LOGO VNBET
GIẢI PHÓNG VÀ GIẢI THOÁT *



Có lẽ, sau sự đình chiến giả dối của trận chiến tranh thứ hai, việc thời sự lớn lao nhất là sự giải phóng nước Ấn Độ, giải phóng lãnh thổ và chánh trị thoát khỏi sự đô hộ của ngoại bang. Phật tử chúng ta rất đón mừng điều ấy, vì đạo Phật không bao giờ công nhận một hình thức chinh phục nào, một sự áp chế giữa nòi giống, giữa giai cấp, và giữa phái nam nữ. Nhưng chúng ta lấy làm buồn mà nhận thấy rằng sự giải phóng đã làm cho toàn xứ Ấn Độ, toàn cõi Á Đông và tất cả những ai yêu mến Đông phương hy vọng và sung sướng, sự giải phóng ấy đã mở màn cho nhiều sự chém giết rùng rợn và dã man.
Chúng ta không nên ngạc nhiên, vì khối người dễ bị kích động, hay mù quáng bởi mọi sự tuyên truyền, thiếu ăn, thiếu giáo dục, đã thoát ra ngoài sự điều khiển của vị đã giải phóng dân tộc Ấn Độ. Than ôi! Thật khó mà giải phóng con người thoát khỏi những
 

* Trích dịch bài Xã thuyết của tờ báo “La Pensée Bouddhique”, xuất bản ngày mồng 10 năm 1947 (trước ngày Thánh Gandhi bị ám sát).
 

* Trang 167 *
device

 tánh tham, sân, si, và Đức Phật thật đã sáng suốt khi Ngài nói rằng ba tánh ấy là nguồn gốc của tất cả những sự đau khổ chúng ta hiện tại.
Nhưng sự bạo hành dầu cho quá tai hại như vậy, không cho phép chúng ta nói rằng nước Ấn Độ chưa sẵn sàng để được giải phóng, và không thể tự cai trị lấy mình, vì sự quá khích ấy không phải riêng gì cho người Á Đông.
Chúng ta đừng vội quên những sự tàn sát, những trận chiến tranh tôn giáo ở Âu Châu, cuộc viễn chinh của Thập Tự Quân, sự tàn sát dân Albigeois và ngày Thánh Barthélémy và tất cả những cuộc hành hình rùng rợn trong lịch sử truyền bá của đạo nhất thần. Không gì chia rẽ mọi người bằng những thành kiến về Thượng Đế.
Chỉ riêng người Phật tử không bao giờ hô hào những trận “Giặc Thánh” (không trận giặc nào gọi là Thánh được), bởi vì người Phật tử không bao giờ bắt buộc ai theo đạo của mình, cũng không tranh chiến  với những ai không hiểu Phật pháp, cũng không sáng chế ra một tổ chức thần học nào.
Có người trả lời rằng ở xứ sở chúng ta, các trận chiến tranh tôn giáo đã thuộc về quá khứ rồi. Nhưng nếu sự thật hiện nay, dân chúng ở Âu Châu không còn đắm say theo những tôn giáo đã bị suy đồi của

* Trang 168 *
device

 mình, một điều rõ ràng ai cũng phải xác nhận là tánh cố chấp thiên vị của quần chúng đã thay lý tưởng tôn giáo bằng một lý tưởng chánh trị và chính lý tưởng chánh trị này đã chia rẽ làm hại giữa những dân tộc đồng một quốc gia; lý tưởng chính trị cuối cùng sẽ đào một hố sâu ngăn cản những chủng tộc ở Âu Châu hiểu nhau. Cái hố không thể vượt qua này như dành riêng cho những bàn tay hay những phát minh kỳ diệu khác để tàn hại các bậc Thánh, các người điên và quả đất nuôi sống muôn loài.
Sự cố chấp và sự mê mờ ở thời đại nào, ở xứ sở nào cũng có, và hiện tại sự suy tàn của tình thương làm cho mạnh mẽ thêm lên. Riêng chỉ có một phần tử tinh hoa ở rải rác chỗ này chỗ kia là hiểu được sự đoàn kết, sự tương quan, tương duyên giữa tất cả chúng sinh, và ảnh hưởng của những Nghiệpnhân tác động của chúng ta trên toàn thể vũ trụ.
Người ta nói nhiều đến tư tưởng siêu việt ở Ấn Độ, vì dân tộc Ấn Độ đã có thiên tánh nhận thức được sự đồng thể của muôn vật dưới sự sai khác và sự phức tạp của những hình thức giả dối. Sự nhận thức ấy làm nền tảng cho mọi học thuyết Du Già. Quan điểm đời sống vũ trụ ấy, Shakespeare, Goethe và Thánh Francois ở Âu Châu cũng đã nói đến; và Đức Phật xây dựng lòng từ bi chung cùng khắp vũ trụ của Ngài trên nền tảng nhân sinh quan ấy.

* Trang 169 *
device

Chúng tôi nghĩ rằng sự nhận thức thực tánh của vũ trụ là một triệu chứng lý trí được phát triển đối với những nhà chuyên lo mở rộng đời sống bên trong, và do đó tự thành những người duy trì, giữ gìn tư tưởng ấy, lý tưởng đoàn kết ấy. Nhưng một khi con người còn tin tưởng vào những tín điều, còn tin rằng có một linh hồn hay một cái ta riêng biệt ngoài vũ trụ thì đời sống của người ấy sẽ bị hạn cuộc trong vòng tự kỷ.
Muốn bước qua ngưỡng cửa cách biệt mình với đời sống ở ngoài và để cho tâm thức (trước do linh tính, sau thể nhận) đi sâu vào cảnh giới nội tâm, trong ấy mọi sự đối đãi đều được trừ diệt, con người phải vượt qua thành trì bản ngã. Trong tất cả thời, các bản ngã giả tạm, tan biến, chất chứa tham dục muốn nắm giữ những gì giả tạm tan biến như mình, các bản ngã ấy luôn luôn ngăn trở ta thể nhập vào chân lý cứu cánh.
Đạo lý vô ngã, không linh hồn, không thể chất của các bản ngã kia làm nền tảng cho tất cả giáo thuyết của Đức Phật. Người nào không còn phân biệt giữa mình và mọi người, tức đã thành một vị Bồ-tát, một bậc sáng suốt giác ngộ. Và ở đời, trong thời đại nào cũng rất khó gặp được một bậc như vậy; riêng tôi, tôi rất sung sướng được biết ít nhất là một vị giải thoát ấy. Thoát ly ra ngoài sự chi phối của bản ngã và lòng tham dục đầy dẫy của nó tức là

* Trang 170 *
device

 thoát ly ra ngoài sự đau khổ do lòng ích kỷ của chúng ta tạo nên.
Không gì vô ích và chán nản bằng để cho sự truỵ lạc vật chất và đạo đức của thời đại hiện tại và sự phá sản tinh thần bề ngoài luôn luôn thôi miên ám ảnh chúng ta. Trong thời vận hạn hán khó khăn nhất, luôn luôn vẫn có, chỗ này chỗ kia, một ven suối, một dòng nước không bao giờ rỉ cạn, và chúng ta cần phải tìm đến, đào lên. Những ngọn nước linh động ấy rất có thể ở trong tâm của mỗi chúng ta. Chúng ta sống trong sự cuồng động của hư huyễn và giả tạm, và chúng ta phần nhiều nhận thức được thực trạng ấy. Nhưng chân lý thường còn thiết thực ra ngoài sự chi phối của thời gian, ra ngoài mọi sự thay đổi, và chúng ta không thể thêm, cũng như không thể bớt trong địa hạt “không sanh, không thành, không diệt” và chỉ riêng tư tưởng mới thấu đạt được. Nhận thức được điểm này là điều kiện thiết yếu để lại tự nhận chân được Niết-bàn là một sự thực. Luôn luôn nhận thức được như vậy, trong tất cả thời sẽ là sự giải thoát hoàn toàn, sự giác ngộ tuyệt đích.
Nếu sống với những người ngu dốt là một sự đau khổ, thì sống với những bậc Thánh nhân là một đặc ân, cần phải xứng đáng để hưởng thọ. Trong khi chờ đợi, chúng ta cần phải diệt trừ mọi sự mê mờ của chúng ta; một công việc khó khăn nhưng có thể

* Trang 171 *
device

 thực hành được, nhờ ở thời gian và ở lòng kiên nhẫn tuân theo một kỷ luật sáng suốt tự mình bắt buộc lấy mình.
Đức Phật sẽ không bao giờ dạy : “Các người hãy tự thắp đuốc lên mà đi” nếu Ngài không tin tưởng rằng mọi người có thể tự lực tìm kiếm, phô bày ánh sáng giải thoát tiềm tàng trong tự thân mỗi người. Nhưng những ai có chút thông minh và hiểu biết hơn, hãy dè dặt và đừng tự thỏa mãn hoặc tự kiêu hãnh một cách mù quáng.
Không một người nào, một nhóm nào có thể nói rằng mình đã thấu hiểu được tất cả sự thật, và một thế giới thuần tưởng không có ghi tên trên quả địa cầu. Trong nhân loại, trong mỗi mỗi sinh vật thật có nhân cách, ẩn tàng những đức tánh của bậc Thánh nhân cần phải bày tỏ và làm tăng trưởng.
Kinh Rahula Sutta nói : “Hãy làm cho phát triển nảy nở lòng từ, bi, hỷ, xả” và nhờ vậy lòng tật đố, lòng giận hờn, lòng ganh ghét và sự phóng dật được trừ giảm dần; và nhờ ảnh hưởng của tự thân, được trừ giảm dần nơi mọi người. Sự quán tưởng bốn vô lượng tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả đem lại nhiều kết quả đặc biệt, làm bớt lòng khát vọng và sự loạn động của chúng ta và mở rộng lòng của mọi người. Chúng ta có quyền lựa chọn, muốn mở rộng lòng mình với lòng từ bi vô

* Trang 172 *
device

lượng, hay làm nhỏ hẹp lại bởi lòng sân hận xấu xa của mình.
Mong rằng dân tộc Ấn Độ anh em chúng ta nhớ lại những lời dạy này của Đức Phật. Mong rằng lòng từ bi của Đức Phật, ánh sáng của Á Đông, sống dậy trên quả đất này, thấm nhuần, rưới khắp những giọt nước hòa bình nhân đạo trên quả đất bị nóng đốt cháy này, như dưới thời vua A Dục. Mong rằng tư tưởng “bất bạo động” làm gãy những lưỡi kiếm sắc bén, và nước Ấn Độ đã cho chúng ta Đấng Từ bi tối thắng, hãy tự mình nhận được, không tình huynh đệ (tình này có thể trở lại anh em giết hại lẫn nhau) mà chính là đạo lý nhất thể, trong ấy một người tự nhận mình là một tế bào trong toàn thể, như ngài Pháp sư Thái Hư đã thường dạy.
Trước sự bộc phát hiện tại của tánh hung ác, chúng tôi nghĩ đến nỗi đau khổ sâu kín của Gandhi, một bậc đáng tôn xưng là bậc Thánh. Tiếc thay, chúng ta không thể hoán cải một dân tộc theo con đường Thánh Đạo, chúng ta chỉ có thể chỉ con đường đi trong sự thất vọng nhất thời ấy, chúng tôi mong rằng Thánh Gandhi có thể tự an ủi rằng Thánh thật là trung tâm của hòa bình, đã phát chiếu ánh sáng hòa bình và là một hình ảnh linh động của chủ nghĩa không bạo động.

* Trang 173 *
device

Chúng ta mong rằng chúng ta sẽ cố gắng làm chiếu tỏa (mỗi người trong hoàn cảnh riêng của mình) ánh sáng hoà bình, vì rằng tư tưởng là sức mạnh mãnh liệt nhất trong một thế giới tinh thần. “Chúng ta uốn thành theo tư tưởng của mình, và nếu không có sự an tịnh ở nội tâm, thời mọi sự quán tưởng, mọi sự tiến triển tinh thần đều thất bại. Những người giữ được nội tâm an tịnh thời không gì xoay chuyển nổi, dầu cho phải ở trong một thế giới đảo điên cuồng động mà sự thù ghét muốn làm cho tan nát.
Người Á Đông thường tin rằng có những bậc Thánh nhân sống trong cảnh giới an tịnh của rừng núi, luôn luôn quán tưởng đến Đức Phật, thể nhập trong tư tưởng giới với Đấng Đại từ đại bi, và chiếu sáng hình ảnh cao đẹp của Đức Phật trên toàn thể vũ trụ. Người ta đồn rằng những vị Thánh ấy còn sống như thường, và những loài thú vật mà chúng ta gọi là dã man đều đến nằm dưới chân, tánh hung ác được uốn dẹp dịu hòa cũng như lòng tham dục của loài người được uốn dẹp trứơc sự giác ngộ cao thượng của Đức Phật khi còn sống. Hoang đường hay sự thật, chúng ta mong rằng có thể là một sự thật để làm vinh dự cho loài người, bởi vì cũng như chỉ một thứ lửa sưởi ấm tất cả gia đình, chỉ một sự an tịnh làm trong sạch tất cả cõi lòng khắp cả vũ trụ, trước khi sự an tịnh này đoàn kết toàn thể nhân loại.

* Trang 174 *
device

Chúng ta chỉ cần làm phát triển sự an tịnh của ánh sáng giải thoát ấy, vì biết rằng sự phát chiếu của nó đem lại rất nhiều lợi ích cho tất cả sinh vật, không phân biệt giống nòi. Chúng ta đừng quên rằng, nếu mỗi dân tộc có những màu da khác nhau, nhưng những quả tim, tất cả quả tim đều một màu đỏ như nhau, được thầm nhuần cùng một dòng máu Nghiệp báo như nhau, và dòng máu ấy sẽ đập chung cùng một nhịp đều đều, một khi mọi sự kích động được trừ diệt. Đức Phật phải chăng là một vị thầy thuốc tối thắng điều trị được tất cả căn bệnh của chúng ta, những căn bệnh của nước Ấn Độ, cũng như căn bệnh của dân tộc Châu Âu.



 
*

* Trang 175 *
device

 
Đức Phật nhà đại giáo dục