LOGO VNBET
NHÂN VỊ TRONG ĐẠO PHẬT *
(Khoa học với đạo lý vô ngã)


Nhiều khi chúng ta cố gắng ngăn ngừa, chống giữ làn sóng oán hận đang muốn làm chìm đắm và phá hoại cái mà chúng ta thích gọi là văn minh tiến hóa.
Nhà văn sĩ đáng mến của chúng ta, ông Lucien Descaves đã can đảm cầm đầu một phong trào chống lại lòng oán hận, với tiêu ngữ là S.H. (Sans Hainistes). Ông ta thành công chăng ? Chúng ta có thể diệt trừ lòng oán hận được không trong khi mỗi chúng ta tin chắc sự quan trọng của tự thân và tìm tất cả cách để nhiếp phục, để chiến thắng, để vượt lên trên những ai ngăn cản lòng ham muốn và những tham vọng của mình?
Sự thâu ngắn các đoạn đường, sự sống chung giữa các chủng tộc tản mạc do phi cơ đem lại chỉ làm tăng thêm sự thù oán và lòng tham vọng. Con người sống trong sự ích kỷ cá nhân, sự ích kỷ của giai cấp, của chủng tộc, của tín ngưỡng, bởi vì con người tự cho



* Trích dịch trong “La Pensée Bouddhique”.

* Trang 176 *
device

mình là một sinh vật cao nhất trên vũ trụ, và cách biệt giữa tất cả sinh vật khác bởi một nhân vị thường còn và độc lập. Sự thật, trái đất không lệ thuộc con người, chính con người lệ thuộc trái đất, con người lệ thuộc trái đất bởi những phần tử cấu thành thân thể con người, và bởi sự sống của chính con người nữa. Ở Đông phương, người ta nói rằng con người là một phần tử trong đời sống vũ trụ đã nuôi sống con người.
Sự mê mờ lý tương quan tương duyên của mọi đời sống và sự tin tưởng ở một bản ngã đối lập với các đời sống khác là nguyên nhân của tất cả sự xung đột giữa loài người.
Trong tất cả triết học, chỉ có đạo Phật giải thích nguyên nhân của lòng oán hận, trình bày sự hiểu lầm thực tánh con người làm cho lòng oán hận tiếp diễn, và nêu rõ vì sao sự nhận thức chân chánh nhân vị con người giúp con người giải thoát mọi sự lệ thuộc ích kỷ và nhờ vậy được thoát ly khỏi sự thống trị của lòng oán hận.
Theo đạo Phật, con người từ đâu đến, và sự tác thành cái mà chúng ta gọi là nhân vị của con người được tiếp diễn như thế nào ?
Con người tự đổi mới hay đúng hơn con người luôn luôn tự mình đổi mới lại mình trong tất cả mọi thời. Trong thân thể và trong tư tưởng con người,

* Trang 177 *
device

chúng ta có thể quan sát những sự thay đổi, những tiếp tục về vật chất, về tánh tình từ năm này qua năm khác. Đồng với toàn thể Đông phương (cũng đồng với những người Thiên Chúa nguyên thủy) đạo Phật tin ở sự tương tục của những đời sống.
Đạo Phật tin rằng những tư tưởng, những hành vi hiện tại tác thành con người tương lai, và chính sức mạnh của lòng tham dục, sự đắm trước vào đời sống, sự khao khát được sống, phát sanh trong một đời vị lai, một đời sống mới, hoàn toàn chịu sự chi phối của Nghiệp nhân tác động...
Đại đức Nyanatiloka viết : Sự thật, đạo lý vô thường (vô ngã) của một bản ngã là đạo lý đặc biệt của Phật giáo. Tất cả những giáo lý khác đều có thể có trong các triết học và các tôn giáo. Nhưng sự thật giải thoát của đạo lý vô ngã chỉ có Đức Phật mới trình bày và giải thích một cách rõ ràng.
Đừng hiểu lầm tôi nói không có nhân vị, như vậy thật quá vô lý, mà cần phải hiểu rằng nhân vị luôn luôn thay đổi, như những bãi cát chuyển động tùy thuộc với thân thể và những tư tưởng làm nền tảng cho cái “bản ngã” của con người.
Chúng tôi sẽ cố gắng trình bày cho các ngài rõ cuối cùng (dầu rằng sự dẫn chứng của tôi có vẻ mâu thuẫn) chính đạo lý đã đánh đổ bản ngã (và do đó

* Trang 178 *
device

đánh đổ luôn mọi ý niệm ngăn cách của mọi người) có thể giúp chúng ta giải thoát những tai hại do lòng ích kỷ phát sinh như là sự oán hận giữa giai cấp, giữa chủng tộc, và cả những nỗi khổ không bờ bến của chúng ta.
Chúng ta đừng quên rằng lòng từ bi của đạo Phật bao trùm tất cả mọi sinh vật, cho đến những sinh vật rất nhỏ nhiệm, lòng Từ Bi ấy bắt nguồn từ sự hiểu biết mọi đau khổ là do lòng tham dục mù quáng ích kỷ gây nên.
Chúng tôi nghĩ cần phải nhắc lại ở nơi đây cái định thức cổ điển của năm uẩn (khandas) hay là những phần tử của một đời sống. “Năm uẩn luôn luôn khao khát và được nuôi sống bởi lòng tham trước ở đời, cuối cùng là gì ?” Nhân vị là gồm có : Thân sắc chất, những cảm thọ, những niệm tưởng, những chuyển hành và tâm thức. Những uẩn này không có ngã thể, luôn luôn tương quan với nhau, và dính liền với đời sống, khao khát sự sống.
Mỗi một uẩn đều nói khao khát, bởi vì mỗi uẩn đều nắm giữ và bám víu vào đời sống. Như thân thể đòi hỏi sự ăn uống dầu phải hại đến đời sống khác. Những cảm giác chạy theo những cảm giác khác, không bao giờ thỏa mãn. Các niệm tưởng cũng như

* Trang 179 *
device

 vậy, còn tâm thức thời luôn luôn bám víu vào đời sống.
Nhưng tâm thức, cũng như các uẩn, đều thay đổi từng giờ phút, cho nên người ta nói mỗi uẩn là trống không, tự nó không có một bản ngã thường còn. Những hóa hợp vật tác thành bởi những phần tử vô thường, luôn luôn thay đổi theo những phần tử ấy, và không thể gọi là thường còn như một bản ngã cố định.
Trong sự phối hợp những phần tử và những thành phần của sự sống, tất cả đều biến dịch, luôn luôn đổi mới. Trạng thái an định bề ngoài chỉ là nhất thời, và thế quân bình phải được phục hồi trong từng giây phút.
Ở đây chúng tôi không dùng và không bao giờ dùng chữ Linh hồn trong khi nói đến đạo lý vô ngã, bởi vì Á Đông hiểu nghĩa Linh hồn rất khác với Tây Phương. Chúng ta, người Tây phương cho rằng Linh hồn có tính cách cố định và chỉ  sáng tạo một lần cho đến vĩnh viễn. Chữ Atta (tiếng Phạm : Atman) cần phải dịch là “ngã” và chữ Anatta thành có nghĩa là “vô ngã”, nghĩa là không bao giờ có một bản ngã, trọn đời cố định đồng nhất.
Bản lược trình đời sống này hình như rất khác với quan điểm thông thường của người Tây phương chúng

* Trang 180 *
device

ta, nhưng lại được những sự phát minh cận đại của khoa học giải thích và tán đồng.
Người Phật tử có điểm này giống với nhà khoa học hiện đại là nhận xét đời sống một cách vô tư và khách quan, xem có xứng hợp với sự thật hay không, chớ không tự hỏi có lợi hay có hại. Người Phật tử không tìm để làm vui lòng ai mà chỉ cốt tìm để soi sáng mình và người. Người Phật tử nhận thức sự vô thường của vạn pháp, gồm luôn cả sự vô thường của nhân vị, cũng như nhận thức sự đau khổ của muôn loài, luôn luôn hiện hành và tác động tất cả, trong cái vũ trụ thế giới đang còn có sự ngăn cách và phân biệt, sự đau khổ ấy một phần do sự vô thường gây nên. Từ nhà khoa học đến vị thầy thuốc, người Phật tử tìm một liều thuốc điều trị bệnh đau khổ; muốn vậy, cần phải hiểu trước căn bệnh và biết những đặc tánh nhỏ nhiệm của vũ trụ. Chỉ khi nào chúng ta biết những định luật chi phối vũ trụ chúng ta mới có thể dùng những định luật ấy để cải thiện đời sống của chúng ta.
Đóng khung trong một lý tưởng ích kỷ, muốn hưởng khoái lạc và hạnh phúc cho tự thân, và tìm tất cả cách thức để thỏa mãn dầu có thiệt hại đến kẻ khác, con người tự tưởng tượng có một cái “ngã”, đối lập với mọi người, một “bản ngã” cá thể, cách biệt, tham tàn; và con người tự chịu sức phản ứng của sự

* Trang 181 *
device

đau khổ mà vì lòng dục vọng, lòng tham lam và sự sân hận của chính mình đè nén làm cho các đời sống khác đau khổ, và những đời sống ấy luôn luôn có liên lạc với đời sống riêng của mình.
Người Tây phương chúng ta thường quen nhìn đời sống dưới hình trạng riêng biệt sai khác, còn người Đông phương thì tìm hiểu đời sống một cách tổng quát đồng thể.
Sự giải thoát nổi mê mờ của chúng ta – bởi sự ám ảnh thật sự của nhân vị chúng ta – chỉ bắt đầu một khi chúng ta có một quan điểm sáng suốt đối với cá tánh của chúng ta.
Được vậy, chúng ta mới bắt đầu hiểu đời sống vũ trụ và của sự tương quan tương duyên của tất cả đời sống, trong cái trò chơi mãnh liệt của vũ trụ luôn luôn biến đổi xê dịch. Kinh Lankavatara (Lăng già) nói :
“Chúng ta chỉ có thể nói một cách tương đối, có một dòng biến dịch, một sự thay đổi từng giây phút và không bao giờ dừng nghỉ, từ trạng thái bề ngoài này đến trạng thái bề ngoài khác !”
Lẽ dĩ nhiên đạo Phật không phủ nhận những dòng sống cá nhân, nhưng đạo Phật nói rằng những dòng sống cá nhân ấy chỉ có thể sống nhờ dòng sông rộng lớn của một đời sống chung cùng nuôi dưỡng.

* Trang 182 *
device

Nói đúng hơn, dòng sông rộng lớn của một đời sống độc nhất ấy biểu hiện trong những dòng sống cá nhân.
Nhưng chúng ta nên coi chừng đừng cho rằng sức sống ấy có một cá tánh và luôn luôn hiện hành trong tất cả mọi chỗ.
Chúng ta hãy đi theo những nhà khoa học hiện đại để hiểu sự vô thường giả tạm của cái thân thể chúng ta mà vì mê mờ chúng ta cho như là riêng biệt và không liên hệ gì với đời sống vũ trụ.
Nhìn theo bề ngoài, dĩ nhiên mỗi thân thể, mỗi nét mặt đều khác nhau. Một nhà nghệ sĩ sẽ cho rằng đó chỉ là một sự sai khác về tỷ lệ, sự sai khác giữa những nét hình tác thành sự sai khác giữa những nét mặt, dáng điệu và thần sắc, v.v...
Hãy tìm hiểu cái thân có bề ngoài thể chắc và hình như riêng biệt với những thân khác, để xem thử có một phần nào trong thân ấy, chúng ta có thể tìm một nhân trường cửu, một bản ngã thường còn.
Trước ánh sáng của khoa học hiện đại, một thân thể bình thường và khỏe mạnh gồm có những tổ chức (tissus), những chất hóa học và những sức mạnh vật lý học; một khi khoa học hiện đại nghiên cứu một thân thể về phương diện sinh lý, vật lý và hóa học, chúng ta thấy những phương diện ấy rất liên lạc mật

* Trang 183 *
device

thiết với nhau, và chúng ta không thể cắt nghĩa một phương diện nào nếu không nhờ các phương diện khác giúp đỡ.
Sinh vật học tìm hiểu những hiện tượng về sự sống (hạn cuộc trong từng địa hạt) trong những tập hợp tế bào của một thân thể, tìm những tánh chất hóa học tác thành sự phối hợp những tế bào ấy, sự phối hợp của những chất kiềm, chất toan, v.v...
Sự giải phẫu những tập hợp tế bào đưa chúng ta tìm đến sự chế tạo hóa chất và hóa học, cho chúng ta những định thức của những hóa chất như là HCl (acid chloridrique); SO4H2 (acid sunfurque), H2O (eau), v.v... nhưng muốn tìm hiểu sự sai khác của những hóa chất này, chúng ta cần phải nhờ vật lý học hiện đại là một môn học nghiên cứu các năng lượng, các luồng sóng và những khí lực, luôn luôn tác động, luôn luôn biến dịch và chung hợp rất là giả tạm. Những tập hợp tế bào sinh vật cuối cùng chỉ là kết quả của phản ứng các hóa chất, và những phản ứng này lại do những năng lượng trong phạm vi vật lý học chi phối.
Cái thân thể không còn phải như con mắt thịt chúng ta thường thấy, những tập hợp tế bào lại do những tế bào hợp thành, những tế bào lại do những phần tử, những phần tử lại do những nguyên tử hợp thành, giữa nguyên tử có một nguyên điểm (noyau

* Trang 184 *
device

 proton) chất chứa dương điện, và nguyên điểm ấy được bao vòng bởi những điện tử chứa âm điện. Chúng ta có thể nói với ông James Jeans : “Vật chất chỉ là sự phối hợp của những phần tử có chứa điện chất”.
Nhưng sau những sự vận dụng của những sức mạnh ấy, còn có gì nữa ?
Đến đây, khoa học hiện đại dừng lại và giữ thái độ im lặng.
Nhưng nếu khoa học im lặng, một vài nhà khoa học lại lên tiếng. Một vài vị tuyên bố rằng – về thái dương hệ của thân thể vì có nhiều điểm rất giống với thái dương hệ của vũ trụ, như là có những khoảng trống nhỏ nhiệm giữa những điện tử – những điện tử ấy hoạt động như là có một trí năng ẩn nấp ở sau một tư tưởng. Nhưng ở đây, chữ tư tưởng không có nghĩa là có một người suy nghĩ như chúng ta thường hiểu. Khoa học cho đến đạo Phật không cho năng lực tư tưởng ấy một cá tánh về nhân vị.
Sự vận dụng của những năng lực ấy, những phối hợp của các hóa chất ấy, chúng ta có thể nói là của chúng ta, hay chúng nó dự một phần trong sự diễn tiến chung cùng của vũ trụ.
Con mắt của chúng ta với sức thấy có hạn lượng, chỉ có thể thấy những bề ngoài thô tế về vật chất;

* Trang 185 *
device

không biết chúng ta có thể tưởng tượng trong một bộ máy tinh xảo có thể thấy được những điện tử và những sự vận dụng của những sức mạnh ấy không ?
Khoa học hiện đại có lẽ sẽ bĩu môi trước giả định ấy. Người ta nói rằng có một vài vị Thánh nhân ở Tây Tạng trong khi nhập định, nhờ sức vận tưởng về nội tâm, có thể thấy thân thể như là một số rất nhiều chấm lửa luôn luôn rung động rất mau lẹ; chúng ta cũng sẽ thấy thân thể như vậy một khi chúng ta có thể thấy được những điện tử.
Trong một vài trạng thái thiền tưởng, một vài vị Thần bí học Tây phương hình như cũng có thể thấy được bản thể của sự vật. Nhà tiên tri có danh tiếng, ông Jacob Boehme có lẽ cũng đã làm những sự thí nghiệm như những vị Tây Tạng, ông cũng đã tuyên bố, trong khi tu thiền tưởng, ông thấy được bản tánh sự vật. Có thể chăng tư tưởng không còn bị loạn động bởi ngoại cảnh có một sự nhận thức sắc sảo và giác ngộ được sự thật ?
Tuy vậy, những giác quan của chúng ta không những bị hạn lượng mà còn có thể sai lầm bởi sự
vô minh.
Sự vô minh thuộc ba điểm chính sau đây :
1. Không thấy được (bởi không biết nhìn).
2. Nhận lầm bề ngoài là sự thật.

* Trang 186 *
device

3. Phán đoán sự thật theo những giả ảnh bên ngoài.
Đó là những sự sai lầm thông thường của chúng ta, làm chúng ta tưởng lầm có một thực thể thường còn trong thân thể chúng ta và trong thế giới những hiện tượng. Sự thật, tất cả những phần tử họp thành nhân vị con người, đều là giả tạm, đều là kết quả của sự tác động những động lực. Sự tiếp diễn và sự phối hợp của những tác động ấy cho chúng ta một cảm tưởng thường còn. Đối với người Phật tử sự mê lầm nguyên thủy chỉ là vì không hiểu giá trị chân thật của đời sống là vô thường giả tạm, là đau khổ và vô ngã.
Chúng ta đã phân tích vật chất và những thân thể biểu tướng vật chất, từ vật thô sơ đến vật nhỏ nhiệm, từ những tập hợp tế bào đến thái dương hệ của những nguyên tử, với những điện tử và sức mạnh tác động những điện tử ấy. Nếu chúng ta có thay đổi (hay là lúc mà những số lượng của những điện tử xung quanh nguyên điểm proton thay đổi), chúng ta có thể biến hóa một vật thể này thành một vật thể khác. Đó là hoài bão của các thuật sĩ. Như vậy số lượng (hay điều lượng) của những điện tử trong một nguyên tử tác thành tánh chất của những vật thể.
Chúng ta thấy rằng sự vật đều có những hình thức thay đổi, nghĩa là giả tạm. Như vậy truyện thần

* Trang 187 *
device

thoại Protée có lẽ có một giá trị biểu tượng cho một sự nhận thức đúng với sự thật của nước Hy Lạp thời cổ.
Mỗi một phần tử, mỗi một hóa chất trong thân thể đều luôn luôn thay đổi. Định luật vô thường được chứng minh một cách rõ ràng vì rằng các tế bào luôn luôn sanh diệt để tác thành ra những tế bào mới. Trong tất cả những sự phối hợp đó không có gì là cố định, thể chắc, bởi vì giữa những phần tử của vật chất có những khoảng không rất nhỏ nhiệm; chúng ta còn nhận thấy sự biến chuyển không bao giờ dừng nghỉ của những động lực và phản ứng của những động lực ấy. Như vậy chúng ta làm thế nào tìm được trong cái thân thể giả tạm biến động như vậy, một nhân vị hay những phần tử của một bản ngã thường còn được?
Chung quy lại, không phải là sự sai khác về vật chất, mà chỉ là sự sai khác về cân lượng của những phần tử sinh lý, hóa học và vật lý của thân thể, tác thành sự sai khác giữa thân thể này với thân thể khác. (Tôi dùng chữ cân lượng, mượn ở hóa học và tự chịu trách nhiệm về sự dùng chữ này).
Cũng chính là sự cân lượng của những tư tưởng chủ yếu trong khối tri thức của chúng ta, tác thành sự sai khác giữa một tri thức này với một tri thức khác.

* Trang 188 *
device

Sự cân lượng về sinh lý và sự cân lượng về tâm thần tác thành cá tánh riêng biệt của từng người trong một thời gian đã định. Nhưng sự cân lượng ấy là cố định từ ngày này qua ngày khác hay là luôn luôn thay đổi? Lẽ dĩ nhiên sự cân lượng ấy luôn luôn thay đổi và thường không được quân bình. Trong thân thể chỉ cần có một sự quá thặng của chất toan hay chất kiềm, một sự thiếu hụt hay một sự quá thặng của sự bài tiết các thứ hạch, là đủ làm cho sức khỏe thay đổi và nhiều khi biến đổi cả hình thức bề ngoài của thân thể; nếu thân thể thật tự mình là chủ chớ không phải do sự tác động của các động lực trong sự phối hợp giả tạm chủ động chi phối, thì chúng ta có thể tránh khỏi các sự biến đổi trên. Làm sao chúng ta tự cho là thuộc của mình, đối với những sự vật luôn luôn thay đổi và hình như thoát ra ngoài mọi sự kiểm soát ?
Về địa hạt tâm thức, chúng ta cũng có thể nói như trên, sự cân lượng quá đáng của những tư tưởng sân hận có thể làm con người mất tự chủ, và biến đổi một con người từ trước đến nay là hiền lương, trở thành một người sát nhân.
Sự quân bình giữa những tư tưởng lành và những tư tưởng ác là thường hay là biến thiên giả tạm ?
Chúng ta có phải làm chủ những tư tưởng ấy không? Những tư tưởng ấy có thật tùy thuộc chúng ta

* Trang 189 *
device

không ? Hay là những tư tưởng luôn luôn bị tác động bởi tất cả những ảnh hưởng ở bên ngoài ?
Thật vậy, những tư tưởng ấy không phải hoàn toàn của chúng ta. Những gì tùy thuộc ở một chỗ khác và luôn luôn thay đổi không thể tự cho là của mình; chúng ta không thể nói : “Cái này là của ta, ta là cái này, cái này là bản ngã của ta”. Cuối cùng ở trong ấy, cái nào có thể gọi là nhân vị của ta ?
Kinh Lankavatara (đứng trong phạm vi tương đối) nói : “Điều mà chúng ta có thể xác nhận là nhân vị cá nhân chỉ do một sự tổ hợp nhất thời, đơn độc của những phần tử vật chất và tinh thần”.




 
 *

* Trang 190 *
device

 
Đức Phật nhà đại giáo dục