LOGO VNBET
CHỮ  NGHIỆP
TRONG  ĐẠO  PHẬT *

Lời nói đầu : Con người ở đời, vui buồn, giàu nghèo, thông minh, ngu dốt, mỗi người mỗi tính tình, mỗi người mỗi hoàn cảnh riêng biệt sai khác nhau.
- Phải chăng là một sự rủi may mù quáng hay là một sự ngẫu nhiên tình cờ. Nói rủi may mù quáng thời không trả lời được gì, tức là bó tay đầu hàng trước khi trả lời; vả lại chúng ta thử xét sự đời có cái gì tự nhiên sinh, do rủi may đưa đến không ?
- Phải chăng do một vị Thượng Đế tối cao chỉ định ? Như vậy vị Thượng Đế ấy ở đâu đến hay là chỉ do sự tưởng tượng của trí óc con người mới phát sinh. Nếu thật có vị Thượng Đế chỉ định đi nữa, thời vị Thượng Đế ấy không sáng một chút nào, vì đã sáng tác nhiều cảnh giới không tốt đẹp từ con người đến hoàn cảnh.
- Phải chăng do sự di truyền và hoàn cảnh ? Lẽ dĩ nhiên sự di truyền và hoàn cảnh có ảnh hưởng nhiều đến con người; nhưng đối với sự sai khác nhỏ nhiệm giữa người và người thời không đủ để cắt nghĩa, như chúng ta thấy hai anh em sinh đôi, hình thể rất giống nhau, nuôi dưỡng trong một hoàn cảnh như nhau, thế mà tính tình, tư tưởng trái ngược nhau. Vả lại nếu xét



*Phỏng theo “Le Kamma” của Đại đức Narada.

* Trang 65 *
device

về sự tương thành của bào thai, do tinh trùng bên nam bên nữ phối hợp và tinh trùng này là di sản của cha mẹ để lại (như vậy nêu rõ ảnh hưởng của sự di truyền huyết thống), chúng ta phải tự hỏi sức mạnh gì khiến hai tinh trùng ấy phối hợp lại, sức mạnh gì nuôi dưỡng tinh trùng ấy khiến bào thai được kết hóa, sức mạnh gì chủ động sự hình thành thân xác con người và tính tình con người. Sự di truyền chỉ cắt nghĩa những sự tương đồng đại cương, mà phải bó tay trước những sự sai biệt. Các tế bào cực vi thuộc vật chất mà chúng ta lãnh thọ nơi cha mẹ chúng ta, chỉ cắt nghĩa được một phần con người mà thôi.
Theo đạo Phật, tất cả những sự cách biệt sai khác, không những chỉ do sự di truyền hoàn cảnh xung quanh của cảnh vật chung sống và của các thức ăn, mà cũng là do ở Nghiệp (Kamma) của tự thân, hay nói một cách khác, do gia tài chúng ta hưởng thọ của những Nghiệp chúng ta ở quá khứ và hiện tại. Chúng ta là kết tinh của tất cả những Nghiệp chúng ta, bởi vì chúng ta chỉ là sự kết hoá biểu hiện của Nghiệp.

I. ĐỊNH NGHĨA

Tiếng Phạn là Karma (tiếng Pàli Kamma), nghĩa là hành vi hay hành động, nghĩa là tất cả hành động cố ý của một sinh vật ở trên cõi đất, dầu thuộc về thân, khẩu hay ý, đều gọi là Nghiệp. Nói một cách rốt ráo và rộng rãi, thời mọi hành động dầu không quyết ý cũng gọi là Nghiệp. Nhưng ở nơi đây, đứng trong phạm vi con người mà nói, thời phải có sự quyết ý mới gọi là Nghiệp.

* Trang 66 *
device

II. ĐẶC TÍNH CỦA NGHIỆP

1. Nghiệp chỉ định chi phối tất cả. Đó chỉ là một định lý tự động, đương nhiên như vậy, không phải do một vị Thượng Đế sáng tạo. Thiết thực tự nhiên như nước tìm sự thăng bằng của mặt nước, Nghiệp cũng tìm đến kết quả tất nhiên của nó. Đạo Phật không công nhận một vị Thượng Đế tạo hóa và một linh hồn được sáng tạo, mà chỉ tin một định lý tự nhiên và công lý tự nhiên. Định lý và công lý ấy chuyển biến theo một dòng chuyển biến không thay đổi, và thường tại, độc lập và tự trị. Định lý ấy, không một vị chúa tể, môt Đức Phật, một người nào có thể ngăn được cả.
2. Nghiệp không có nghĩa thưởng phạt, không có tính cách luân lý.Tính tình, tư tưởng, vui buồn, giàu nghèo, v.v... của con người không phải do sự thưởng phạt của một đấng nào cả, mà chỉ là kết quả tất nhiên của những Nghiệp nhân đã tạo ra.
3. Mọi sự hành động thiếu sự quyết ý, không tác thành Nghiệp.Có sự quyết ý, con người mới dùng thân, miệng, ý mà tạo Nghiệp. Trong sự giải thoát, sự quyết ý là một điều rất quan trọng. Tất cả ý nghiệp, khẩu nghiệp và thân nghiệp của chúng ta đều chịu sự chi phối, sự kiểm soát của ý chí hay của tâm thức.

* Trang 67 *
device

4. Nghiệp không có tính cách cố định, không có nghĩa là định mệnh.Nghiệp không có nghĩa là nghiệp dĩ, nghĩa là đời sống hiện tại hoàn toàn là kết quả của hành vi quá khứ, nhân lực hiện tại không thể chi phối đời sống hiện tại của con người. Lý thuyết cho rằng chúng ta do một vị Thượng đế toàn năng tạo thành và vị ấy có đặc quyền chỉ định chi phối đời sống của chúng ta, chúng ta do một Nghiệpmãnh liệt tác thành, định đoạt trước đời sống của chúng ta, tức là công nhận một lý thuyết định mệnh, và Đức Phật không bao giờ công nhận một lý thuyết định mệnh như thế.
Sự thật, đời sống chúng ta được tạo thành bởi hai thứ hành động : Hình thức đơn giản của đời sống ấy có được là do sức mạnh của Nghiệp quá khứ; còn tất cả hình thức sự sống cụ thể là do sức mạnh của Nghiệp hiện tại. Như vậy các Nghiệp hiện tại có đủ năng lực ngăn dứt, chuyển đổi sự hình thành của Nghệp nhân quá khứ. Theo định lý Nghiệp trong đạo Phật, chúng ta không phải luôn luôn bị một định luật khắc khe chi phối, bởi vì Nghiệp không phải là số mệnh, không phải là tiền định, do một năng lực bí mật vô hình phán đoán bắt buộc chúng ta phải nhắm mắt tuân theo. Chính do hành động của tự thân phản ứng đến đời sống của chúng ta, và như vậy chúng ta có thể tự thay đổi hoàn toàn dòng sống Nghiệp của chúng ta.

* Trang 68 *
device

5. Nguyên nhân của Nghiệp. Cái gọi là Ngã, một sự hòa hợp tinh thần và vật chất, lãnh thọ những cảm xúc bên ngoài và trong, phát sinh những cảm giác; vì sự mê mờ đối với tự thân và thật tính của sự vật nên mới có sự nhận thức sai lầm, do đó mới sinh ra những tác động tạo thành nhiều cảnh giới sai khác. Chính bởi sự mê mờ thật tính của sự vật mà Nghiệpdồn dập lại.
6. Ai tác động thành Nghiệp. Ai hưởng quả của Nghiệp.Sự thật không ai tác động thành Nghiệp, không có ai hưởng quả của Nghiệp. Chỉ có dòng nước của những phần tử hòa hợp trôi chảy. Hình thể con người chỉ là biểu thị tạm thời của Nghiệp lực. Danh từ Sinh vật chỉ có giá trị một ước lệ. Theo sát với định nghĩa của chữ sinh vật, sinh vật chỉ là sự hoà hợp của hai phần vật chất và tinh thần. Chúng ta tự thấy rõ, không có người hành động ngoài sự hành động, không có người thọ lãnh ở một bên cảm giác, không có người tri giác ở sau tâm thức; cảm giác tự nó lãnh thọ những quả của hành động. Vậy chỉ có sự quyết ý hay ý chí tự nó là sức tác động. Ngoài những trạng thái tâm lý ấy, không có một người nào gieo nhân và hái quả. Một khi cây vừa mới kết trái ở một chỗ nào trên thân cây, người ta nói rằng : cây sinh trái hay cây có quả. Đối với năm Uẩn được gọi tên là loài người hay chư thiên, khi một kết quả hạnh phúc hay đau

* Trang 69 *
device

khổ thành thục trong một giai đoạn nào, người ta nói rằng vị Trời hay con người kia được sung sướng hay đau khổ. Và nơi đây, thật rõ ràng không có người gieo nhân và không có người hưởng quả ngoài sự quyết ý cảm giác.
7. Nghiệp ở chỗ nào ?Nghiệp không phải ở trong trí óc bởi vì trí óc không thể có một chỗ nào lãnh
thọ; cũng không phải ở một chỗ nào trong các cơ thể phức tạp và luôn luôn thay đổi của con người; những hệ thuộc với thân năm Uẩn hay của dòng tâm thức sẽ phát hiện mọi kinh nghiệm của một cá nhân từng trải, mọi ảnh hưởng của mỗi cá nhân thâu thập mọi cảm giác của mỗi cá nhân lãnh thọ; kinh nghiệm, ảnh hưởng, cảm giác ấy có thể là Thiện hay Ác. Tóm lại, tất cả sức mạnh của Nghiệp đều tùy thuộc dòng năng lực luôn luôn sẵn sàng biến hiện trong những hiện tượng phức tạp, tùy theo trường hợp.

III. SỨC MẠNH CỦA NGHIỆP

Các Nghiệp tác thành những sức mạnh chi phối con người và mọi hoàn cảnh, không một sự vật gì có thể thoát ra ngoài sự chi phối của Nghiệp.
1.  Thân thể, tính tình, tư tưởng và hành động của con người đều do Nghiệp lực chi phối. Chính Nghiệptác thành thân thể, tình tình và tư tưởng con

* Trang 70 *
device

người; chính sự sai khác về Nghiệp của từng người tác thành sự sai khác về thân thể, tính tình và tư tưởng giữa tất cả mọi người. Và hành động của con người, từ lời nói, ý nghĩ cho đến việc làm đều chịu sự chi phối của Nghiệp.
2. Hoàn cảnh của mỗi con người hay của cả một dân tộc đều do Nghiệp lực chi phối.Hoàn cảnh của một dân tộc hay của một người đều do cộng nghiệp của cả một dân tộc hay biệt nghiệp của từng người tạo ra. Một người chí thiện, một dân tộc chí thiện đều tạo tác những hạnh nghiệp chí thiện sức mạnh của những Nghiệp chí thiện ấy tạo thành những hoàn cảnh chí thiện.
3. Nghiệp lực chi phối sự đi đầu thai. Chính Nghiệp thúc đẩy dòng đời trôi chảy, và sự sống chết chỉ là những giai đoạn của dòng Nghiệp. Mỗi sự sinh đẻ mới chỉ xây thêm một lớp hình thức mới, chớ dòng tâm thức vẫn tự tại trôi chảy, không dừng nghỉ, mặc dầu có sự tan rã của cỗ xe vật chất. Với sự dừng nghỉ của Nghiệp, đời sống sẽ không còn trôi chảy. Khi đang còn sự chồng chất của Nghiệp, thì dòng sống của cuộc đời luôn luôn trôi chảy. Chính Nghiệp lực chi phối tâm thức ban sơ trong lúc thụ thai và đem sự sống vào cho cái thai. Nghiệp chính thật là di sản, phối hợp tinh trùng và trứng làm

* Trang 71 *
device

 nguyên nhân phát sinh ra các sinh vật. Theo Khoa học chúng ta do cha mẹ sinh ra, và đời sống này tiếp nối đời sống khác; theo đạo Phật, chúng ta do những Nghiệp của chúng ta sinh ra và sự sống  này tiếp nối sự sống khác.

IV. NGHIỆP VỚI QUẢ BÁO

Hành nghiệp là Nhân và quả báo là Quả, là phản ứng của Nghiệp. Cũng như bóng theo hình, mọi hành động có ý đều có kết quả tùy thuộc. Nghiệp nhân có thể so sánh như một hột của cây xoài; trái xoài, quả của cây do hột xoài sinh ra cũng như quả báo. Những bông, lá, v.v... đối chiếu với sự sai khác ở ngoài như sức khoẻ, giàu sang, nghèo hèn, v.v... Các nghiệp đều phát sinh kết quả tất nhiên của nó, hoặc trong hiện tại, hoặc ở tương lai. Năng lực tạo thành kết quả tất nhiên của nó đều tiềm tàng trong nghiệp; chính nhântạo thành quảquả giải thích nhân.

V. CÁC LOẠI NGHIỆP

Đạo Phật chia chẻ Nghiệp thành nhiều phân loại :
  1. Ba nghiệp về thân, khẩu, ý : Bao trùm tất cả hành động của con người :

* Trang 72 *
device

a. Thân nghiệp : là những hành động về thân, như đi, đứng, làm ...
b. Khẩu nghiệp : là những lời nói phát từ nơi miệng của người, như khen, chê, nói, hát ...
c. Ý nghiệp : là ý tưởng, suy nghĩ, quán niệm.
2. Dẫn nghiệp và mãn nghiệp tác thành sự sai khác giữa con người và hoàn cảnh :
a. Dẫn nghiệp, là những nghiệp tác động dắt dẫn tâm thức chịu quả báo vào một loài nào; như tạo nghiệp làm người xứ nào, hoàn cảnh nào, thì Dẫn nghiệp dẫn sinh quả báo loài người xứ ấy, hoàn cảnh ấy.
b. Mãn nghiệp, là những nghiệp tác động sự hưởng thọ sai khác giữa con người đồng chung một dẫn nghiệp, dẫn nghiệp dắt dẫn vào thế giới loài người thời mãn nghiệp chi phối sự hưởng thọ sai khác như có người giàu, nghèo, thông minh, ngu dốt, v.v...
3. Quả vị tu chứng trên đường tu hành được chia ra :
a. Hữu lậu thiện, là những nghiệp khiến con người được sinh về cõi nhân, thiên.
b. Bất động nghiệp, là những nghiệp của hàng chư thiên ở Sắc giới và Vô sắc giới, tâm thường thiền định, tùy theo cấp độ định mà thọ quả ở thiên giới.

* Trang 73 *
device

c. Vô lậu nghiệp, là những nghiệp làm con người thoát khỏi biển khổ sinh tử.
d. Bất tư nghì nghiệp, là nghiệp của các vị đã thấu rõ chơn tâm, tuy không mắc vào một nghiệp nào có thể hiện ra vô số thân, làm vô số nghiệp mà độ sinh, không thể nghĩ ngợi bàn tính được.
4. Về những nghiệp chi phối sự đi đầu thai thì chia ra :
a. Tích lũy nghiệp, là những nghiệp chất chứa từ đời này sang đời khác.
b. Tập quán nghiệp, là những nghiệp tạo thành từng tập quán trong một đời.
c. Cực trọng nghiệp, là những nghiệp đặc biệt quan trọng lấn lướt tất cả nghiệp khác.
d. Cận tử nghiệp, là những nghiệp khi gần chết, rất mãnh liệt, chỉ định chi phối sự đi đầu thai của con người.

VI.  KẾT LUẬN

1. Định lý của Nghiệp đem lại hy vọng, sự nhận thức trách nhiệm và sự can đảm tinh thần cho một Phật tử. Một khi gặp những trở lực, những thất bại, những sự thử thách không thể kham nhẫn, người Phật tử nghĩ  rằng đó là kết quả của tất cả những hành động của mình ở thời quá khứ và hiện tại.

* Trang 74 *
device

2. Định lý của Nghiệp cho phép tự mình xây dựng đời sau của mình. Trong khi nhổ lên những cây cỏ hoang dại, người Phật tử gieo những hột giống tốt để thay thế vào, bởi vì tương lai ở trong tay người Phật tử.
3. Người Phật tử tin tưởng ở định lý của nghiệp sẽ không cầu xin ai để được giải thoát, mà chỉ tự tin ở chính mình để giải thoát cho mình. Người Phật tử không cầu khẩn một vị siêu hình nào, mà đặt lòng tin tưởng vô thượng vào ý chí và luôn luôn làm việc lợi ích chung cho đoàn thể, cho xã hội.
4. Lòng tin tưởng vững chắc trong định lý của nghiệp sách tấn sức hoạt động của người Phật tử và làm sống dậy sự lạc quan.
5. Lòng tin tưởng ấy khuyến khích người Phật tử làm tất cả những điều lợi ích cho mọi người mà không làm điều gì có hại. Người Phật tử dần dần trở nên tốt đẹp và tiến dần trên con đường giải thoát và giác ngộ.
*

* Trang 75 *
device

 
Đức Phật nhà đại giáo dục