ngủ thật ngon lành, vì cả ngày đi giữa nắng và sáng mai ngày thứ hai mồng 7 tháng 11, chúng tôi đáp tàu hỏa đi Nalanda, chỗ Phật học Viện nổi tiếng nhất thời xưa.

9. Nalanda: Na Lan Đà

Chúng tôi từ Rajgir đáp tàu hỏa đi Nalanda lúc 7 giờ rưỡi ngày thứ hai 7-11 và độ 8 giờ, chúng tôi đến Nalanda. Chúng tôi đến Nalanda Pàli Phật học Viện, được gặp rất nhiều vị sư Thái Lan, Cao Mên, Tích Lan, nói chuyện rất vui vẻ. Độ 12 giờ, chúng tôi đi thăm Phật học Viện Nalanda.

* Trang 305 *
device

Nalanda không phải là một thánh tích quan trọng bậc nhất cho hàng Phật tử, sánh với Lumbinì hay Sarnàth, nhưng vì là chỗ của một Đại học đường lớn có tiếng nhất về Phật giáo, nhất là Đại thừa Phật giáo, nên chúng tôi rất sung sướng được đến chiêm bái. Trong kinh Mahaparinibbana có nói đến Đức Phật, lúc Ngài gần nhập Niết Bàn đã ghé đến Na Lan Đà.
Nalanda lập vào khoảng thế kỷ thứ nhất. Muốn đến Nalanda, có thể như chúng tôi, đi từ Ragjir đến, hoặc đi từ ga Bhaktiarpur cũng được. Tại Nalanda có những thắng tích sau đây, đáng được xem: 1) Các ngọn tháp (Stupa); 2) Các Tịnh xá và các Đại học đường Phật giáo; 3) Viện Bảo tàng.

1, 2. Các ngọn Tháp và Tịnh xá:

Ngọn tháp số 1 là ngọn cao lớn nhất, một tầng cấp rộng đưa lên đến tận đỉnh tháp. Tại đây có thể thấy toàn cảnh Na Lan Đà. Các tượng và hình khắc xung quanh ngọn tháp rất khác nhau chứng tỏ được tạc hoặc khắc nhiều thời khác nhau. Các tượng đá thuộc thời đại Gupta là đẹp nhất. Ngọn tháp chính ở giữa, xung quanh có nhiều tháp nhỏ. Những tháp nhỏ này giữ di cốt của những sư thệ thế trong Phật học Viện, không to lớn như những tháp trong các

* Trang 306 *
device

chùa Việt Nam, có lẽ vì quá nhiều và những tháp này đều xây bọc xung quanh tháp chính. Trong một mái nhà gỗ, phía Đông Bắc ngôi tháp chính có tượng vị Bồ Tát Avalokitesvara (Đức Quán Thế Âm) rất đẹp. Một bức tượng về phía Đông Nam được xem là tượng của Ngài Nagarjuna (Long Thọ), vị Viện trưởng đầu tiên của Đại học đường Nalanda. Tịnh xá số 1 quan trọng nhất, rất rộng và có đến 7 tầng, cửa vào về phía thành phương Bắc. Tầng lớp thứ nhất có lẽ là do Vua Sumatra dựng lên, vào đời Vua Devapala, Vua thứ ba của triều đại Pala (815-854 sau kỷ nguyên). Trước là một ngôi nhà hai tầng, có hai ngôi tầng trên và dưới là vì ngôi Tịnh xá trên được lập trên Tịnh xá cũ ở dưới. Điện Phật của Tịnh xá dưới về phía Đông. Có lẽ phải có một tượng Phật rất lớn tại chỗ ấy. Điểm đặc biệt của ngôi Tịnh xá là có bệ đá cả hai phía ngôi điện Phật, có lẽ để các vị Giáo sư đứng diễn giảng , trong khi các học sinh ngồi trên sàn dưới sân. Có một giếng nước về góc Tây Bắc. Xung quanh có những phòng nhỏ, chắc chắn là phòng ở của các vị học giả. Điểm đặc biệt của những phòng ấy là trần phòng hình vòng cung. Trong Tịnh xá này, có đào lên được một tấm đá hột, tạc 7 sự tích đời sống Đức Phật. Tấm ấy hiện nay ở Viện Bác cổ Nalanda. Tầm cấp rộng, cùng vật dụng

* Trang 307 *
device

dùng nêu rõ nghệ thuật kiến trúc lúc bấy giờ tiến bộ nhiều. Tịnh xá số 4 có hai điểm đặc biệt, một là có lổ hở trên tường, tiếp theo tầng cấp, có lẽ xưa dựng làm lổ ánh sáng cho tầng cấp, một kiến trúc ít được thấy trong các nhà cửa lối cổ. Thứ hai có tìm thấy một đồng tiền thuộc triều đại Vua Kumaragupta (413-455 sau kỷ nguyên), một trong những đồng tiên xưa nhất được tìm thấy tại Nalanda. Đi ngang qua Tịnh xá số 5, chúng ta đến Tịnh xá số 6. Tịnh xá này có hai sàn bằng gạch. Đây cũng là nhà hai tầng, vì thấy có tầng cấp. Giữa sân thượng, có hai dãy lò lửa, có người cho là để nấu ăn, nhưng chắc là để đựng đồ nhuộm y của chư Tăng, vì tại Tịnh xá không được phép để đồ nấu ăn. Phía Đông Bắc Tịnh xá số 7 có khắc chạm sự tích về tiền thân Đức Phật cùng nhiều tích thông thường khác. Phần đông các Tịnh xá đều một kiểu giống nhau. Một sân vuông ở giữa, xung quanh là 2 hay 3 dãy phòng, một mái hiên có cột bằng đá hay bằng gạch chống đỡ, chạy dài theo những buồng ở. Dãy phía hướng về cửa vào thường là điện Phật thờ Đức Phật hay một vị Bồ Tát. Thỉnh thoảng có một giếng nước trong sân, như ở Tịnh xá số 1. Tường đều trét thạch cao và sân lát gạch hoặc đá. Điều đặc biệt là tường rất dày, hơn một sãi tay, vì mùa hạ ở Nalanda rất nóng. Chỉ trừ

* Trang 308 *
device

Tịnh xá số 1A và 1B, các Tịnh xá khác đều hướng về phía Tây, còn điện Phật thì hướng về hướng Đông, và cách ngang các Tịnh xá bởi những dãy hàng lang dài. Phía Bắc điện Phật số 3 là điện Phật số 12. Đây cũng có hai lớp thuộc hai thời đại. Tháp này có điểm đặc biệt là tường của ngọn tháp đều có những khám thờ, những trụ tạc nhiều tượng rất đẹp. Những khám đều có tượng Phật hoặc tượng Bồ Tát nhưng chỉ ít tượng còn lại. Có những ngọn tháp nền dài 170 feet và rộng 165 feet. Tháp số 14 có một chân tường rất lớn và còn lại mảnh nhỏ của những bức vẽ xưa. Đặc điểm này ít được thấy ở Bắc Ấn Độ. Chắc chắn chân tượng ấy có một tượng Phật rất lớn.
Hiện tại, công việc đào bới tìm lại những vết tích chưa được hoàn thành. Còn nhiều trụ đất cao chưa đào, chắc còn nhiều di tích chứa giữ ở dưới những mô đất ấy. Chúng tôi cũng nhận thấy tại những thửa ruộng xung quanh Phật học Viện Nalanda, dưới những luống cày, lại có những lớp gạch, thành thử dưới những ruộng ấy là những cổ tích xưa, vì lâu đời, đất cát bồi đắp lên thành che hẳn những tháp đền ở dưới. Sau dân chúng đến cày cấy, trồng trọt, không khác gì những mảnh đất thường thấy xung quanh.

* Trang 309 *
device

3. Bảo tàng Viện.

Sau khi đi thăm Nalanda, chúng tôi đến xem Viện Bác cổ, vì những di tích đào được ở Nalanda đều đem tàng trữ tại chỗ này. Có 4 loại được tàng trữ ở Bảo tàng Viện này: các bia ký, tượng, khuôn dấu và đồ gốm.
  1. Bia ký: Những bia ký này rất quan trọng, giúp chúng ta hiểu lịch sử thật của di tích đào được ở Nalanda, trải qua những thời đại. Những chữ khắc này hoặc được khắc trên lá đồng, hoặc trên tượng đá, hoặc trên các tường hồ giả cẩm thạch. Như bia ký đời Vua Devapala đã được nói đến trên. Bia ký trên lá đồng của Samudra Gupta, Devapala và Dharma-pala, tìm được ở Nalanda, hiện đem về Bảo tàng ở Calcutta. Có hai bia ký trên đá ở Viện Bảo tàng Nalanda, một của Yasovarmadeva, một của Vipulasrimitra. Bia ký đầu ghi những tặng phẩm của Malada, con một vị Bộ trưởng của Vua Yasovarmadexa, Vua xứ Kanouj, vào thế kỷ thứ 8, chỗ ngôi tháp do Vua Baladitya lập. Bia ký do Vipulasrimitra làm như dựng lên ngôi điện thờ Tàrà (Tàrà chúng tôi cho là đức Chuẩn Đề, không hiểu có đúng không?) với những sân tiếp cận, một hồ nước cùng tinh xá được tả là “một kỳ quan của thế giới”, lộng lẫy hơn các cung điện của Đế Thích. Cũng có

* Trang 310 *
device

nhiều bia ký ghi chép những lời Phật dạy. Có một bia ký trên một tượng Tàrà, tháp số A1-304, chép bằng tiếng Sanskrit.
  1. Tượng: Rất nhiều tượng Phật, tượng các vị Bồ-tát cùng các vị thiên thần khác. Vì Nalanda là trung tâm của Phật giáo Đại thừa nên ngoài tượng Phật, còn có nhiều tượng các vị Bồ-tát nữa. Phần lớn tượng thuộc thời đại Pàla, nhưng cũng có vài tượng thuộc thời đại Gupta. Các tượng ở đây không được to lắm, nhưng điều đặc biệt là số lớn tượng làm bằng kim khí. Cũng có một vài tượng Ấn Độ giáo chứng tỏ Ấn Độ giáo đã có lần đến chiếm cứ Nalanda như đã chiếm cứ các chỗ khác. Các tượng Phật bằng đồng đen, có tượng số 1-532 rất đặc biệt đặt trên một hoa sen tròn. Các tượng Bồ-tát cũng rất đặc biệt và đẹp, so sánh với các tượng ở chỗ khác. Có tượng Bồ-tát Padmapàni với cành sen cầm ở tay. Có tượng đức Avalokitesvara số 12 cầm chuỗi hột, cành hoa sen và bình dương chi. Ngồi trên một con sư tử là tượng Vajrapàni, số 9-157, không hiểu là tượng đức Đại Thế Chí hay là ngài Phổ Hiền, thiếu tài liệu nên không thể nhận ra. Lại còn nhiều tượng khác như Manjusri (đức Văn Thù), Jambhala (?) Tàrà (Chuẩn Đề), Trailokyvijaya Prajnàpàramità (Bát-nhã Ba-la-mật), Màrìchi Sarasvatì, Aparàjità, v.v

* Trang 311 *
device

c) Khuôn dấu: Nhiều con dấu và tấm đồng được tìm thấy trong các tinh xá có những khuôn dấu khắc tượng Phật hoặc một câu trong kinh điển; lại có những khuôn dấu của Nalanda Đại học viện. Như khuôn dấu “Sri Nalanda Màhà Vihàrìyarya Bhikhsu Sanghasya”, dịch là: “Của giáo hội đại đức tại tinh xá ở Nalanda”. Hàng chữ khắc này có hình pháp luân với hai con nai hai bên. Nhiều khuôn dấu chứng tỏ một tinh xá hoặc trú xá đều có dấu riêng. Lại cũng có những khuôn dấu thuộc của vua Narasinha Gupta và Kumà Ragupta 2 thời Gupta, Bhàskaravarman ở Assam, Harshavaàrdhama ở Kanauj và nhiều vị vua hoặc thái tử khác. Những khuôn dấu ấy chứng tỏ các nhà vua đều đặc biệt chú trọng và ủng hộ Nalanda, học viện có tiếng nhất ở Ấn Độ.
d) Đồ gốm: Những đồ gốm được tìm thấy ở Nalanda chứng tỏ trình độ văn minh của dân chúng thời ấy đã lên một mức độ khá cao.
 
*
*     *

* Trang 312 *
device

 
Đức Phật của chúng ta