LOGO VNBET
ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI TÔI
CÓ Ý NGHĨA GÌ ? (*)


Đạo Phật đối với tôi, không phải là một giáo điều hay là một nhóm tín điều của riêng một tôn phái, một học phái hay một giáo phái nào, mà chính là một dòng nước vĩ đại chảy xuống với chúng ta, từ ngàn năm về trước, và dòng nước ấy tập trung tất cả kinh nghiệm qua vô số thời đại của những tín đồ, triết gia, thi sĩ, nghệ sĩ, học giả và các bậc Đại đức, tất cả những người này cùng gây dựng sự phong phú kỳ diệu của dòng nước ấy.
Nguồn gốc của giòng nước ấy là vị Đại giác, hay đúng hơn, sự chứng nghiệm của giác ngộ, một trạng thái của tâm thức, phổ biến và phong phú đến nổi, sau 2500 năm, chúng ta chưa làm nông cạn được những khả năng  diễn đạt và những pháp môn chứng ngộ vô lượng của sự chứng nghiệm ấy.
Nhưng đại tôn giáo và những truyền thống tinh thần không phải là những phát minh cá nhân, dầu



(*)Lama Anagarika Govinda,

* Trang 91 *
device

chúng được những bậc đại nhân xướng khởi đầu tiên. Chúng được phát triển lớn dần từ mầm giống của những tư tưởng sáng tác, những thực nghiệm vĩ đại và những trực giác sâu kín. Chúng lớn dần trải qua nhiều thời đại, thể theo định luật riêng của chúng, như một cây hay những cơ thể động vật khác.
Những lời Đức Phật có thể dạy cho chúng ta chỉ là một phần của những gì Đức Phật đã dạy với tự thân của Ngài, với cá tánh của Ngài, với sự mô phạm linh động của Ngài. Và tất cả những điều trên cũng  chỉ là một phần nhỏ của sự thực nghiệm tinh thần của Ngài. Chính Đức Phật cũng đã biết sự khiếm khuyến và giới hạn của lời nói và văn từ. Ngài đã ngần ngại truyền dạy bằng lời nói những gì quá sâu kín và tinh vi để luận lý suông và trí thức tầm thường của loài người có thể nhận hiểu. Dầu vậy nay vẫn có người chỉ thấy đạo Phật là một đạo lý trí, và với hạng
người này, lý trí triệt để hạn cuộc vào những phát minh khoa học và những ý luận tuyệt đối của thế kỷ vừa qua!
Những ai tin tưởng hoàn toàn vào văn tự, cũng như những ai xem giá trị lịch sử hệ trọng hơn cả sự Thật, sẽ không bao giờ công nhận như vậy, vì chúng sẽ mất những thành kiến đã được sắp đặt một cách rõ ràng, những khái niệm đã được định nghĩa khúc chiết và những tư tưởng võ đoán, chính những thành kiến,

* Trang 92 *
device

 khái niệm, tư tưởng này giúp đỡ họ khỏi phải suy nghĩ cho họ. Họ buộc tội các học phái đạo Phật về sau đi quá xa Đức Phật trong khi sự thật chính họ là người đã đi quá xa những khái niệm bị thời gian chi phối của những vị đồng thời với Đức Phật và những kẻ kế vị.

Các học phái

Để có một quan niệm vững vàng về đạo Phật, chúng ta không thể dựa vào bằng chứng của riêng một học phái nào, dầu học phái này có thể xưa nhất, vì những kinh điển xưa nhất hiện chúng ta được biết đều được chép ít nhất là 4 thế kỷ sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn và trong thời ấy, ít nhất đã có 18 học phái khác nhau. Những học phái ấy đều diễn đạt lời dạy của Đức Phật một cách xác thật, và chơn chánh nhất có thể có được đối với những hạng người có những tánh tình và nhận thức sai khác nhau. Tất cả đều chân thành sùng thượng Đức Phật và đến với lời dạy của Ngài với một thái độ hết sức cung kính. Vậy nên không gì đáng khen cho một số lớn học giả hiện đại, bị hướng dẫn sai lầm bởi vì một sự tình ngẫu nhiên, những kinh điển của một học phái được gìn giữ tốt hơn hay được hiểu dễ dàng hơn kinh điển của các học phái khác khiến họ xem rằng những kinh điển này là nguồn gốc chơn chánh độc nhất của những lời dạy Đức Phật.

* Trang 93 *
device

Lin Yutang đã nói : “Vì loài người chỉ ưa nhìn vào một biến tướng (phase) của sự Thật mà họ nhận được, và phát triển cùng nâng cao biến tướng ấy thành một hệ thống luận lý hoàn toàn, nên Triết học của chúng ta thường hay đi xa với đời sống. Ai luận đàm đến sự Thật tức làm tổn thương đến sự Thật, ai muốn chứng minh sự Thật tức hủy hoại và xuyên tạc sự Thật. Ai đeo cho sự Thật một nhãn hiệu và một loại học phái tức giết chết sự Thật. Và ai tuyên bố là một tín đồ của sự Thật tức là đã chôn mất sự Thật.”
Chính Đức Phật đã từng hỏi Đại đức A Nan có phải đã theo lời dạy của Ngài và tin Ngài vì lời nói của Ngài. Đại đức A Nan trả lời không phải vậy mà chỉ vì tự mình đã chứng nghiệm những lời Ngài dạy và nhận thấy những lời ấy đúng với sự Thật.
Thái độ của ngài A Nan tượng trưng thái độ của người Phật tử một cách vắn tắt rõ ràng. Đức Phật không muốn bắt đầu một tôn giáo mới hay định nghĩa một giáo điều mới, mà chỉ muốn khuyến khích mỗi cá nhân tự mình kinh nghiệm sự Thật cho mình, và tự tỉnh giác đến sự Thật cuối cùng mà chúng ta gọi là Giác Ngộ. Đức Phật không tự xem mình như là một nhà phát minh một lời dạy mới, Ngài chỉ muốn xem mình như là một người cầm đuốc cho một định lý (Dharma) tinh thần vĩnh viễn, định lý ấy đã được vô số đấng Đại Giác đã chứng ngộ và truyền bá trước

* Trang 94 *
device

Ngài, và định lý ấy cũng sẽ được các Đức Phật tương lai truyền bá tương tự.

Lời dạy Phổ quát(Universal Teaching)

Chính tánh cách phổ biến của đạo Phật đã luôn luôn gây cảm hứng tôi và làm cho đời sống tôi đầy những cảm nhận mới lạ, bởi sự phong phú của những kinh nghiệm tinh thần và những pháp môn chứng ngộ, chính sự phong phú ấy không cho phép tâm trí phải bị tù hãm và thỏa mãn một cách dễ dàng, trái lại mở rộng trước chúng ta những viễn cảnh mới, tại mỗi khúc quanh và góc đường.
Khi tôi còn trẻ tuổi, nhân tính dễ thương của Đức Phật, sự hợp lý và ngay thẳng, lời dạy Ngài đã cảm hoá và ảnh hưởng đến tôi. Lời dạy của Ngài không có gì mâu thuẫn với những định lý của vũ trụ và tác hại đến lương tri con người. Định lý phổ biến, luân lý, vũ tru, nội tâm và ngoại cảnh cùng hòa hợp lẫn nhau để thành một bức họa hòa đồng điều tiết.
Định lý nghiệp về nhơn và quả, định lý duyên khởi ứng dụng vào phạm vi luân lý và tu hành, cũng chắc chắn khi ứng dụng vào phạm vi vạn vật, hình như đã lấp bằng lỗ hở từ trước đến nay giữa tôn giáo và khoa học như phổ thông thường hiểu. Cho đến giáo lý “luân hồi dầu là một sự tin chắc sâu vững và cũng là một sự tu chứng cá nhân đối với tôi tự nhiên

* Trang 95 *
device

và đáng tin hơn, sánh với lý thuyết ra đời chỉ là một sự phối hợp ngẫu nhiên của những sự kiện vật chất và cuối cùng bị đoạn diệt hoàn toàn hay lý thuyết  về một đời sống vĩnh viễn tại một thiên đường.
Tôi may mắn khi còn trẻ được hiểu biết những giáo lý chính của tất cả những tôn giáo lớn trên thế giới, nhưng không bị ảnh hưởng hay bị bắt buộc phải hướng theo một tôn giáo nào, cho đến khi tôi chọn đạo Phật. Sự lựa chọn ấy là sự cảm hóa chơn thành của nội tâm, chứ không phải một cái gì bắt buộc tôi phải nắm lấy vì hoàn cảnh. Chắc chắn tôi đã là một Phật tử trước khi tôi được sinh ra ở đời này.
Tuy vậy, điều đáng chú ý là theo thời gian thay đổi, những phương diện sai khác của một vật giống nhau lại ảnh hưởng hấp dẫn chúng ta sai khác nhau. Khi còn trẻ, phần hợp lý của đạo Phật và hình ảnh “lịch sử” của Đức Phật chiếm địa vị ưu thắng trong sự tin tưởng tôn giáo của tôi, nhưng kinh nghiệm của những năm về sau nêu cho tôi rõ giá trị nông cạn của các biện luận thuộc lý trí và làm cho tôi tin tưởng hơn về giá trị và đặc tánh giác ngộ của Phật.

Một viễn tưởng

Khi tôi nói rằng đạo Phật hiện ra với tôi như một con sông, một viễn tưởng sáng chiếu trong tâm trí tôi, hình ảnh một cuộc du hành dọc theo con sông ấy, và

* Trang 96 *
device

 những kỳ quan linh động phong phú con sông ấy hiện ra trước mắt tôi. Tôi sẽ tả cảnh một vài kỳ quan ấy dầu tôi hiểu viễn tưởng ấy có tánh cách hoàn toàn cá nhân và sự khó khăn thiếu hụt những danh từ và ví dụ để miêu tả.
Ban đầu phong cảnh được bốn hòn núi “Bốn Đế” hùng mạnh ngự trị : Khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế. Hòn núi thứ nhất có vẻ đen thẫm, dễ sợ, bao bọc tràn đầy những than tro và đá Diệm sơn đen xẫm, không có cây cối và một đám mây màu đỏ tía gợi điềm dữ bay lơ lửng như một tấm màn báo hiệu ngày tận số.
Ngọn núi thứ hai phun lửa và khói và những dòng suối đầy phún thạch chảy đỏ tràn liếm sườn núi với những lưỡi đỏ rực, trong khi ấy một trận mưa đá và lửa, tàn phá và diệt tận mọi sự sống xung quanh ngọn núi phẫn nộ ấy. Và một giọng như sấm vang dậy : “Này, Ta tuyên bố cho các người biết, vũ trụ đang bị đốt cháy, bị lửa tham dục, lửa hận thù và lửa vô minh đốt cháy”.
Ngọn núi thứ ba được tắm trong ánh sáng tươi mát của mặt trời và chóp núi rực chiếu với tuyết trắng vĩnh viễn, trên màn trời xanh biếc, - xa bụi đời, trong sạch, ngoài giới hạn của phàm phu... Nhưng một hòn núi thứ tư hiện ra một bên hòn núi ấy, cao dần với tám bực cấp lớn, và từ cấp bực cuối

* Trang 97 *
device


cao hơn hết, một hào quang muôn sắc chói sáng và bắt một mống cầu vồng bảy sắc đến chóp núi trắng và chói sáng ấy. Và giọng nói của Đức Phật lại vang dậy cùng khắp: “Con đường giải thoát đã được tìm thấy, con đường Thánh đạo tám ngành, đưa ngang qua là: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định, cuối cùng đưa đến Niết-bàn giải thoát”.
Có nhiều khu rừng đẹp dưới chân những núi giải thoát và nhiều người muốn tự sửa soạn để leo lên ngọn núi dốc, tự ẩn mình trong những chỗ thanh tịnh của những khu rừng ấy và tự biến mình trong một đời sống thiếu thốn và thiền quán. Và họ tự dựng lên những bức tường xung quanh họ để chống lại với đời và những ảnh hưởng phiền nhiễu của nó. Nhưng họ càng đóng cửa với cuộc đời bao nhiêu, họ càng ít nhận biết những ngọn núi mãnh liệt ấy bấy nhiêu và tiếng động nước chảy của con sông lớn càng nhỏ dần và nhỏ dần.
Cuối cùng, các bức tường trở thành cao, cho đến nỗi ngọn núi Giải thoát không được trông thấy nữa. Nhưng các vị ẩn sĩ còn nhớ được 4 hòn núi và con đường Thánh tám ngành, đưa đến chóp núi cao nhất và viết được nhiều quyển sách bác học về những nguy hiểm và kỳ lạ của những ngọn núi ấy. Và dầu

 

* Trang 98 *
device

cõi đời mà họ đóng cửa lại vẫn nuôi sống họ và cho họ áo mặc, họ cảm thấy như đã độc lập đối với đời và như vậy không còn cần phải từ giã khu rừng họ ẩn núp và bắt đầu leo lên ngọn dốc cao hơn, cử chỉ ấy chỉ một số ít làm được, và càng ít hơn là những người leo lên tận chóp núi. Số ít người ấy không bao giờ trở về nữa.
Nhưng con sông vẫn chảy, chảy mãi như không có gì xảy ra. Và như vậy nhiều năm đã trải qua trong khu rừng dễ chịu ấy, cho đến một ngày kia, tiếng gọi của con sông vang đến một số nhà ẩn sĩ, vẫn còn giữ sống được niềm giải thoát, chưa bị diệt mất hẳn. Và rồi họ bắt đầu dấn mình trên con đường mạo hiểm ấy và chúng càng tiến xa bao nhiêu, họ càng nhận thấy con sông ấy chảy về hướng mục đích mà họ tìm, và con sông ấy càng rộng càng cuộn nhiều nước hơn, nhiều nhà chiêm bái cùng đến san sẻ chiếc thuyền rộng rãi đưa họ tiến tới.

Cứu cánh

Hình như chiếc thuyền lớn dần cùng nhịp với con sông lớn dần và toàn thế giới đều được mời lên cùng đi. Và thình lình, họ nhận thấy con đường chánh 8 ngành đưa họ thẳng ngang qua cuộc đời, và bước đầu tiên là sự nhận hiểu không gì ngăn cách chúng ta và các bạn đồng hành, trừ đó là sự hiểu lầm cho mình là

* Trang 99 *
device

 hạng người độc nhất đặc biệt. Một làn sóng tình thương ấm cúng phát từ quả tim của họ, bao trùm những bạn đồng hành và tất cả mọi chúng sanh cho đến khi chúng cảm thấy rộng mênh mông và tự do như trời rộng bao la. Con đường tinh thần và con sông trở thành một và chảy về phía mặt trời đang lặn và như tự hòa hợp trong ấy.
Và hào quang của mặt trời lan tràn đầy vô số Đức Phật và các vị Bồ-tát, những vị đã đi và những vị sẽ đi. Vì thế giới ấy không còn thời gian và quá khứ cùng vị lai hòa hợp thành một trong hiện tại vĩnh viễn. Vậy nên, mặt trời lặn, chỗ con sông chảy đến, sẽ không bao giờ lặn và hào quang của nó sẽ không bao giờ tàn diệt đối với những kẻ đã hướng đi theo con sông ấy.
 
*

* Trang 100 *
device

 
Đức Phật nhà đại giáo dục