LOGO VNBET
ĐỜI SỐNG GIẢI THOÁT ĐẠO PHẬT
CÓ THỂ THỰC HIỆN Ở ÂU CHÂU KHÔNG ? *


Đã lâu, những tư tưởng triết học của đạo Phật được Âu châu để ý. Trải hơn 2500 năm, đạo Phật được truyền bá trong những nước mà khí hậu, phong tục, dân tộc hoàn toàn khác nhau; và kết quả ấy cho chúng ta rõ rằng phương pháp của Phật dạy không phải dành riêng cho một xứ sở hay một thời đại nào; đạo Phật thật là một đạo giải quyết tất cả những vấn đề gì có quan hệ đến nhân sanh, chung cho toàn thể nhân loại.
Trong khi sự trao đổi văn hóa giữa Tây phương và Đông phương được thắt chặt mạnh mẽ và trong khi những quan điểm về chơn giá trị của nhơn sanh đều bị thay đổi, sự có mặt của đạo Phật ở Âu châu trên nhiều phương diện thật là hợp với lẽ phải. Hình như chúng ta sợ chứng kiến trong những năm sắp đến, nhiều sự cố gắng để ứng dụng đạo Phật trong đời



*E. Franc - Prat (Samathnanda), Hòa thượng Thích Minh Châu trích dịch trong tập “La Pensée Bouddhique” số 6, bộ III, tháng 4 năm 1949.

* Trang 198 *
device

sống văn minh Tây phương. Trong nhiều nước lớn ở châu Âu và ở Mỹ, những hội Phật học và những nhóm hành trì lời Phật dạy đã tổ chức rất có kết quả, và không gì cho phép chúng ta tiên nghiệm nghi ngờ sự thành công của những tổ chức trên. Nhưng sự truyền bá có được nhanh chóng và sự ứng dụng có được kết quả hay không, đều tùy thuộc ở sự cố gắng ứng dụng đạo Phật một cách sáng suốt vào đời sống của xã hội hiện tại: những điều thích hợp với đạo Phật Tây Tạng nhiều khi không thích hợp với đạo Phật Tích Lan và trái lại.
Cái khuôn khổ lớn của phương pháp Phật dạy có thể dùng làm khởi điểm cho mọi quan niệm siêu hình nhưng cũng có thể tự đầy đủ và có thể không ngại gì thực hiện, chứng nghiệm được mà không cần phải có một lòng tin tôn giáo gì. Cho nên người Tây phương không gặp khó khăn gì về phương diện này. Chỗ khó khăn nhứt là ở sự khảo chính lại những quan điểm tâm lý siêu hình của mình mới học hoặc sẵn có riêng cho dân tộc, cho nước nhà, cho hoàn cảnh. Chính trong sự thực hiện đúng đắn ý nghĩa của định lý vô thường (aincca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta) mà đời sống sẽ có nhiều thay đổi mới. Một quan điểm mới về đời sống không thể không gặp nhiều sự khó khăn trong khi chọn lọc và tất cả những tập quán cũ về đời sống trải qua nhiều thế kỷ đã dần dần thành

* Trang 199 *
device

những tín điều, tập tục, những thực lý xã hội, không thể trừ bỏ một cách dễ dàng được. Tuy vậy, đó chỉ là những sự khó khăn về lý giải; những sự khó khăn này có thể bớt dần trong khi nghiên cứu và thực hành đạo Phật. Những sự khó khăn về vật chất (dưới hình thức sự kính trọng giá trị con người) riêng đối với quần chúng, thì rất khó mà thắng được và chính những sự khó khăn ấy thường hay làm cho những người Phật tử không đủ can đảm để đi từ lý thuyết qua thực hành, vì sợ người ta sẽ cho mình là một người lập dị hay người điên. Chúng ta cũng phải công nhận rằng trong trong số những người đến dự những lớp học về Phật pháp, một số đông là vì thích sự mới mẻ của học thuyết ấy hoặc tìm trong ấy một phong vị thần kỳ xa lạ : những hạng người này không bao giờ đi sâu trên con đường đạo và không đáng cho chúng ta bận tâm đến.
Chỉ những Phật tử chân thành là đáng cho chúng ta chú trọng; những hạng Phật tử này hiểu rằng không gì giản dị bằng sự thực hiện những phương pháp Phật dạy; chỉ có những sự hiểu lầm và sự thiếu năng khiếu thực dụng làm cho những kẻ sơ cơ bỡ ngỡ. Những ai muốn tìm những sức mạnh tâm lý siêu hình hay trông mong tìm thấy trong đạo Phật một chơn lý siêu hình nào, thời không hiểu một tý gì về Phật pháp. Chúng ta cũng cần phải coi chừng những ai nhân danh Đức Như Lai truyền bá một đạo Phật huyền bí và có tánh

* Trang 200 *
device

 cách truyền phép. Đạo Phật là cả một phương pháp tâm lý tinh thần học vừa tầm sức mọi người, không đòi hỏi một sự giáo truyền bí mật và đặc biệt nào. Con người luôn luôn đối diện với mình và đứng trước sự cố gắng tìm hiểu và thực hành để tiến đến chỗ hoàn thiện, đến sự thăng bằng và sự giải thoát. Sự tìm hiểu và sự thực hành ấy chứa đủ lời giải của những vấn đề quan hệ đến nhân sanh. Người đệ tử Phật không có những bí truyền của những vị giáo sư hay của những vị thần an ủi nào. Người Phật tử chỉ tìm nguồn sống trong lời dạy của Đức Phật, mà lời giáo huấn từ cuối cùng làm nẩy nở biết bao hy vọng chứa chan : “Tất cả những hiện tượng ở đời đều vô thường, tạm bợ. Đừng có bao giờ chán nản trên con đường phấn đấu để tự giải thoát.”Trải qua rất nhiều thế kỷ, những người Tây phương đã nhờ đến sự cầu nguyện trong những giờ gian lao thử thách và vì vậy người Tây phương bao giờ cũng sẵn sàng tin tưởng vào một sức bí mật thần kỳ đưa chúng ta đến bến mà khỏi một sự cố gắng hay một công trạng gì của tự thân. Cái ánh sáng chói chan chiếu rõ sự cô độc của con người làm cho đạo Phật khó đến với những hạng người còn dính chặt với những quan điểm cổ truyền của sự cứu rỗi. Chúng ta cần phải công nhận rằng sự thực hành đạo Phật cần phải có một sự nhận thức tối thiểu về triết học để nhận chân được những hiện

* Trang 201 *
device

trạng tâm lý trên và để chiến thắng nó. Tuy vậy, vấn đề này rất là rõ ràng thiết thực. Chính tám điểm của pháp Bát Chánh Đạo đã phác họa tất cả chương trình của phương pháp Phật dạy; và nếu không có một người Tây phương nào gặp một sự khó khăn gì không thể vượt qua được, thì chúng ta có thể công nhận rằng một đời sống giải thoát như Đức Phật dạy cách đây 2500, rất có thể thực hiện ở Âu Châu trong thời thế hiện tại.
Một tổ chức Tăng lữ tham gia việc thế tục không có ở trong đạo Phật. Chỉ có hai đời sống đối với người đệ tử Phật : đời sống của một chủ gia đình, sống ở trong đời và chịu những trách nhiệm bổn phận đối với đời và đời sống của vị thầy tu xuất gia, tự vui lòng ra khỏi những sự trói buộc về gia đình. Tất cả đều được ghi trước trong giáo pháp Phật dạy, từ sự lựa chọn những nghề nghiệp thuận tiện cho đời sống và cho sự tiến triển giải thoát, cho đến sự tả chân của những trạng thái giải thoát và xuất trần rất cao siêu. Sự thực hiện lần lần của những giai đoạn trên con đường giải thoát không đem lại cho người thực hành một đặc quyền gì khác, ngoài sự hiểu biết càng ngày càng rộng lớn đối với chân lý Phật giáo. Bao giờ lòng Từ Bi cũng làm chủ tất cả hành động giải thoát của người Phật tử, và vì vậy cho nên, người Phật tử không  được chọn những nghề nghiệp gì có thể đòi hỏi một

* Trang 202 *
device

lòng sắt đá, một sự độc ác trái với lòng thương rộng rãi cùng khắp đối với những vật có sự sống và có biết đau khổ. Cũng có nhiều hoàn cảnh xã hội không cho phép sự phát triển về tinh thần, hoặc vì hoàn cảnh ấy đè nén người Phật tử trong một hình thức câu nệ hẹp hòi, hay là bắt buộc người Phật tử phải có những bổn phận tương phản với sự trong sạch về tâm trí. Sau cùng, chúng ta nhận rõ rằng những ai muốn sống đời sống giải thoát cần phải tự tạo một nhịp sống cho thuận với lý tưởng của mình. Chúng ta có thể tự giảm bớt những bổn phận xã hội và những sự cần dùng của chúng ta. Đời sống giải thoát không đòi hỏi sự cố gắng gì ngoài những sự cố gắng để tạo một đời sống trong sạch và an tịnh. Sự cần thiết đối với người Phật tử là luôn luôn giữ một thái độ bình tĩnh và tự chủ trong tất cả trường hợp. Đó là những điều kiện cần yếu để tiến triển trên con đường giải thoát. Đời sống rộn rịp và nhiều khi tàn nhẫn của thế giới cận đại tự nó không thành một trở lực đối với đời sống Giải thoát ở gia đình, cho người Phật tử biết giữ trong tự tâm, một không khí thuận tiện, giúp mình sống thoát ngoài sự ồn ào của đời sống Tây phương giữa thế kỷ 20 này. Như vậy không có gì ngăn cản sự thực hiện một đời sống thanh tịnh giải thoát ở phương trời tân tiến đối với những người đã hiểu rõ ràng họ muốn gì và vì sao họ muốn như thế. Tuy vậy, chúng ta cần

* Trang 203 *
device

 phải chú ý hai điểm sau đây : Lòng cương quyết của người Phật tử sẽ bị tan rã mau chóng, và tự thân sẽ bị chìm đắm dưới những sự khó khăn và những sự khuấy rối của một đời sống thuần lý, nếu không chịu soạn trước một thời biểu rõ ràng và chặt chẽ, và nếu không chịu để dành trong mỗi năm, nhiều thời kỳ nhập thất an tịnh, trong những thời kỳ ấy, người Phật tử phải sống đời sống kham nhẫn hơn và phải tu hành thiền quán nhiều hơn. Sự thật, người Phật tử chân thành sẽ thấy hai điều kiện trên tự bắt buộc lấy mình và đó là triệu chứng tốt đẹp của sự tiến triển trên con đường giải thoát cùng với sự ưng muốn tu trì mạnh mẽ hơn lên. Sự giao thiệp với đời sống hằng ngày trở thành những thí nghiệm của những kết quả tâm lý tâm trí học và mọi người xung quanh sẽ nhận thấy, tuy không hiểu rõ nguyên nhân một sự thay đổi sâu xa, một sự tự tin mới lạ, một sự cương quyết sáng suốt, nêu cao chơn giá trị của phương pháp Phật dạy. Quan điểm sau này sẽ gặp nhiều sự chỉ trích : người ta không thể tự quyền thay đổi nghề nghiệp của mình, nhiều người vì phải theo nghề nghiệp mà không được sống theo lời Phật dạy. Và như vậy đạo Phật là để dành riêng cho một vài hạng người mà thôi ? Hoàn cảnh xã hội thường hay chi phối con người, và nhiều khi con người chỉ có một sự nhận thức do mực sống của cuộc đời riêng chỉ định... Vả lại, tất cả mọi người

* Trang 204 *
device

không có thể để dành riêng vài ngày trong một năm để an tịnh tu hành được. Tất cả những điều chỉ trích rất chính đáng trên và được nghe nhiều nhất trong những năm gần đây đều tiêu tan trước sự nhận thức : “Ý chí muốn sống cuộc đời giải thoát phải  là một sự cách mạng hoàn toàn về nội tâm”.Như vậy tất cả những vấn đề đời sống đều được thay đổi triệt để và những gì tổ hợp thành đời sống hằng ngày và thấp kém sẽ không còn nữa trong nhịp sống mới lạ của người Phật tử trên con đường giải thoát.
Bao giờ chính mục đích cũng phải định đoạt sự lựa chọn những phương tiện, chớ phương tiện không được chỉ định mục đích. Những ước định xã hội trong đời sống văn minh hiện đại ở Âu châu không thể làm chướng ngại cho thí sinh tiến bước trên con đường giải thoát các nô lệ trói buộc đời sống, bởi những ước lệ ấy ở ngoài đời sống nội tâm của hết thảy mọi người. Đời sống nội tâm riêng biệt của mỗi người là do toàn quyền của mình tự điều khiển và định đoạt, không động chạm một cái gì và một người nào, người Phật tử có thể tự cởi mở những dây nhợi ràng buộc mình với một hình thức tổ chức xã hội không thích hợp với chính mình. Đời sống văn minh ở Tây phương hiện tại không có gì là quá tệ mạt và chúng ta rất có thể tóm quát và giải bớt trừ bỏ, chỉ để giữ lại những gì thích ứng cho sự cải tạo đời sống của con người.

* Trang 205 *
device

Đối với người Phật tử muốn tiến triển trên con đường Đạo, có cần phải có một chương trình riêng biệt gì không ? Dưới đây là lời giải đáp rõ ràng và thiết thực của Đại Đức Nyanatiloka. Ngài là người Âu nên rất đủ thẩm quyền để cho biết ý kiến của ngài về vấn đề này : “Không bao giờ có một chương trình hằng ngày thích hợp cho tất cả mọi người. Chương trình ấy tùy thuộc nhiều ở sở thích và khả năng cá nhân”. Ở đây, chúng ta thấy ngay tất cả sự mềm dẻo của giáo pháp Phật dạy : Một khi đã biết kính trọng những yếu lý đại cương Phật dạy, người ta có quyền sắp đặt đời sống riêng của mình, tùy theo ý muốn. Nhưng ngài Nyanatiloka có thêm một vài yếu điểm tối thiểu mà một Phật tử cần phải gìn giữ : “Mỗi ngày, cần phải tán thán cung kính Tam Bảo và tụng đọc năm giới điều Phật dạy, buổi sáng và buổi chiều. Có thể thêm phép quán tưởng về hạnh Từ Bi, về sự vô thường giả tạm của muôn vật, về lý vô ngã hay về sự ích kỷ”. Chúng ta thấy rõ rằng nguyên tắc của đời sống này không gì tương phản với đời sống Âu Tây. Đời sống xã hội và đời sống gia đình đều được ghi trước trong kinh điển Phật dạy. Sự giao thiệp ở đời giữa bạn bè, bà con, giữa người trên và kẻ dưới đều được định rõ một cách minh bạch, và điểm này chứng minh rằng đạo Phật không phải là kẻ thù của mọi tổ chức xã hội và chủ nghĩa cá nhân.

* Trang 206 *
device

Tột điểm của Phật dạy đều xây dựng trên sự sáng suốt và chỉ có mục đích là giúp đỡ sự phát triển tự do của lý trí. Một phần ba nhân loại là Phật tử, điều đó chứng tỏ rõ ràng là phương pháp Phật dạy có tính cách quốc tế. Tại sao Âu châu lại không được phép tham dự vào quan điểm luân lý tâm lý học của đời sống và của sự giải thoát con người bởi tự chính mình này ? Sự thật, sức mạnh giáo pháp đạo Phật đều nhờ Đức Phật chú trọng nhiều về đời sống bên trong. Tất cả ngoại cảnh dầu dưới hình thức gì cũng thành một sự phụ thuộc mà người đệ tử cần tìm hết năng lực để lợi dụng, bằng cách nhận thức đúng đắn những nguyên nhân tác động và sự phản ứng của những cảm giác và lãnh thọ tiếp diễn theo. Vậy nên, không có một hiện tượng tốt hay xấu mà chỉ có những hiện tượng thuận tiện hay trở ngại cho sự tiến triển trên con đường giải thoát. Sự hệ trọng chỉ ở nơi sự phản ứng của từng trạng thái do ngoại cảnh hay do ý muốn tác động. Lẽ dĩ nhiên lòng mê tín của quần chúng có thêm cho mọi cử chỉ thuần thiện những đức tánh thần bí giải thoát. Vậy nên chúng tôi nghĩ không nên phán đoán một phương pháp tâm lý liệu pháp (psychothérapie) học như đạo Phật, theo sự tín ngưỡng của một vài dân tộc.
Mỗi khi chúng ta muốn nghiên cứu đạo Phật để tổ chức đại chúng, chúng ta thấy nhiều sự trở ngại

* Trang 207 *
device

 nhất là hình như đạo Phật thiên trọng nhiều về sự giải thoát cá nhân. Đức Phật chỉ nói với những hạng người tự hiểu mình và cương quyết tiến trên con đường giải thoát. Người đệ tử rất dễ nhận thức ngoại cảnh chỉ là một sự tùy thuộc của tự thân. Lòng từ bi không bờ bến của đạo Phật là sợi dây duy nhất nối liền người Phật tử với những nỗi đau khổ của đời sống trên thế giới này. Trước nửa thế kỷ người ta có thể hiểu rằng quan điểm đời sống như trên không thể được khoa học Âu Mỹ tán đồng. Hai trận thế giới đại chiến vừa rồi đã nêu rõ cho người Âu Mỹ thấy đời sống bên trong rất tương quan với những giá trị tương đối và cố định. Sự nhận thức giá trị chân thật của đời sống bên trong, trên một địa hạt hoàn toàn cá nhân và tất cả những lý thuyết mới lạ đối với triết học Tây phương do sự nhận thức trên kia đem lại, là bước đầu của Âu Mỹ đến với đạo Phật. Một hiện tượng chỉ xảy ra, mỗi khi thời tiết nhân duyên cho phép. Đây chính đúng với hiện tình của đạo Phật đối với Tây phương vậy.
Sự du nhập của đạo Phật vào Âu châu hiệp ứng với sự giác tỉnh ý chí học Đạo và với sự khao khát hiểu biết những cảnh giới phiền toái và sâu kín của tâm trí con người. Vả lại, quan điểm không siêu hình của đạo Phật hấp dẫn những ai đã mệt mỏi với sự khô khan vô dụng của đời sống vật chất hiện tại,

* Trang 208 *
device

 không còn muốn trở lại với phương pháp siêu hình của những truyện thần kỳ tôn giáo, mà chỉ muốn nghiên cứu những trạng thái chân thật về tâm lý của con người. Cho nên, chúng ta nhận thấy ở Âu Tây có rất nhiều sự cố gắng để hiểu biết và thực nghiệm phương pháp Phật dạy. Đại Đức Nyavatilaka có viết cho chúng tôi rằng : Trong tất cả nước ở Âu châu, nhất là Đức, Anh, Phần Lan, Thụy Điển, Ý, Thụy Sĩ, v.v... sự truyền bá đạo Phật được hưởng ứng, được lan tràn mạnh mẽ. Hình như thời tiết để gieo vãi Đạo lý hòa bình và thanh tịnh rất đặc biệt thuận lợi.
Tuy vậy, nếu đời sống giải thoát ở gia đình tương đối dễ dàng áp dụng trong những nước Âu Tây, vậy còn đời sống giải thoát của vị Tỳ-kheo không tham đắm một chút gì và sống bởi sự giúp đỡ của công chúng, có thể thực hiện được không ? Ở Đông phương, người xuất gia cần dùng rất ít để tự nuôi sống nhưng số Phật tử biết cúng dường các vị khất sĩ lại rất đông. Ở Tây phương số Phật tử để săn sóc những nhà tu hành còn quá ít, và thời tiết hình như không thuận tiện cho một đời sống khất thực vô định. Nhưng chúng tôi trả lời ngay rằng ở Âu châu những vị Tỳ-kheo khất thực rất có thể sống một cách dễ dàng và không thiếu một món gì.
Tuy vậy chúng tôi nghĩ rằng vị tu hành Tây phương cần phải thay đổi đôi chút đời sống của mình

* Trang 209 *
device

hơi khác với đời sống của vị tu hành Đông phương, để sự tu học thiết thực lợi ích hơn. Đời sống độc thân, an tịnh, giải thoát, kham khổ không phải là những mục đích mà chỉ là kết quả của những trạng thái giải thoát thanh tịnh. Không phải chỉ cần bước chân trên con đường phiêu lưu để được sống thanh tịnh và đạo hạnh được tinh tấn. Theo kinh nghiệm riêng của chúng tôi, vị tu hành Tây phương nên sống đời sống kẻ ẩn sĩ. Một am thất, xung quanh có vườn cây nhỏ bao bọc, dựng trong một khung cảnh an tịnh, gần nhà những Phật tử hoặc bạn hữu để có được che chở hoặc được giúp đỡ và cũng để có thể chỉ dạy giáo hóa. Đó là khung cảnh thích hợp tốt đẹp nhất cho những vị muốn sống đời sống giải thoát, thanh tịnh, khỏi phải đương chịu những nỗi thử thách cực khổ không thể tránh được của một đời sống phiêu lưu vô định. Theo ý chúng tôi, sự phiêu lưu khất thực có thể làm cho người ta khinh thị. Riêng tự thân đã không tinh tấn gì trên đường đạo nghiệp, lại còn sự hạ phẩm giá của một vị Đại diện cho Phật pháp. Sau này, khi nào một phần châu Âu đã theo đạo Phật thời đời sống của vị khất sĩ có thể thực hiện được. Nhưng hiện nay thì những vị tu hành phải phiêu lưu đi xin để tự sống sẽ gặp rất nhiều trở lực. Có những điều thích hợp riêng cho một nhà ẩn sĩ, lại không thể ứng dụng được với những vị tu hành xuất gia thiết thực. Mỗi nước tổ

* Trang 210 *
device

chức áp dụng đời sống tu hành sai khác, tùy theo    yếu kiện địa phương. Những già lam tu viện ở Tây Tạng, Tích Lan, v.v... đều có những quy tắc, luật lệ hoàn toàn khác nhau. Điều cần yếu là sự thực hiện trong trạng thái giải thoát thanh tịnh. Ở Âu châu, những nhà tu hành có thể hợp thành một đoàn thể Tăng già, chung sống một đời sống ẩn dật hoàn toàn đạo đức, xung quanh những vị cư sĩ hộ pháp lo vấn đề sinh sống, những phương tiện để nuôi sống những đoàn thể như vậy rất nhiều. Có những tổ chức đào tạo các vị Pháp sư (như ở Tích Lan) cho đến những tổ chức xã hội rất đa dạng với những phương tiện hoạt động rất khác nhau. Nhưng sự thực hiện những tổ chức trên cần phải dựa trên sự hiểu biết chơn chánh của đời sống giải thoát theo lời Phật dạy. Cũng như trong tất cả tổ chức tôn giáo, một phần lớn thời giờ phải để dành riêng cho sự tụng kinh, bái sám, quán tưởng, tham thiền, an tịnh. Cũng như mọi sự vật ở trên đời này, đời sống thanh tịnh tu hành không phải là mục đích mà chỉ là một phương tiện, một phương tiện để nâng đời sống giải thoát bằng cách diệt trừ những trở lực của một đời sống tầm thường. Nếu đời sống tu hành lại tạo nên một vài trở lực mới lạ khó vượt qua hơn cả những trở lực của một đời sống tầm thường, thì đời sống tu hành ấy không đáng ao ước làm gì. Vậy nên, người Đông phương không độc đoán như ta, rất

* Trang 211 *
device

 khéo phối hợp hai đời sống tu hành trên, họ có thể đưa từ đời sống xuất gia tu hành qua đời sống gia đình tu hành mà không động chạm đến bản tánh của từng người, bằng cách tránh khỏi mọi hối hận vô ích và tất cả sự đè nén đáng tiếc. Sự thực hành những thời biểu thật rất phổ thông trong đạo Phật và hình như giới thiệu cho Âu châu chúng ta một phương pháp cần phải theo, trong giai đoạn ứng dụng này. Những tịnh viện sẽ đón rước trong một thời gian, các vị Phật tử đào tạo một khung cảnh kham khổ đạo vị để phát triển những khả năng tu hành của mọi người và làm sống dậy những nguồn sinh lực trên con đường thực hành đạo giải thoát. Tuy vậy chúng ta đừng quên rằng một đời sống giải thoát trước hết phải là một sự tham thiền, một sự vận tưởng tiếp tục, một sự thể nhập đối với ngoại cảnh và đối với nội tâm. Những quy luật của người Phật tử phải tuân theo đặt ra chỉ để giúp đỡ cho sự tham thiền, quán tưởng. Dù ở Đông phương hay ở Tây phương điều cần thiết là phải đào tạo một bầu không khí thích hợp để thực hiện các hướng tu hành. Đời sống ở đời thường hay nặng nề và khó khăn, đời sống tu hành thì hay quá nghiêm khắc, chúng ta đừng bao giờ để cho tư tưởng bị khô héo hoặc phiêu diêu vô định. Người Phật tử Tây phương rất sung sướng được sống ẩn mình trong một khung cảnh thanh tịnh và đạo vị, để có thể trở về với đời

* Trang 212 *
device

 sống hằng ngày không chút sợ sệt, làm trọn bổn phận đối với nghề nghiệp của mình. Sự sai lầm nhất là ở chỗ muốn hủy bỏ tất cả để thoả mãn tánh hiếu kỳ và trí chuộng lạ của mình và muốn đem vào châu Âu tất cả những tập quán và phong tục tôn giáo Á Đông.
Đời sống xuất gia tu hành ở Tây phương không nên hiểu theo như là tổ chức của một đoàn thể thí sinh chán đời muốn sống đời sống quán tưởng theo như kiểu Charteux hay Troffistes. Điều cần thiết là nên mở rộng những phương tiện để cho mọi Phật tử tùy theo ý muốn có một hoàn cảnh thích hợp để phát biểu và thực hiện lý tưởng của mình.
Chúng ta đã thấy rằng thời tiết và đời sống Âu Tây không phải là những trở lực không thể vượt qua để tổ chức những đoàn thể Phật tử sống đời sống giải thoát cho hợp với tánh tình và phong tục Tây phương. Chủ nghĩa cá nhân của người La Tinh cũng như tánh tôn trọng pháp luật của những người phương Bắc sẽ đem lại cho giáo lý Bát Chánh Đạo những màu sắc đặc biệt của từng địa phương và nhờ vậy, đạo Phật ở Tây phương sẽ có nhiều giáo phái riêng biệt giống như các giáo phái ở Đông phương, nhưng vẫn giữ những nét chính tương đồng và tánh cố gắng tìm hiểu là những tánh của những giáo phái Phật giáo. Sự phong phú về màu sắc trong sự thông hiểu Phật pháp

* Trang 213 *
device

 là điểm đặc biệt nhất của đạo Phật, là một đạo luôn luôn tuyên bố sự độc lập và sự tự do cá nhân, và nhờ vậy đạo Phật được ca tụng là một đạo rất gần với con Người, tuy có chịu thiệt thòi về sức mạnh truyền bá. Vậy nên, những tâm hồn đến với đạo Phật phải  là tâm hồn ấy lấy phương pháp Phật dạy làm phương tiện cuối cùng  để hướng dẫn tâm trí con người đến mục tiêu giải thoát. Rất nhiều người Tây phương sẵn sàng sống đời sống giải thoát. Trong một vài nước ở châu Au, một số ít (số này càng ngày càng đông) đã bắt đầu thực hành phương pháp Phật dạy phỏng theo một vài quyển sách đã đọc, kết quả rất lạc quan làm nẩy nở nhiều triển vọng tốt đẹp, và chúng ta tin chắc rằng trong một vài năm nữa, chúng ta sẽ chứng kiến cả một phong trào hướng mạnh đến tư tưởng Phật dạy. Điều trở ngại lớn nhứt là sự hiểu lầm, khi nói đến đạo Phật, người ta thường có một cố tật rất khó chịu là hiểu đạo Phật như những học thuyết trừu tượng và chỉ có giá trị một học thuyết. Có hạng người lại mong chứng những phép thần thông kỳ diệu, bằng cách tuân hành một vài bí thuật như thường thấy ở Đông phương và được nhiều sách vở, báo, truyện ca tụng. Chúng ta cần phải, nếu có dịp thuận tiện, bài trừ cái sở thích hiếu kỳ chuộng lạ hay những sự hiểu lầm về mục đích và phương pháp tu hành của đạo Phật. Nay đã đến thời kỳ thực hành đạo Phật ở châu Âu,

* Trang 214 *
device

đời sống giải thoát phải được giải thích rõ ràng và giản dị để cho mọi đệ tử có thể hiểu những nguyên tắc đại cương làm ý chỉ cho sự thực hành. Ngày mai, những vấn đề xã hội to lớn sẽ giao cho các vị đệ tử giải quyết, và nhờ ở sự sáng suốt của Phật Pháp mà các vị đệ tử sẽ đảm nhận những bổn phận và trách nhiệm của những công dân trong xã hội một cách tốt đẹp.




 
*

* Trang 215 *
device

 
Đức Phật nhà đại giáo dục