LOGO VNBET
Người Đức và đạo Phật


Chúng ta có thể nói người Đức là người đầu tiên biết đến đạo Phật và những triết gia Đức là những vị đã thâm hiểu đạo Phật thấu đáo nhất, nếu so sánh với các triết gia Âu Mỹ khác.
Những người Đức đầu tiên nghe đến tên Đức Phật có lẽ là những vị Thần học đã đọc những sáng tác của Thánh Hieronymus, một trong những vị tu sĩ Cơ đốc giáo. Vi này có nói đến sự đản sinh phi thường của Đức Phật. Còn về lý thuyết đạo Phật, hình như không ai biết đến cho rõ ràng trong thời đại Trung cổ. Chỉ đến thế kỷ thứ 17, một Triết gia Đức mới biết đến triết lý đạo Phật. Đó là Gottfried Wilhclm Leibniz (1646–1716), vị này đọc rất nhiều sách của các Cố đạo viết về Trung Hoa và nhờ vậy biết đến đạo Phật ở nước này. Trong quyển Theodicce, ông Leibniz có nói đến Fo (Phật) theo phát âm của người Trung Quốc và bàn đến Madhyamika (Trung luận) và Không tôn.
Chỉ đến Emmenuel Kant (1724-1804), đạo Phật mới được hiểu một cách rộng rãi và khá đầy đủ. Kant ở Đại học Konigsberg vừa làm Giảng sư Triết học

* Trang 286 *
device

vừa làm Giảng sư về Địa dư. Dầu không ra khỏi thành phố sinh quán, ông đọc rất nhiều sách về loại du lịch. Những bài giảng của ông nói đến Đạo Phật ở Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Trung Hoa, Nhật Bản và Tây Tạng. Ông rất tán thán các vị Tu sĩ Miến Điện và nói : “Các Tu sĩ ở Pegu được tán thán là những vị dễ thương và hiền hòa nhất. Các vị này sống với đồ ăn khất thực và bố thí cho kẻ nghèo những vật không dùng đến. Các vị này xem tất cả tôn giáo đều tốt nếu tôn giáo làm con người trở nên tốt đẹp và dễ thương”.
Kant đã biết Phật tử không tin ở một đấng Thượng đế ngự trị trên thế giới này và phán xét mọi loài sau khi chết. Kant đã viết : “Các Phật tử bác bỏ quan điểm của một tạo hóa thiêng liêng, nhưng các Phật tử tin tưởng rằng những ai làm ác sẽ bị hành phạt, những ai làm thiện sẽ được tán thưởng bởi một định luật chắc chắn”. Kant chưa biết đến giáo lý nghiệp quả và tái sinh, và triết học của Kant không có thể nói là chịu ảnh hưởng của đạo Phật. Nhưng lý thuyết luân hồi rất được Kant tin tưởng. Chính trước khi chết, bạn Hasse hỏi về tương lai của cá nhân mỗi người, Kant trả lời chấp thuận theo lý thuyết luân hồi. Trong một trường hợp khác, Kant gọi lý thuyết luân hồi là lý thuyết hấp dẫn nhất của giáo lý Á Đông. Chính Kant đã giảng về đời sống tiền thân của linh

* Trang 287 *
device

hồn và tin tưởng rằng con người vẫn phải tiếp tục cuộc sống sau khi chết để tiến đến hoàn thiện.
Kant sống ở một thời đại mà các tác phẩm đạo Phật chưa được các học giả Âu tây phiên dịch. Chỉ sau khi Kant tạ thế, các học giả Anh và Pháp mới bắt đầu để ý đến Kinh tạng Phật giáo. Khác với Kant, các Triết gia Đức vào đầu thế kỷ thứ 19 thông hiểu khá nhiều về Triết học đạo Phật. Schelling và Hegel đã biết nhiều đến các chi tiết về đạo Phật, và các học giả sau này như Nietzche cũng rất thâm hiểu giáo lý của Đức Thế Tôn. Một vị Triết gia Đức rất nhiệt tìnnh hâm mộ đạo Phật là Arthur Schopenhauer (1788-1860). Từ khi 26 tuổi, vị Triết gia này đã
đọc rất nhiều tác phẩm nói đến đạo Phật và Schopenhauer hoàn toàn tin tưởng rằng Đức Phật với Phato và Kant là những ngôi sao sáng chói trên diễn đàn nhân loại. Schopenhauer chịu ảnh hưởng rất nhiều của đạo Phật khi soạn thảo hệ thống của mình về siêu hình học. Ông viết: “Nếu tôi lấy những kết quả của triết học của tôi để làm mực thước sự thật, thời tôi phải để đạo Phật chiếm địa vị ưu thế trên tất cả tôn giáo khác ở thế giới. Dầu thế nào, tôi có thể sung sướng được thấy lời dạy của tôi lại phù hợp rất nhiều với một tôn giáo có một số tín đồ đông đảo nhất trên đời”. Sự thật, có nhiều điểm tương đồng giữa nhà Triết gia Đức và đạo Phật. Cả hai đều bác

* Trang 288 *
device

bỏ sự hiện hữu của một Thượng đế và chủ trương rằng không thể chỉ định ngày tạo thiên lập địa, cũng như ngày tan vỡ của vũ trụ. Cả hai đều cho rằng có rất nhiều thế giới hệ, và giữa người và vật, không có những sai lầm tuyệt đối mà chỉ có những sai biệt tương đối. Vì vậy cả hai đều bênh vực sự bảo vệ các loài vật khỏi mọi hình thức độc ác. Cả hai đều không tin ở một linh hồn vĩnh viễn và sự luân hồi của linh hồn ấy từ đời này qua đời khác. Cả hai đều tin ở thuyết tái sinh, sự tái sinh này toàn do những hành động trong đời quá khứ của cá nhân định đoạt. Cả hai đều công nhận có một định luật tự nhiên ngự trị trên muôn loài. Dầu cả hai có một quan niệm bi quan về đời sống, nhưng cả hai cùng có một thái độ rất lạc quan khi cả hai đều tin tưởng rằng mọi người đều có thể giải thoát khỏi sự đau khổ nếu họ muốn. Cả Đức Phật lẫn Schopenhauer đều cho rằng trạng thái giải thoát không thể lấy văn tự ở đời mà diễn tả. Tư tưởng hệ của Schopenhauer là kết quả độc lập và đặc biệt của sự suy tư của ông và có nhiều điểm không giống với đạo Phật. Đây có thể một phần là do đạo Phật lúc bấy giờ không được phổ biến rộng rãi ở Âu châu.
Schopenhauer có thể xem là vị đã phổ biến sâu rộng sự sáng suốt của đạo Phật giữa các nhà triết gia Âu tây. Tác phẩm của ông có một ảnh hưởng sâu đậm đến nhiều tư tưởng gia khác, và những vị này

* Trang 289 *
device

đến lượt mình lại rất tha thiết muốn tìm học Kinh điển của đạo Phật, ít nhất là trong các dịch phẩm. Nhà Nhạc gia lỗi lạc và được thế giới ca tụng, ông Richard Wagner (1813-1853) đã nói lên một cách hùng hồn sự thán phục của ông đối với đạo Phật: “Giáo lý đạo Phật có một quan điểm quá vĩ đại đối với đời sống khiến cho các giáo lý khác trở thành nhỏ mọn khi sánh với giáo lý của Ngài. Triết gia với những  tư tưởng sâu kín nhất, nhà Khoa học với những khám phá vĩ đại nhất, nhà Nghệ sĩ với những tưởng tượng phóng khoáng nhất, con người với trái tim mở ra rộng rãi nhất để đón nhận những đau khổ và những gì đã sống, tất cả đều tìm thấy hoài bão của mình thể hiện trong giáo lý kỳ diệu và độc nhất này.”
 
*

* Trang 290 *
device

 
Đức Phật nhà đại giáo dục