LOGO VNBET
DÒNG TÂM THỨC  hay
TÂM LÝ HỌC TRONG ĐẠO PHẬT


Tư tưởngcon người như dòng nước trôi chảy, từ ý nghĩ này qua ý nghĩ khác, phức tạp và tế nhị. Giải phẫu dòng tư tưởng này, tìm hiểu sự cấu tạo và kết thành của nó, phân tích những phần tử tâm lý gì đã hình thành ra dòng tư tưởng ấy, đó là mục tiêu của Abhidhamma trong đạo Phật, và môn học này ta có thể tạm gọi là môn Tâm lý học trong đạo Phật. Dòng tư tưởng ấy, Pàli Abhdhamma (Pàli A-tỳ-đạt-ma) gọi là Cittavìthi, dịch là sự diễn tiến của tâm thức, chữ citta dịch là tâm thức gồm các tư tưởng, ý thức cấu thành dòng tư tưởng ấy.
Mỗi tâm thức (citta) ví như làn sóng ngoài biển. Làn sóng nổi lên trên mặt biển, tồn tại một lúc rồi lắng xuống và khiến cho một làn sóng khác nổi lên. Cũng như vậy, một tâm thức nổi lên trên mặt Bhavanga (tiềm thức), tồn tại và được nhận thức rồi lại lắng xuống và khiến cho một tâm thức khác nổi lên. Như vậy một tâm thức có 3 giai đoạn :
1. Uppàda: sanh;  2.Thiti: trú và 3. Bhanga: diệt. Đời

* Trang 82 *
device

 sống của một tâm thức, từ khi sanh cho đến khi diệt gọi là một cittakhana hay một tâm thức sát-na. Khi một cảm xúc được thọ lãnh do 5 giác quan :
1. Cảm xúc ấy rung động làn sóng đều đặn của Bhavanga (tiềm thức) trong một cittakhana (tâm thức sát-na) và giai đoạn ấy được gọi là Bhavangacalana (tiềm thức kích động).
2. Rồi dòng tiềm thức ấy dừng lại trong một cittakhana và được gọi Bhavangupacchada (tiềm thức đứt đoạn).
Rồi cũng với cảm xúc ấy, những tâm thức sát-na sau này được tiếp tục từng sát-na một, sanh lên rồi lặn xuống mau lẹ;
3. Pancadvàràvajjana : 5 căn chuyển hướng,
4. Cakkuvinnàna hay nhãn thức (hoặc một trong 4 thức khác),
5. Sampaticchana : Lãnh thọ thức,
6. Santìrana : Suy đạc thức,
7. Votthapana : Xác định thức,
8-14. Javana : Tác động thức lập đi lập lại đến 7 sát-na.
15-16. Tadàlambana : Đồng cảnh thức, ghi giữ sự   thực nghiệm trong tiềm thức, lập lại đến 2 sát-na.
Xong rồi tâm thức ấy lặn xuống Bhavanga lại.

* Trang 83 *
device

Như vậy từ Bhavangacalana cho đến khi tâm thức lặn xuống đến đệ nhị tadàlambana, có tất cả là 16 tâm thức sát-na. Và đó là cả một chương trình diễn tiến của một tâm thức qua 5 căn. Khi ta thấy, nghe, nếm hay xúc chạm một vật gì, chúng ta nhận thấy hàng ngàn cittavithi như vậy; nhưng vì sự diễn tiến quá mau lẹ thành thử chúng ta không thể nhận thấy những giai đoạn tương tục kết thành dòng tư tưởng ấy.
Ví dụ sau này sẽ giải thích một cách rõ ràng sự diễn tiến của một tâm thức khi cảm nhận một ngoại vật do 5 căn đưa đến.
Một người nằm ngủ dưới một cây xoài nhiều trái, một trái xoài rơi xuống gần người ấy. Người ấy bỗng thức dậy, tìm xem cái gì đã phá giấc ngủ mình, thấy trái xoài gần bên mình, lượm trái xoái lên, ngửi và quan sát trái xoài, biết được trái xoài đã chín và tốt, người ấy ăn trái xoài ấy.
1. Ở đây, giấc ngủ của người ấy được ví với trạng thái tâm thức khi chưa bị vật gì xúc chạm, trạng thái tâm thức ấy gọi là Bhavanga hay tiềm thức.
2. “Thức dậy và tìm xem cái gì đã phá giấc ngủ mình” tức là trạng thái tâm thức nửa tỉnh nửa mê. Khi tự mình tìm kiếm ngoại cảnh xúc chạm, là do nhãn căn hay nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn hay thân căn. Trạng

* Trang 84 *
device

thái ấy gọi là Pancadvàràvajjana hay 5 căn chuyển hướng.
3. “Thấy trái xoài” là ví dụ với nhãn thức hay một trong 4 thức còn lại. Đây chỉ là một cảm giác suông và giản dị chưa có tư tưởng, ý nghĩ xen lẫn. Cảm giác qua nhãn căn gọi là cakkhuvinnàna (nhãn thức), qua nhĩ căn gọi là sotavinnàna (nhĩ thức), qua tỷ căn gọi là ghànavinnàna (tỷ thức), qua thiệt căn gọi là jivhàvinnàna (thiệt thức), qua thân căn gọi là kàyavinnàna (thân thức).
4. “Lượm trái xoài lên”, ví dụ với tâm trí thâu nhận ngoại vật. Trạng thái này gọi là Sampaticchana hay lãnh thọ thức.
5. “Ngửi và quan sát trái xoài” là trạng thái tâm thức tìm hiểu ngoại vật với kinh nghiệm quá khứ. Trạng thái này gọi là Santìrana hay suy đạc thức.
6. “Biết được trái xoài đã chín và tốt”, ví dụ với trạng thái tâm thức đã cho ngoại vật ấy một địa vị nhất định trong phạm vi hiểu biết. Trạng thái này gọi là Votthapana hay xác định thức.
7. “Ăn trái xoài”, ví dụ với trạng thái của tâm thức qui chính ngoại vật hợp với sở dụng của mình. Đây là một trạng thái tâm thức rất linh động, trong ấy chủ nhân hoàn toàn tự nhận thức và quyết định thái

* Trang 85 *
device

độ của mình đối với đối tượng. Trạng thái này gọi là Javana hay tác động thức.
Thức này rất quan trọng, vì chính thức này điều động tất cả hành động của con người, khiến người làm thiện làm ác và khiến người sau khi chết phải sanh tử luân hồi và cũng do thức này mà con người có thể tu thiền định và chứng các quả vị thiền.
Trạng thái chuyển biến tương đối giữa
tâm và sắc.

Vạn vật ở đời hình như bất động, nhưng sự thật chúng luôn luôn chuyển biến, di dịch từng giây từng phút. Chúng có thể được so sánh với lửa của ngọn đèn, ngọn lửa này hình như không thay đổi, nhưng sự thật là từng sát-na, từng hồi một nó luôn luôn chuyển biến đổi khác. Đó chính là định lý Anicca (vô thường) của đạo Phật.
Nhưng nếu vạn vật là chuyển biến, sát-na vô thường như vậy thì sao một cittavìthi (sự diễn tiến của tâm thức) có thể tác thành, vì một diễn tiến của tâm thức phải cần 16 sát-na mới trọn đủ. Abhi-dhamma hay Luận học giải thích rằng tốc hành của sắc pháp 16 lần chậm hơn tốc hành của tâm pháp. Nói một cách khác, tâm pháp sở dĩ nhận thức được sắc pháp vì tốc độ của tâm pháp nhanh hơn tốc độ của sắc pháp đến 16 lần.

* Trang 86 *
device

Sắc pháp phải dùng đến một cittakhana (tâm thức sát-na) để hiện khởi và đến  tâm thức sát-na thứ hai mới được tâm pháp nhận thức. Như vậy thời gian của một sắc pháp là 17 tâm thức sát-na, và đến thức sát-na thứ 17, một diễn tiến của tâm thức được trọn vẹn hoàn thành.
Sức mạnh của cảm xúc.
1. Nếu sắc pháp rất rõ ràng (atimahanta) thì sẽ được nhận thức chỉ một sát-na sau khi hiện khởi. Rồi sự diễn tiến của tâm thức tiếp diễn cho đến 16 sát-na. Đến cuối sát-na thứ 16, đời sống của một sắc pháp kết liễu. Một sắc pháp như vậy gọi là mahanta hay cực đại khi được nhận thức một sát-na sau khi khởi và tồn tại cho đến giai đoạn Tadàlambana hay “đồng cảnh thức”.
2. Nếu sắc pháp được cảm xúc không rõ ràng như trên thì sắc pháp ấy sẽ được nhận thức chậm hơn và sẽ được kết liễu trước khi sự diễn tiến của tâm thức được trọn vẹn. Sắc pháp ấy chỉ tồn tại cho đến Javana (Tác động thức) mà thôi. Ở đây, Tadà-lambana (đồng cảnh thức) không hiện khởi. Sắc pháp này được gọi là “Mahanta” hay “Đại”.
3. Nếu cảm xúc của một sắc pháp lại còn yếu hơn, thì sắc pháp ấy sẽ được nhận thức còn chậm hơn và sẽ kết liễu đến giai đoạn Votthapana (xác

* Trang 87 *
device

định thức) mà thôi. Trong trường hợp này, xác định thức lập lại hai hay ba lần trước khi chìm xuống Bhavanga (tiềm thức). Sắc pháp như vậy gọi là Paritta hay tiểu.
4. Nếu cảm xúc của một sắc pháp hết sức yếu
ớt, sắc pháp ấy sẽ được nhận thức quá chậm và vì vậy sau khi kích động Bhavanga (tiềm thức) sẽ bị
kết liễu lập tức, trước khi sự diễn tiến của tâm thức hiện khởi. Một sắc pháp như vậy gọi là atiparitta hay cực tiểu.
Manodvàràvìthicitta hay sự diễn tiến của
tâm thức qua ý căn.

Sự diễn tiến của tâm thức qua ý căn có khác với sự diễn tiến của tâm thức qua ngũ căn. Pháp trần xúc chạm ý căn không phải là ngoại cảnh như đối với năm căn mà chính do ý thức tạo nên. Chúng có thể thuộc về dục giới (kàmàvacara) như trong ký ức, suy nghĩ, quán sát, hoặc thuộc sắc giới (rùpàvàcara) và vô sắc giới (arùpa), như trong khi tu thiền định, hoặc quán tưởng vô sắc; hoặc thuộc siêu trần giới (lokuttara) như Niết-bàn. Sự diễn tiến của tâm thức qua ý căn bắt đầu với manodvàràvajjana hay ý căn chuyển hướng; manodvàràvajjana này tương đương với votthapana trong sự diễn tiến của tâm thức qua 5 căn. Nếu pháp trần rất rõ ràng (vibhùta) được nhận

* Trang 88 *
device

thức ngang qua ý căn, thì bhavanga (tiềm thức)  được kích động trong hai sát-na rồi manodvàrà-vajjana hiện khởi tiếp đến 7 sát-na Javana (tác động thức) và hai sát-na Tadàlambana (đồng cảnh thức), xong sẽ chìm xuống bhavanga lại. Nếu pháp trần không rõ rệt (avibhùta), thì sự diễn tiến của tâm thức chỉ đến Javana (tác động thức) mà thôi, rồi chìm xuống Bhavanga lại.
Appanà-javanacittavìthi hay sự diễn tiến của
 tâm thức trong thiền định.

Sự diễn tiến của tâm thức trong thiền định có khác với sự diễn tiến của tâm thức qua 5 căn và qua ý căn. Ở đây không có vấn đề pháp trần là vibhùta (rõ ràng) hay không rõ ràng (avibhùta), cũng không có tadàlambana (đồng cảnh thức). Người tu thiền khi quán tưởng, tâm thức chứng đến giai đoạn Javana (tác động thức), tác động thức này gồm có 3 hay 4 sát-na, gọi là parikamma, upacàra, anuloma và gotrabhù, đến sát-na này, tâm thức của người tu thiền vẫn còn ở trong địa hạt dục giới kàmaloka. Nhưng đến sát-na thứ 4 hay 5 thời tâm thức của người tu thiền đã vượt lên địa hạt sắc giới, vô sắc giới hay siêu trần giới (lokuttara). Đến giai đoạn này, người tu thiền có thể ở mãi trong cảnh giới thiền định, lâu mau tùy theo sức mạnh hoặc ý chí thiền tưởng của mình.

* Trang 89 *
device


Tóm lại, sự diễn tiến của tâm thức gồm có sự diễn tiến qua 5 căn khi năm căn xúc chạm nhận thức ngoại cảnh, sự diễn tiến qua ý căn khi ý căn xúc chạm nhận thức pháp trần, và sự diễn tiến trong khi người tu hành quán tưởng, thiền định. Mục đích của Abhidhamma hay Luận học là giải phẫu các sự diễn tiến này, phân tích các tâm vương (citta), tâm sở (cetasika) tác thành dòng tư tưởng ấy và diễn tả sự tác động, vận hành của chúng trong tâm thức của chúng ta. Cũng vì lẽ ấy mà môn học Abhidhamma có thể gọi là môn Tâm lý học Phật giáo.


 
*

* Trang 90 *
device

 
Đức Phật nhà đại giáo dục