LOGO VNBET
b. Thư của Đại đức Thích Minh Châu ở Ấn Độ gởi thăm Phật tử Việt Nam trong dịp kỷ niệm Đức Phật xuất gia 8-2 năm Nhâm Dần

Cùng toàn thể Phật tử Việt Nam và
độc giả báo Liên Hoa.

Tôi đi xa Việt Nam như thế này cũng đã gần 10 năm rồi; 10 năm qua, thế sự thay đổi nhiều, lòng người trắng đen cũng lắm, nhưng người Phật tử đối với đức Từ Phụ và chánh pháp của Ngài vẫn một mực trung kiên. Và chính sự trung thành giản dị và nhiều ý nghĩa này là sợi giây liên lạc nối liền các Phật tử, trong nước hay ngoài nước, xuất gia hay tại gia, lão thành hay thơ ấu. Và vì vậy, dầu tôi có đi xa Việt Nam, tôi vẫn cảm thấy sống trong đại gia đình Phật tử Việt Nam và dầu nhiều năm tôi ít được thư của Phật tử Việt Nam, hay không viết thư riêng cho quí Phật tử, tôi vẫn cảm thấy sống gần với các Phật tử trong nước, sống hành đạo và phụng sự đạo. Tôi đã viếng thăm Cao Miên, ở Tích Lan đến 5 năm, ở Miến Điện gần 6 tháng, và ở tại Ấn Độ hơn 6 năm, đi chỗ nào tôi cũng cố gắng tìm hiểu tình hình Phật giáo và dân chúng trong nước. Qua sự kinh nghiệm và nhận thức của tôi, tôi cảm thấy Phật giáo Việt Nam, dầu còn

* Trang 328 *
device

nhiều thiếu thốn nhưng vẫn có thể tự hào là trung thành với tinh thần Phật giáo nhất. Đây không phải là một thái độ quá thiên vị và tự tôn chủng tộc, cũng không phải là một lời tán dương Phật tử Việt Nam, mà chỉ là một sự nhận xét chân thành, phát sanh từ những kinh nghiệm nhiều năm ở hải ngoại, đi đôi với sự suy tưởng chín chắn chân tinh thần đạo Phật. Vì vậy khi người ngoại quốc mà muốn thăm Việt Nam, tôi bao giờ cũng vui vẻ viết thư giới thiệu với Tổng Hội Phật giáo Việt Nam, với lòng tin tưởng rằng những ai được sống gần Phật tử Việt Nam sẽ mến phục và có cảm tình với Phật giáo Việt Nam nói riêng và nước Việt Nam nói chung. Phật giáo Và tin tưởng của tôi không bao giờ phải bị thất vọng cả. Những khách đến viếng thăm Phật tử Việt Nam, tán thán tinh thần phụng sự và trung thành với đạo Phật, dầu gặp bao nhiêu nguy hiểm gian nan, mến phục sự tiếp đón nồng hậu của Phật tử Việt Nam. Phật giáo Việt Nam trung thành với tinh thần phóng khoáng và từ bi của Đại thừa, nhưng không rơi vào sự phóng dật, khinh rẻ giới luật Tiểu thừa, vì Phật tử Việt Nam bao giờ cũng lấy giới bổn Tỷ-kheo làm căn bản. Nhưng trong sự kính trọng luật tạng Tỷ-kheo, Phật tử Việt Nam không vấp vào sự chấp trước sự tướng của Tiểu thừa. Phật giáo Việt Nam biết hòa đồng tinh thần phóng khoáng Đại thừa và kính trọng luật tạng Tiểu

* Trang 329 *
device

 thừa và như vậy gìn giữ đứng đắn chơn tinh thần đạo Phật. Đó là điểm chính khiến Phật tử ngoại quốc tôn trọng quý mến Việt Nam. Và thêm vào tánh tình rộng rãi và sự chiêu đãi nồng hậu của người Việt Nam, khách đến thăm Việt Nam tự nhiên có cảm tình với Phật tử Việt Nam và nước Việt Nam.
Đi song song với sự phụng sự đạo Phật của Phật tử trong nước, tôi ở hải ngoại cũng luôn luôn nghĩ đến sự đóng góp một phần nào cho sự thịnh vượng chung của Phật giáo toàn quốc. Hiện nay tôi đã viết xong bản Luận văn Bác sĩ Triết học của tôi về vấn đề: “So sánh giữa bản Hán văn Trung A-hàm và bản Pàli Majjhima Nikàya”. Viết quyển này, phải biết hai thứ tiếng Hán văn và Pàli, rồi phải dùng Anh văn làm chuyên ngữ.
Bản chữ Hán Trung A-hàm là dịch từ chữ Phạn “Sanskrit” nên trong khi dịch chữ Hán ra Anh văn, nhiều đoạn phải dẫn chứng tiếng Sanskrit cho dễ hiểu và nhiều khi phải trích lục hành trang Sanskrit, thành thử bản Luận văn của tôi có nhiều đoạn bằng chữ Sanskrit. Ngoài ra, để chứng thực nhiều vấn đề bàn đến, tôi phải dẫn chứng nhiều đoạn Pháp văn trích trong các tác phẩm viết bằng chữ Pháp, vì vậy bản Luận văn của tôi có vài đoạn trích bằng tiếng Pháp, không được cho nhiều lắm vì phần lớn tôi phải dịch

* Trang 330 *
device

qua Anh văn, kẻo bên này ít người biết đến Pháp văn. Ngoài ra, vấn đề tôi trình bày trong tập Luận văn của tôi hoàn toàn là một vấn đề mới mẻ: “Sự so sánh đối chiếu giữa bản chữ Hán Trung A-ham và bản Pàli Majjhima Nikàya”. Học giả thế giới nay thông hiểu kinh tạng Pàli nhiều, nhưng rất ít biết đến kinh tạng Hán văn. Còn những nhà thông hiểu Hán văn lại ít biết đến Pàli. Tập đối chiếu giữa Hán văn và Pàli như bản Luận văn của tôi làm thỏa mãn cả 2 hạng học giả trên. Ngoài ra, bản Trung A-hàm thuộc phái Nhất thế hữu bộ và bản Pàli Majjhima Nikàya thuộc phái Thượng tọa bộ. Vì các bản Sanskrit bị thất lạc nên rất ít người biết đến phái Nhất thế hữu bộ. Vì vậy bản Luận văn Bác sĩ của tôi sẽ được nhiều Học giả thế giới chú ý. Vì tôi trình bày giáo lý của Nhất thế hữu bộ song song với giáo lý của Thượng tọa bộ. Bản luận văn của tôi dày hơn 1300 trang, nhưng phải loại bớt đi sợ quá dày nên chỉ còn lại hơn 800 trang. Nay tôi đang duyệt lại để đem in và cũng phải bỏ bớt độ 200 trang nữa, vì thời đại này ít ai có can đảm đọc Luận văn dày hơn 400 trang cả. Tuy vậy, tôi vẫn giữ lại những mục chính, không cho sự cắt bỏ này tổn hại đến đại cương của quyển sách tôi. Trong khi chờ đợi kết quả bản Luận văn Bác sĩ Triết học của tôi, tôi cũng đã soạn xong một tập đối chiếu giữa bản Hán văn Na Tiên Tỷ-kheo kinh với bản Pàli Milinda

* Trang 331 *
device

-panha, bản này đã duyệt lại và có thể được in một lần với bản Luận văn của tôi. Hiện nay tôi đang soạn thêm tập đối chiếu giữa bản Hán văn Trường A-hàm và bản Pàli Dìgha Nikàya và đang viết một quyển sách nữa về ngài Huyền Tráng. Tôi hoàn toàn hồi hướng tất cả công đức trên cho Phật giáo và Phật tử Việt Nam với lòng tin tưởng chân thành rằng, những công tác của tôi sẽ giúp cho Phật giáo thế giới biết đến Phật tử Việt Nam và một lối phụng sự trực tiếp cho Phật giáo văn chương thế giới. Tôi cũng vẫn biết các quyển sách của tôi sẽ không đem lại một nguồn lợi vật chất nào cho tôi, vì những quyển sách của tôi đâu có phải là quyển tiểu thuyết; nhưng trong khi phụng sự cho đạo và cho văn chương, quá thiên về lý tài có thể làm vẩn đục sự trong sạch cao thượng của ý nghĩa phụng sự.
Tôi đi lâu như thế này có một vài Phật tử lo ngại sợ tôi sẽ quên Việt Nam, làm như đạo Phật có thể là một đạo làm mất căn bản, phá hại gia đình, tổ tiên, làng xóm, nước nhà thân yêu. Tôi có thể quên nước Việt Nam và các Phật tử Việt Nam khi tôi không còn là Phật tử. Mà khi tôi còn là Phật tử, thì dầu tôi có xa nước Việt Nam rất lâu, tôi vẫn mãi mãi nhớ đến Phật giáo và Phật tử Việt Nam. Điều chúng ta không nên ngại, không phải vì sự cách biệt không

* Trang 332 *
device

gian và thời gian, trong nước hay ngoài nước, chúng ta chỉ nên sợ khi chúng ta không còn là một Phật tử mà thôi. Vậy điều cần hiện tại là mỗi mỗi Phật tử chúng ta hãy cố gắng làm tròn bổn phận mình đối với đạo trong phạm vi hoạt động của mình, thì dầu chúng ta có cách xa nghìn trùng, chúng ta vẫn sống chung trong đại Gia đình Phật tử, cùng nhau tôn thờ một lý tưởng, một mục đích thiêng liêng chung.
Từ khi tôi đi xa Việt Nam, nước thân yêu của chúng ta luôn luôn bị nạn binh lửa can qua, non sông đổ nát, dân chúng điêu linh, nên tự cá nhân tôi không bao giờ thấy vui vẻ và luôn luôn ngậm ngùi lo ngại cho sự an toàn của Phật tử nước nhà. Càng thấy nước nhà gian khổ nguy biến, tôi càng cảm phục và tán thán đạo tâm chân thành của Phật tử  Việt Nam, luôn luôn phụng sự và hy sinh cho đạo, giữ vững tinh thần truyền thống của đạo Phật Việt Nam dầu trải bao nhiêu nguy biến gian lao. Chính tinh thần phục vụ bất khuất và cao quí này đã liên lạc chặt chẽ Phật tử trong nước và ngoài nước và khiến chúng ta tin tưởng ở tương lai xán lạn của một nước Việt Nam bất diệt và ở sự phục hưng rực rỡ của đạo vàng muôn thuở.
 
*

* Trang 333 *
device

 
Đức Phật của chúng ta