LOGO VNBET
THÔNG ĐIỆP CỦA ĐỨC PHẬT [1]


Một lần nữa, lễ Phật Đản lại về trong niềm hân hoan tịnh lạc của hàng triệu tín đồ Phật tử trong cũng như ngoài nước. Một lần nữa, Phật tử Việt Nam đón mừng Phật Đản trong niềm đau thương dân tộc, chua xót bởi cảnh ly loạn, bởi thiên tai bão lụt tàn khốc, chúng ta nhận hiểu một cách thấm thía, chính xác thiết thực lời dạy về đau khổ của Đức Phật cách đây hơn 2500 năm, và trong mùa Phật Đản năm nay, làm lễ kỷ niệm Ngài, chúng tôi muốn cùng với Quý vị đi ngược dòng lịch sử và tìm hiểu lại những nét chính trong lời dạy của Đức Từ Tôn, tìm hiểu để đánh giá lại những giá trị siêu việt của một bậc siêu nhân và tìm hiểu để ứng dụng lời dạy của Đức Phật trong đời sống hiện tại chúng ta.
Đời sống của Đức Phật và lời dạy của Ngài nêu rõ giá trị tối thắng của con người và tất cả phương pháp tu hành của Ngài cũng không ngoài mục đích làm sống dậy những giá trị cao đẹp nhất của con người.



[1] Diễn văn của HT. Minh Châu đọc tại Nhà Văn Hóa Sài Gòn ngày 9-5-1965 do sinh viên Đại học Vạn Hạnh tổ chức.

* Trang 216 *
device

Đức Phật là vị Giáo chủ độc nhất chỉ tự cho mình là con người không hơn không kém, không phải là Phạm Thiên, không phải là Thượng Đế, không phải là hiện thân của một đấng thiêng liêng nào, cũng không tự cho mình là thần khải đối với nhiệm vụ siêu thoát nào. Ngài chỉ là một vị Thái Tử, một người bằng da bằng thịt đã nhận thức cảnh đời là khổ đau giả tạm, đã bỏ tất cả mà tầm đạo tu hành, và đã thành đạo dưới gốc cây Bồ Đề sau biết bao nhiêu tự lực, cố gắng, thử thách. Đức Phật tự cho sự thành đạo và tất cả sự nghiệp hoằng hóa độ sanh của Ngài đều do sự cố gắng của con người và tự lực của con người. Loài người và chỉ có loài người mới có thể thành Phật và mỗi người đều đầy đủ khả năng để thành Phật, nếu con người muốn và chịu cố gắng. Chúng ta có thể nói Đức Phật là một con người hoàn bị tuyệt đối, chính sự hoàn hảo trong cương vị con người của Ngài khiến cho đời sau tôn xưng Ngài là bậc siêu nhân và thần hóa đời Ngài. Muốn ngăn cản lòng sùng mộ thái quá của tín đồ, Đức Phật trước khi nhập Niết Bàn đã trả lời với Tôn giả A Nan, khi vị đệ tử tâm phúc của Ngài yêu cầu để lại cho những lời chỉ giáo :
“Này A Nan, nếu có người nghĩ “Ta sẽ là người lãnh đạo của chúng Tỳ-kheo” hay “chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta”, thời người ấy mới có lời

* Trang 217 *
device

chỉ giáo cho chúng Tỳ-kheo. Này A Nan, Đức Như Lai không có nghĩ “Ta sẽ là người lãnh đạo của chúng Tỳ-kheo” hay “chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta” thời sao Ta lại có lời chỉ giáo cho chúng Tỳ-kheo”.
Bước tới một bước nữa trong sự kính trọng, giá trị và khả năng hướng thiện của con người, Đức Phật đã tự đứng ra một bên, tự cho mình chỉ đóng vai trò dẫn đường, còn trách nhiệm giải thoát hoàn toàn do con người định đoạt :
Tumhehi kiccam àtappam,
Akkhàtàro Tathàgato (Dhammapàda 276)
“Các ngươi hãy cố gắng tinh tấn làm phận sự của mình. Đức Như Lai chỉ là Vị chỉ đường”.
Attàhi attano nàtho
Kohi nàtho paro siyà?
Attanà hi sudantena
Nàtham labhati dullabham. (Dh. 160)
“Tự mình là vị lãnh đạo cho chính mình. Không thể có một vị lãnh đạo nào khác nữa. Chỉ có chính mình thanh tịnh mới thật là vị lãnh đạo khó tìm”.
Trung thành với tư tưởng trên, Đức Phật khi gần nhập Niết Bàn đã trối trăn lại những lời khuyên nhủ như sau :

* Trang 218 *
device

“Vì vậy, này các Tỳ-kheo, hãy tự mình là ngọn đuốc soi sáng cho chính mình chớ không nên nương tựa vào một ai khác mình. Hãy tự đốt ngọn đuốc chánh pháp, đừng nương tựa một pháp nào khác”...
“Này A Nan, sau Ta diệt độ, những ai sống, là ngọn đuốc soi sáng cho chính mình, nương tựa tự nơi chính mình, không nương tựa một ai khác thời, này A Nan, những vị ấy sẽ là những vị Tỳ-kheo tối thượng, những vị ấy có khả năng học hỏi”.
Với mục đích giúp đỡ cho hàng đệ tử tự mình là ngọn đuốc soi sáng cho chính mình, Đức Phật hướng tất cả phương pháp tu hành đến mục tiêu làm sống dậy những đức tánh cao đẹp thanh thoát của con người. Không gì làm hạ phẩm giá con người bằng sự say mê dục vọng mà Đức Phật trong kinh Dhamma-cakkappavattana đã định nghĩa bằng những danh từ là hìno (đê tiện), gammo (thấp kém), pothujjaniko (phàm phu), anariyo (không xứng thánh hạnh), anattha samhito (không thiết thực lợi ích) và thay thế con đường hạ tiện phàm phu, hạ phẩm giá con người ấy, Đức Phật giới thiệu một con đường mới, con đường đưa đến pháp nhãn (cakkhu), trí tuệ (nàna), an tịnh (upasama), thắng trí (abhinnà), giác ngộ (sambodha), Niết-bàn (Nibbàna).
Nhìn đến văn học Pàli Abhidhamma, chúng ta

* Trang 219 *
device

 thấy ngay đạo đức học của đạo Phật hoàn toàn xây dựng trên lập trường hướng thiện của con người. Từ 12 bất thiện tâm khiến con người không thối thất đọa lạc, qua 18 vô nhân tâm (ahetukacitta), khiến con người không lùi, đến 59 tịnh quang tâm (sobhana-citta) giúp con người tiến mạnh đến đích giải thoát, chúng ta thấy ngay văn học Abhidhamma là cả một sự tin tưởng ở khả năng giải thoát của con người và cũng là một sự khuyến khích con người hãy tận dụng khả năng ấy để tiến đến giải thoát cứu cánh.
Trong kinh Sàmannaphala, Đức Phật ví dụ một người bị phiền não chi phối như người mắc nợ, như người bị bệnh áp bức, như người bị nhốt trong tù ngục, như người nô lệ không được tự chủ, như người giàu có đi qua một bãi sa mạc đầy những hiểm nguy để tỏ rõ sự trói buộc, tù túng, nô lệ, sợ hãi của những ai còn bị dục vọng phiền não chi phối. Và khi người ấy đã tinh tấn tu hành, nhiếp phục được các phiền não, triền phược, Đức Phật lại ví dụ người ấy như người mắc nợ đã được trả nợ, như người bệnh được bình phục, như người tù được phóng thích, như người nô lệ được trả lại tự do, như người bộ hành qua khỏi bãi sa mạc một cách yên ổn. Nói tóm lại, chủ tâm của Đức Phật là muốn giúp chúng ta thoát khỏi sự nô lệ của tiền tài, địa vị, dục vọng, cho đến sự nô lệ của giáo điều và tà kiến. Nói một cách

* Trang 220 *
device

khác, những người có tâm hồn nô lệ và những người chủ trương nô lệ hóa con người không thể là một Phật tử hay chỉ là một Phật tử có danh nhưng không có thực.
Một trong sự áp dụng tất nhiên của tinh thần nhân bản tôn trọng giá trị con người là chủ trương bình đẳng giai cấp của Đức Phật. Ngài đả phá chế độ giai cấp thống trị của Bà-la-môn đã cho rằng ba giai cấp Sát-đế-ly, Phệ-xá và Thủ-đà chỉ để phục vụ giai cấp Bà-la-môn. Lời dạy của Đức Phật “Không có giai cấp trong dòng máu đồng đỏ” hay câu trả lời của ngài A Nan : “Tôi xin nước uống chớ không xin giai cấp”, đã nói lên lập trường của Đức Phật không thể chấp nhận một sự phân chia giai cấp nào.
Sự bình đẳng giai cấp đã được thực hiện trong giáo hội của Đức Phật như đã ghi rõ trong kinh Anguttara: “Này các Tỳ-kheo, như các con sông lớn : Ganga, Yamuna, Aciravati và Mahi, khi chảy vào trong biển lớn, tự mất tên riêng của chúng và trở thành biển lớn. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi bốn giai cấp Sát-đế-ly, Bà-la-môn , Phệ-xá, Thủ-đà, bắt đầu theo Pháp và Luật của Đức Như Lai, cũng mất giai cấp của chúng và trở thành những phần tử đồng đẳng trong giáo hội.” Khi Upàli, một người thợ hớt tóc cùng với sáu Hoàng tử Sakya xin xuất gia thọ

* Trang 221 *
device

giới, Đức Phật, để nêu rõ sự bình đẳng của các giai cấp, đã thọ giới cho Upàli trước sáu vị Hoàng tử và sáu vị này đã phải kính lễ Upàli như bậc đàn anh trong giáo hội.
Chính sự giáo hóa của Đức Phật là một bằng chứng cụ thể nêu rõ sự tôn kính của Đức Phật đối với mọi tầng lớp của dân chúng trong xã hội. Ngài hóa độ cho Ambapàli, một người kỹ nữ có tiếng ở Vesali và như vậy từ một kẻ buôn phấn bán son, chịu sự rẻ rúng của thiên hạ, Ambapàli được Đức Phật giáo hóa trở thành bậc Thánh, được sự tôn kính cúng dường của bậc vua chúa. Đức Phật độ cho tên tướng cướp Angulimàla ở Sàvatthi và như vậy từ một tên giết người cướp của khét tiếng, gieo rắc kinh khủng và thù hằn, Đức Phật đã biến Angulimàla thành một vị Tỳ-kheo hiền hòa khả kính. Đức Phật đã độ cho Sunità, một người gánh phân ở thành Ràjagaha (Vương Xá), như vậy từ một người làm nghề mà thiên hạ cho là hèn hạ nhất, Đức Phật đã đặt Sunità lên ngang hàng với các vị Tỳ-kheo đáng tôn kính nhất trong xã hội thời bấy giờ.
Tinh thần nhân bản và thái độ bình đẳng của Đức Phật bắt nguồn từ thái độ tôn trọng lý trí của Đức Phật và sự bác bỏ mọi hình thức cuồng tín. Khi các Luận sư Abhidhamma liệt Uddhacca (trạo cử) và

* Trang 222 *
device

Moha (si) là những tâm sở cơ bản của các tâm bất thiện, các vị ấy cũng đã trung thành với quan niệm của Đức Phật đã xem mê mờ và thái độ thiếu bình tĩnh là nguồn gốc của mọi ác nghiệp và khổ đau.
Một thời Đức Phật đến thăm một thành phố nhỏ tên là Kesaputta, trong nước Kosala. Dân chúng của thành phố này được gọi tên chung là Kàlàma. Khi được biết Đức Phật đến tại Kesaputta, các vị Kàlàma đến yết kiến Đức Phật và hỏi Ngài :
“Kính tôn giả Gotama, có những Sa-môn, Bà-la-môn đến thăm Kesaputta, giải thích trình bày giáo lý của mình và chỉ trích, khinh rẻ và bài bác giáo lý của người khác. Lại có những Sa-môn, Bà-la-môn khác cũng lại giải thích, trình bày giáo lý của mình và chỉ trích, khinh rẻ, bài bác giáo lý của người khác. Kính Tôn giả Gotama, chúng tôi phân vân nghi ngờ, không hiểu giữa Sa-môn, Bà-la-môn ấy, ai nói đúng sự thật, ai nói lời giả dối ?”
Đức Phật đã khuyên các vị Kàlàma ấy như sau, một lời khuyên có một không hai trong lịch sử các tôn giáo, một lời nhắc nhở đến thái độ bình tĩnh và sáng suốt trước khi phê phán và hành động :
“Này Kàlàma, các ngươi phân vân, các ngươi nghi ngờ như vậy là phải, vì các ngươi đã biết phân

* Trang 223 *
device

 vân và nghi ngờ trước một sự việc cần phân vân và nghi ngờ.
“Này Kàlàma, đừng công nhận điều gì do truyền thống đưa lại. Đừng công nhận điều gì do tin đồn đưa đến. Đừng công nhận điều gì vì điều ấy phù hợp với kinh điển của mình. Đừng công nhận điều gì do tưởng tượng đưa đến. Đừng công nhận điều gì vì điều ấy do một người mình kính trọng tuyên bố.
“Này Kàlàma, khi nào các ngươi tự biết những việc ấy là bất thiện, những việc như vậy bị người có trí phê bình trách cứ, những việc ấy khi tạo tác và thực hành sẽ đưa đến sự đổ vỡ và khổ đau, chỉ khi ấy các ngươi hãy bác bỏ chúng. Này Kàlàma khi nào các ngươi tự biết những việc ấy là thiện, những việc ấy không đáng chê trách, những việc ấy được người trí tán thán, những việc ấy khi tạo tác và thực hành sẽ đưa đến an lạc và hạnh phúc, chỉ khi ấy các ngươi hãy tuân theo chúng.” (Anguttara Nikàya).
Cũng không ngoài tinh thần trên, Đức Phật đã khuyên các vị Tỳ-kheo như sau, khi có người chỉ trích hay tán thán ba ngôi báu : “Này các Tỳ-kheo, nếu có người hủy báng Ta,

* Trang 224 *
device

 hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng và nếu các người sanh tâm công phẫn và phiền muộn, thời như vậy sẽ có hại cho các ngươi… (các ngươi không thể biết lời nói của kẻ ấy là đúng hay sai lạc…). Này các Tỳ-kheo, khi có người hủy báng Ta hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, thời các ngươi phải nói rõ những điều không đúng sự thật là không đúng sự thật : Như thế này, điểm này không đúng sự thật, như thế này điểm này không chính xác, việc này không có giữa chúng tôi, việc này không xảy ra giữa chúng tôi.”
“Này các Tỳ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, thời các người không nên hoan hỷ, khoái trá, tâm không nên thích thú. Nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, mà các ngươi hoan hỷ, khoái trá và thích thú, thời sẽ có hại cho các ngươi. Này các Tỳ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, thời các ngươi hãy công nhận những gì đúng sự thật là đúng sự thật : Như thế này, điểm này đúng sự thật, như thế này điểm này chính xác, việc này có giữa chúng tôi, việc này đã xảy ra giữa chúng tôi.”
Như vậy, chủ điểm của đạo Phật nhấn mạnh vào nơi sự nhận thức hiện trạng thực tại sự vật. Vì vậy cả giáo lý Ngài dạy không ngoài mục đích đưa chúng ta đến sự thấy và sự biết như thật (yathàbhùtam nànadassanam) chớ không phải nhắm mắt tin suông.
Chúng ta tin khi chúng ta không thấy. Khi chúng ta đã thấy, chúng ta không cần phải tin. Nếu tôi nói rằng có một hòn ngọc trong nắm tay của tôi, vấn đề

* Trang 225 *
device

 tin sẽ được đặt ra vì quý vị không thấy được hòn ngọc trong nắm tay của tôi. Nhưng khi tôi mở nắm tay và đưa cho quý vị thấy hòn ngọc trong nắm tay của tôi, vấn đề tin không cần đặt ra nữa. Vì vậy kinh điển có dạy : “Hãy chứng ngộ như thấy quả A-ma-lật trong tay”.
Cũng một tinh thần trên Đức Phật đã dạy : “Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng sự diệt trừ phiền não và nhiễm ô chỉ đến với những người biết và những người thấy; không đến với những người không biết và không thấy” (Majjhima Nikàya, số 2).
Câu chuyện sau đây minh chứng sự quan trọng của biết và thấy như thật. Một thanh niên Bà-la-môn tên là Kàpathika hỏi Đức Phật :
“Này Tôn giả Bà-la-môn, có những Thánh kinh Bà-la-môn được truyền tụng bằng khẩu truyền không gián đoạn, các vị Bà-la-môn này đối với những Thánh kinh ấy đã kết luận : “Chỉ những thánh kinh này là sự thật, ngoài ra đều giả dối”. Này Tôn giả Gotama, ý Tôn giả thế nào ?”
Đức Phật hỏi: “Trong các vị Bà-la-môn, có vị nào tự xem là đã biết và đã thấy: “Chỉ những Thánh kinh này mới là sự thật, ngoài ra đều giả dối ?”. Vị Bà-la-môn kia thẳng thắn trả lời là không. Đức Phật hỏi thêm: “Có những Sư trưởng, Tổ sư Bà-la-môn nào đến 7 đời, hay tác giả những Thánh kinh ấy, có ai tự

* Trang 226 *
device

xem là đã biết hay đã thấy: “Chỉ những Thánh kinh này mới là sự thật, ngoài ra đều giả dối ?” – “Không có vị nào” – Vị Bà-la-môn trả lời. Đức Phật kết luận : “Nếu  như vậy thời không khác một nhóm người mù, người này ôm lưng người kia, người đầu không thấy, người giữa không thấy, người cuối cũng không thấy. Như vậy, tình trạng của các vị Bà-la-môn cũng không khác nhóm người mù kia”. Rồi Đức Phật khuyên các vị Bà-la-môn : “Một người sáng suốt có trách nhiệm bảo vệ sự thật không nên kết luận : Chỉ những Thánh kinh này mới là sự thật, ngoài ra đều giả dối”. Rồi Đức Phật giải thích thêm : “Một người có sự tín ngưỡng, nếu người ấy nói : Đây là sự tín ngưỡng của tôi, như vậy người ấy bảo vệ sự thật. Nhưng người ấy không thể kết luận : Chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều giả dối. Nói một cách khác, chúng ta có thể tin những điều gì chúng ta có thể tin tưởng, chúng ta có thể nói: Tôi tin như thế này, nhưng chúng ta không thể vì sự tin tưởng của chúng ta mà nói những gì ta tin là đúng sự thật, ngoài ra đều là giả dối.”
Đức Phật dạy : “Chấp trước một quan điểm và khinh rẻ các quan điểm khác cho là thấp kém, người có trí xem đó là một sự trói buộc” (Samyutta Nikàya). Một thời Đức Phật giải thích đạo lý nhân quả;  và các Tỳ-kheo trong câu trả lời, các vị ấy nói là đã thấy và đã hiểu đạo lý nhân quả một cách rõ ràng. Đức Phật

* Trang 227 *
device

 khuyên : “Này các Tỳ-kheo, cho đến quan điểm ấy, trong sạch và rõ ràng như vậy, nhưng nếu các ngươi chấp thủ nó, thời như vậy các ngươi không hiểu giáo lý là như chiếc bè để chở qua sông chớ không phải bám chặt lấy.” (Majjhima Nikàya). Lời dạy này được dạy lại trong kinh Kim Cang : “Nhất thiết Phật như pháp phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp”. Đức Phật là vị Giáo chủ độc nhất đã dám khuyên đệ tử của mình đừng nhắm mắt tin theo lời dạy của mình, một sự can đảm phi thường chỉ có thể tìm thấy ở những tâm hồn thật sự sáng suốt, thật sự giải thoát.
Và lời dạy này đã được vua A Dục tuân theo một cách triệt để trong thái độ khoan dung và kính trọng mọi hình thức tôn giáo và tín ngưỡng trong quốc độ của ngài. Chính vua Asoka đã khắc trong bia đá số XII, tinh thần khoan dung này bằng một lời khuyên bất hủ : “Chúng ta không nên kính trọng tôn giáo của mình mà bài xích tôn giáo của kẻ khác. Chúng ta tôn trọng tôn giáo của kẻ khác vì lý do này hay lý do khác. Làm như vậy, chúng ta giúp tôn giáo của chúng ta phát triển và cùng giúp đỡ tôn giáo của kẻ khác. Nếu làm trái ngược chúng ta tự chôn tôn giáo của mình và làm hại tôn giáo của kẻ khác. Có những người kính trọng tôn giáo của mình, bài xích tôn giáo của kẻ khác do sự tín kính đối với tôn giáo của mình với ý nghĩ : “Ta sẽ làm tôn giáo chúng ta được huy

* Trang 228 *
device

hoàng”. Nhưng sự thật thì trái hẳn, vì làm như vậy là tự hại tôn giáo của mình một cách trầm trọng hơn. Do vậy sự hòa đồng là chí thiện. Hãy nghe và vui lòng nghe những giáo pháp của kẻ khác.”
Chính nhờ tinh thần khoan dung sáng suốt này mà lịch sử truyền bá đạo Phật không bị một giọt máu chiến tranh tôn giáo làm hoen ố trong hơn hai nghìn năm truyền bá.
Nếu sự khoan dung cởi mở là một thái độ của một Phật tử trong khi đối xử với các tôn giáo bạn, Đức Phật còn khuyên chúng ta nên tập trung vào hiện tại để cải thiện và xây dựng đời sống của chúng ta. Đạo Phật là đạo dựa trên thực tại của sự vật, đưa đến sự hiểu biết đúng với sự thật, nên lời dạy của Đức Phật được gọi là Pháp thiết thực hiện tại (ditthadhammo), một lời dạy thực tại và cũng được gọi là Akàliko, một lời dạy vượt ngoài thời gian tánh, có giá trị trong tất cả thời đại.
Lời dạy của Đức Phật không phải là lời dạy về quá khứ, vì sự hối quá, ưu tư, mặc cảm đối với tội lỗi quá khứ có thể đem lại sự mất thăng bằng của tâm tư và có thể đưa đến kinh hãi, điên dại và hành hạ xác thân. Và người phạm lỗi phải dùng nghi lễ, tế tự, đút lót thần linh và những vị đại diện thần linh để mong chuộc tội, những hành động ấy không bao giờ được đạo Phật chấp nhận.

* Trang 229 *
device

Lời dạy của Đức Phật không phải là một lời dạy về tương lai, vì đạo Phật không bao giờ xem hiện tại là một sự sửa soạn cho một đời sống tương lai hoàn toàn hạnh phúc. Đạo Phật không xem đức hạnh và việc thiện như là một sự buôn bán đổi chác cho một hạnh phúc tương lai nào. Vì đã là một sự buôn bán thời không xứng với giá trị của đức hạnh. Lẽ dĩ nhiên đạo Phật không phủ nhận quá khứ, không phủ nhận tương lai. Nhưng quá khứ và tương lai chỉ có giá trị trong sự tương quan với hiện tại. Vì hiện tại là kết quả của quá khứ thì tương lai sẽ là kết quả của hiện tại, ở hiện tại chúng ta tìm thấy kết quả của những hạt giống quá khứ, cũng như ở hiện tại, chúng ta sẽ thấy rõ sự hiện thành của quả tương lai :
     Dục tri tiền thế nhân
     Kim sanh thọ giả thị
     Dục tri lai thế quả
     Kim sanh tác giả thị
Như vậy, quá khứ đã trở thành hiện tại và tương lai đã nằm sẵn trong hiện tại. Cho nên chỉ có hiện tại là trực tiếp quan hệ đến chúng ta nhất. Vì chính trong hiện tại, chúng ta un đúc, tác thành tương lai.
Như vậy, lời dạy của Đức Phật là một lời dạy hiện tại, một lời dạy trách nhiệm, vì chúng ta đang mang nặng cả một quá khứ chính chúng ta tạo tác, và

* Trang 230 *
device

cũng là một lời dạy báo động, vì chúng ta sẽ tác thành tương lai của chúng ta ở hiện tại.
Thái độ thường tình của con người là đổ lỗi những xấu xa hiện tại cho những người khuất hoặc người khác. Lời dạy của Đức Phật đã cho chúng ta thấy chúng ta chịu một phần trách nhiệm rất lớn nếu không phải là tất cả, cho những tình trạng đau đớn bi đát hiện tại, vì thế giới với những hiện tượng thực tại là thế giới của chúng ta, những tệ đoan hay sóng gió ở xã hội chỉ là sự bộc lộ hình thành của những tệ đoan, sóng gió ở nội tâm của chúng ta. Một nội tâm xấu xa, ly loạn làm thế nào không tác thành một xã hội hỗn độn phức tạp. Vì vậy đạo Phật là cả một lời dạy thiết thực hiện tại, trong ấy chúng ta thấy rõ trách nhiệm của chúng ta đối với quá khứ và chúng ta cũng nhận thức rõ ràng sự quan hệ của những hành động hiện tại đối với tương lai. Chỉ có những cải thiện cấp thời hiện tại đối với nội tâm mới có giá trị thiết thực canh tân xã hội hiện tại và xây dựng xã hội tương lai.
Trên bối cảnh của đất nước Việt Nam đau khổ tang tóc hiện tại và dựa trên những lời dạy sáng suốt và thiết thực của Đức Phật vừa được trình bày trên, chúng ta thấy rõ chúng ta phải gánh một phần trách nhiệm đối với hiện trạng của xã hội Việt Nam chúng ta. Và chúng ta cũng thấy rõ rằng, chỉ có sự cải thiện

* Trang 231 *
device

 con người và xã hội, chúng ta mới có hy vọng hoán cải tình trạng đau thương hiện tại và xây dựng một nước Việt Nam an lạc và phồn thịnh tương lai.
Theo thiển nghĩ của chúng tôi, chúng ta phải bắt đầu bằng một sự thay đổi thái độ của chúng ta đối với chúng ta. Nói một cách khác, giữa người Việt Nam, chúng ta phải biết kính trọng nhau, một sự kính trọng thành thật, bắt nguồn tự sự hiểu biết giá trị của con người, và chính sự tương kính này sẽ đưa đến sự thông cảm và hợp tác. Chúng ta kính trọng nhau vì tự con người là đáng kính rồi, chúng ta kính trọng nhau vì nếu người Việt Nam không biết kính trọng người Việt Nam thời ai mới kính trọng người Việt Nam nữa.
Song song với sự tương kính ấy, và để xứng đáng với sự tương kính ấy, mỗi người chúng ta phải cố gắng làm thế nào phát triển những đức tánh cao đẹp của con người, nói một cách khác, chúng ta phải cố gắng làm thế nào để thoát khỏi sự nô lệ của tiền bạc, của danh vọng và của dục lạc. Thế giới hiện tại là thế giới kim tiền, và tiền tài là sức mạnh ghê gớm chi phối và ngự trị trên mọi tâm tư hành động của con người. Vì nhận chân được sức mạnh của tiền tài, danh vọng và sắc dục, chúng ta phải hạn chế sự chi phối của chúng ta đến một giới mức nào đó để khỏi phải phản đạo, phản nước, phản thầy, phản bạn, làm những điều tán

* Trang 232 *
device

tận lương tâm mà một người Việt Nam biết trọng danh giá của nước Việt Nam sẽ không bao giờ làm. Không những chúng ta cố gắng không làm nô lệ, chúng ta cũng tránh không dùng tiền tài, địa vị, vật dục mà nô lệ hóa người khác, biến con người thành một công cụ nô lệ để chúng ta sai khiến, vì nô lệ hóa người khác là khinh rẻ miệt thị giá trị con người, và nếu chúng ta không trọng người Việt Nam thì ai mới kính trọng người Việt Nam.
Thái độ tương kính trên sẽ đưa đến thông cảm, và chúng ta, chỉ có thể thông cảm nhau một cách chân thành khi nào chúng ta có một thái độ cởi mở, phóng khoáng, không cố chấp. Chúng ta có quyền theo một tôn giáo riêng, tin tưởng một học thuyết, một chủ nghĩa riêng, nhưng chúng ta không thể và không nên vì tín ngưỡng, vì lập trường riêng của chúng ta mà có một thái độ giáo điều cố chấp, độc tôn, nguyên nhân của bao nhiêu hiểu lầm, tranh chấp và đổ vỡ. Chỉ có một thái độ phóng khoáng, cởi mở mới đưa đến sự thông cảm, sự hợp tác chân thành, điều kiện tất yếu để xây dựng lại nước Việt Nam của chúng ta.
Nhưng sự xây dựng phải bắt đầu ở hiện tại. Chúng ta không trách cứ quá khứ hoặc đổ lỗi cho người khác những thảm trạng hiện tại, chúng ta cũng không có thái độ khoanh tay ngồi nhìn để người khác

* Trang 233 *
device

 mang lại hòa bình hạnh phúc cho chúng ta, hay giao phó tương lai đất nước của chúng ta cho rủi may định đoạt. Hai thái độ trên là hai thái độ thiếu tinh thần trách nhiệm và xây dựng. Chúng ta không có thể làm những việc kinh thiên động địa để lập hòa bình cho dân chúng Việt Nam, vì chiến tranh Việt Nam đã trở thành một chiến tranh quốc tế, nhưng với một tinh thần khiêm tốn nhưng hết sức xây dựng, chúng ta có thể cố gắng làm tròn bổn phận của chúng ta trong địa vực, hoàn cảnh, chức nghiệp của chúng ta hiện tại, công việc dầu có nhỏ mọn đến đâu cũng có ý nghĩa nếu chúng ta cho nó một ý nghĩa, một lý tưởng. Việc làm của chúng ta có phải vì danh lợi hay không, chúng ta có làm tròn bổn phận chúng ta hay không, không một Đức Phật nào, không một Phạm Thiên nào hay một Thượng Đế nào biết rõ hơn chúng ta cả. Lương tâm chúng ta là cả một tấm gương trung trực, phản chiếu rõ rệt những ý nghĩ tác động nhỏ nhiệm nhất của nội tâm; nếu chúng ta muốn và có can đảm nhìn, chúng ta sẽ thấy rõ ràng.
Với tinh thần khiêm tốn và cẩn trọng, chúng tôi nghĩ rằng nếu ngay từ giờ phút này, chúng ta cảm thông thương kính nhau hơn; ngay từ giờ phút này, chúng ta làm cho sống dậy những khả năng hướng thiện tốt đẹp của mỗi chúng ta; ngay từ giờ phút này, chúng ta nhận chân được tinh thần trách nhiệm cộng

* Trang 234 *
device

đồng của mỗi người Việt Nam, thời như vậy chúng ta đã tỏ ra thấu hiểu rất nhiều lời dạy của Đức Phật Từ Bi và Trí Tuệ và đã kỷ niệm lễ Phật Đản đúng với sở nguyện của chính Đức Phật Từ Tôn.
Và chúng ta thấy sống dậy, dâng lên, tràn ngập tâm tư của chúng ta một lòng tin tưởng vô biên ở tương lai của nước Việt Nam thân yêu của chúng ta, một sự kính trọng chân thành của chúng ta đối với người dân Việt khả ái và khả kính, đã đau khổ hơn 20 năm và vẫn chịu đựng nhẫn nhục hy sinh để xây dựng một nước Việt Nam có văn hiến, có dân tộc tính, có những tự do căn bản của con người.




 
*

* Trang 235 *
device

 
Đức Phật nhà đại giáo dục