LOGO VNBET
TÔN GIÁO PHẢI LÀ NGUYÊN NHÂN
SỰ THỐNG NHẤT NHÂN LOẠI *


Lịch sử và kinh nghiệm cho chúng ta thấy rõ sự độc tôn, cuồng tín, cố chấp, giai cấp và nô lệ hóa con người là những nguyên nhân chính gây ra chiến tranh, kỳ thị chủng tộc và tôn giáo đang đè nặng lên đời sống của nhân loại, và chúng ta cũng phải công nhận tôn giáo vô tình hay cố ý nhiều khi đã trực tiếp hoặc gián tiếp khuyến khích dung dưỡng những tệ đoan trên. Vì vậy một tôn giáo muốn trở thành một sức mạnh thống nhất nhân loại phải tránh xa những căn bệnh trầm trọng ấy.
Một trong những nguyên nhân của chiến tranh và chia rẽ nhân loại là sự tự tôn tự đại, cho rằng tôn giáo, văn hóa của mình là tuyệt đối cao thượng và tự nhận mình có trách nhiệm phải đi giáo hóa kẻ khác còn thoái hóa man rợ hơn. Lẽ dĩ nhiên thái độ độc tôn và nguy hiểm này rất dễ sinh ra những phản ứng



* Diễn văn của Hòa thượng Thích Minh Châu, nguyên Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh đọc nhân ngày lễ Tôn giáo hoàn cầu tổ chức ngày 15-1-1966.

* Trang 138 *
device

mãnh liệt và đó là những nguyên nhân của chiến tranh tôn giáo và các kỳ thị tôn giáo thỉnh thoảng vẫn xảy ra. Đạo Phật với sự khiêm tốn tế nhị của Đức Phật với lời dạy sáng suốt và phải chăng của Ngài bao giờ cũng gây niềm thông cảm và một thái độ từ hòa. Khi sắp sửa nhập Niết-bàn và được ngài A Nan thỉnh xin để lại một lời chỉ giáo cho Đại đức chúng tăng, Đức Phật đã nói lên tất cả sự khiêm tốn chân thành của một nhà lãnh đạo sáng suốt : “Này A Nan, nếu có ai nghĩ Ta là người lãnh đạo chúng Tỳ khưu hay chúng Tỳ khưu chịu sự giáo huấn của Ta thời người ấy mới có lời chỉ giáo cho chúng Tỳ khưu. Này A Nan, Đức Như Lai không có nghĩ rằng Ta là người lãnh đạo chúng Tỳ khưu hay chúng Tỳ khưu chịu sự giáo huấn của Ta, thời sao Ta lại có lời chỉ giáo cho chúng Tỳ khưu ?” Lời khiêm tốn này lại luôn luôn đi đôi với những lời dạy phải chăng và sáng suốt. Một số Bà-la-môn đến hỏi Đức Phật : “Tôn giả Gotama, có những Thánh kinh Bà-la-môn được truyền tụng không bao giờ gián đoạn cho đến nay. Đối với các Thánh kinh ấy, các vị Bà-la-môn quả quyết : “Chỉ có những Thánh kinh này là chân thật, ngoài ra chỉ là giả dối”. Tôn giả Gotama nghĩ như thế nào về vấn đề này ?” Đức Phật hỏi đã có một vị Bà-la-môn nào đã biết và đã thấy : “Chỉ có những Thánh kinh này là chân thật ngoài ra đều là giả dối không ?” Khi được

* Trang 139 *
device

 trả lời không, Đức Phật lại hỏi thêm đã có các vị tôn sư nào cho đến bảy đời đã biết và đã thấy : “Chỉ có những Thánh kinh này là chân thật ngoài ra đều là giả dối không ?” Và khi được trả lời không một lần nữa, Đức Phật kết luận : “Như vậy thời có khác gì một chuỗi người mù tiếp nối ôm nhau, người đầu không thấy, người giữa không thấy và người cuối cùng cũng không thấy”, và Đức Phật khuyên các vị Bà-la-môn : “Thật là vô lý nếu có một người sáng suốt nào, để bảo vệ sự thật lại chấp rằng chỉ ở đây là sự thật, ngoài ra đều là giả dối”. Và Đức Phật giải thích thêm : “Một người có lòng tin; nếu vị này nói “đây là lòng tin của tôi” và như vậy vị ấy bảo vệ sự thật. Nhưng nếu vị ấy quả quyết “chỉ ở đây là sự thật ngoài ra đều giả dối”, thời như vậy vị ấy đã lạm dụng sự thật. Nói một cách khác, chúng ta có thể tin tôn giáo này, tôn giáo khác, nhưng chúng ta không thể vì lòng tin của ta mà tự cho chỉ có lòng tin của mình là tối thượng, ngoài ra đều là cỏ rác. Vì cử chỉ như vậy là một cử chỉ gây sự chia rẽ giữa nhân loại, không sáng suốt và thiếu tinh thần khiêm nhượng của một tôn giáo chân chính”.
Từ độc tôn rất dễ đi đến cuồng tín, chấp chặt ý thức hệ của mình, những chứng bệnh nan y và phồn thịnh nhất trong thế giới hiện đại. Bức tường Bá Linh, vĩ tuyến 17 ở Việt Nam, vĩ tuyến 38 ở Đại

* Trang 140 *
device

Hàn, chế độ phát xít ở Đức là những bằng chứng cụ thể nói lên sự tai hại trầm trọng của cố chấp về ý thực hệ.
Vì vậy một tôn giáo muốn thống nhất nhân loại phải đánh đổ sự cuồng tín, cố chấp, và mọi sự dung dưỡng độc tài. Và ở đây, lập trường của đạo Phật thật quá rõ rệt và thiết thực. Trong một tôn giáo nào, lẽ dĩ nhiên phải có lòng tin. Nhưng trong đạo Phật lòng tin chỉ là một bước đầu của người Phật tử và cuối cùng lòng tin ấy phải được soi sáng bởi trí tuệ. Và một lòng tin đã được soi sáng bởi trí tuệ thì không sao trở thành cuồng tín.
Đạo Phật là đạo chú trọng thấy, biết và hiểu chớ không nhấn mạnh lòng tin. Lòng tin chỉ cần đến khi chúng ta không thấy, không biết. Khi chúng ta thấy thì chúng ta không cần phải tin nữa. Nếu tôi nói với các ngài, tôi có giấu một hòn ngọc trong nắm tay của tôi, khi ấy cần phải có lòng tin và các ngài chưa thấy, chưa biết. Nhưng khi tôi mở nắm tay ra và các ngài đã thấy hòn ngọc trong bàn tay tôi, thì lòng tin không cần đến nữa. Vì vậy Đức Phật đã nói: “Này các Tỳ-khưu, Ta nói sự diệt trừ các phiền não và nhiễm ô chỉ đến với người biết và thấy chớ không phải với ngườikhông biết và không thấy”. Chính thái độ sáng suốt phải chăng của đạo Phật đã soi sáng lòng tin của người Phật tử trong hơn 20 thế kỷ truyền bá và chính

* Trang 141 *
device

nhờ vậy mà lịch sử đạo Phật chưa bao giờ bị hoen ố bởi một nạn chiến tranh tôn giáo nào. Nhưng đạo Phật không những soi sáng lòng tin, đạo Phật còn chú trọng phá trừ mọi cố chấp, hay nói một cách khác, mọi hình thái ý thức hệ. Dưới cặp mắt sáng suốt của Đức Phật, mọi cố chấp, cho đến cố chấp vào Chánh pháp, vẫn là một chướng ngại trên con đường giải thoát. Một hôm, Đức Phật giảng lý nhân duyên cho các đệ tử và khi các đệ tử nói tự mình đã thấy và đã hiểu giáo lý ấy một cách rõ ràng, Đức Phật liền khuyên ngay: “Này các Tỳ-khưu, cho đến quan điểm ấy đã rõ ràng thanh tịnh như vậy nếu các ngươi chấp chặt lấy, nếu các ngươi nâng niu, nếu các ngươi tha thiết yêu quý, nếu các ngươi chấp trước giáo lý ấy, thời như vậy các ngươi đã không hiểu rằng lời dạy ví như chiếc bè đã qua sông chứ không phải để nắm chặt lấy. Aham dhammam, saranatthan na gabetabban ti”. Và lời dạy này được lập lại trong kinh Kim Cương: “Nhữ đẳng Tỳ-khưu, tri ngã thuyết pháp, như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp = Này các Tỳ-khưu nên biết, lời thuyết pháp của Ta như chiếc bè qua sông. Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp”. Thật là một lời dạy can đảm và sáng suốt, vì phải có can đảm và sáng suốt mới khuyên đệ tử mình đừng chấp trước giáo lý của mình, một thái độ cởi mở phóng khoáng cùng tột có một

* Trang 142 *
device

 không hai trong lịch sử tôn giáo. Nếu chúng ta so sánh bài kệ của ngài Thần Tú “Thân thị Bồ-đề thụ, tâm như minh cảnh đài, thời thời thường phất thức, vật sử nhạ trần ai” với bài kệ của Lục Tổ Huệ Năng “Bồ-đề bản vô thụ, minh cảnh diệc phi đài, bản lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai”, chúng ta thấy ngay thái độ của ngài Huệ Năng vừa phóng khoáng, cởi mở, vừa trầm lặng oai hùng, thoát ly mọi sự ràng buộc của ý thức hệ, vượt xa các ranh giới tôn giáo, hướng đến tinh thần giải thoát vô biên.
Nếu vấn đề ý thức hệ chia rẽ nhân loại một cách trầm trọng thế giới hiện tại,  vấn đề giai cấp cũng là một ung nhọt cổ truyền cũng đã gây ra biết bao tang thương chia rẽ giữa nhân loại. Vấn đề giai cấp bắt nguồn từ một quan niệm sai lầm tự cho mình có quyền, có nhiệm vụ được hưởng quyền lợi đặc biệt hơn các giai cấp khác hoặc căn cứ một vài lời trong Thánh kinh cổ truyền để bắt buộc các giai cấp khác phục vụ mình. Trong thời Đức Phật, vấn đề giai cấp chi phối rất mạnh mẽ xã hội Ấn Độ. Theo tập Rig Veda, giai cấp Bà-la-môn sinh ra từ miệng Phạm Thiên, Sát-đế-lỵ từ tay Phạm Thiên, Phệ-xá từ bắp vế và Thủ-đà từ chân của Phạm Thiên. Do vậy Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, có quyền hưởng thụ mọi quyền lợi trọng yếu. Ba giai cấp khác phải phục vụ cho giai cấp Bà-la-môn và một người Thủ-đà

* Trang 143 *
device

không có quyền đọc và học kinh Vedà, không có quyền uống nước trong một làng khác giai cấp, v.v... Đức Phật thấy ngay sự bất công trong chế độ giai cấp, cho nên Ngài đã thành lập một hội giáo Tăng già thoát ly sự kỳ thị giai cấp. Và một người trước kia là một thợ hớt tóc là ngài Upàli vẫn được sự kính lễ của Ananda hay của Nanda dầu người hai người này là hoàng thân quý tộc. Một mặt khác, chính sự học hỏi hiểu biết và đạo đức mới có thể quyết định giá trị và địa vị con người.
Nếu độc tôn cuồng tín, cố chấp giai cấp là những căn bệnh khiến nhân loại chia rẽ chém giết nhau, sự thực chung quy là vì con người chưa nhận thức được giá trị cao quý của con người và bổn phận con người ở đời không phải là nô lệ hóa con người, khinh rẻ, mạt sát, tàn hại nhau mà chính phải nâng đỡ, cứu vớt và nhất là kính trọng lẫn nhau. Và nhiệm vụ của một tôn giáo muốn thống nhất nhân loại phải tránh xa cái nạn nô lệ hóa con người, dùng thần quyền, giáo quyền, sắc đẹp, địa vị, tiền tài, sức mạnh biến con người thành những dụng cụ thuần thành, mù quáng để phục vụ cho quyền lợi riêng tư của mình. Ở đây, thái độ và mục đích của đạo Phật rất là rõ rệt và thiết thực. Chúng ta có thể nói Đức Phật và giáo lý của Ngài chỉ hướng đến một mục tiêu căn bản là làm phát triển nảy nở những đức tính tốt đẹp và diệt trừ,

* Trang 144 *
device

làm lắng xuống những phiền não nhiễm ô, giúp con người khỏi phải nô lệ thần quyền, giáo quyền, tín điều, vật dục, tiền tài và danh vọng địa vị.
Con người tự nó là đáng kính trọng rồi, dầu đó là người da đen hay da trắng, thông minh hay ngu dốt, nghèo hay giàu, đẹp trai hay xấu xí, kẻ thù hay người thân. Giá trị con người phải là một giá trị thiêng liêng và nhiệm vụ của một tôn giáo xứng đáng là một tôn giáo phải biết đề cao giá trị con người, làm sống dậy những đức tính tốt đẹp của con người, và làm cho nhẹ bớt đi nhừng tính xấu của con người. Sự kính trọng con người này không thể là một tín điều. Vì tín điều có thể có nghĩa là cuồng tín,  cũng không phải là thái độ một kẻ bề trên đối với kẻ dưới; vì nhận thức như vậy là có ý niệm khinh rẻ con người, cũng không phải là cử chỉ a dua, nghe theo, bắt chước, vì như vậy chỉ là một cử chỉ thụ động. Thái độ này phải là một sự nhận thức sáng suốt, tích cực, phát nguồn từ một sự thông cảm chân thành giữa người và người. Chỉ khi nào con người biết thành thật kính trọng con người thì khi ấy nhân loại mới bớt khổ đau và chiến tranh chia rẽ sẽ bớt đè nặng lên kiếp sống của con người.
Chúng tôi luôn luôn nghĩ rằng nếu người Việt Nam chúng ta biết thành thật kính trọng nhau hơn chút nữa thì chúng ta đã đỡ làm khổ cho nhau biết

* Trang 145 *
device

 bao nhiêu và có lẽ chiến tranh Việt Nam không đến mức độ  tàn khốc như hiện tại.
Trong buổi lễ “Tôn giáo hoàn cầu” hôm nay, trong khi người tôn giáo trong chúng ta hướng đến sự thống nhất của nhân loại, chúng ta hãy nghĩ đến giá trị vô biên của con người và sự đau khổ hiện tại của dân tộc Việt Nam. Chúng ta hãy làm sống dậy trong tâm tư của mỗi người Việt Nam chúng ta lòng thương huynh đệ và sự kính trọng con người Việt Nam, lòng thương và sự kính trọng chân thành của những người Việt không phân biệt tôn giáo, màu sắc, ý thức hệ, địa vị, tiền tài, những người Việt biết đặt hạnh phúc của người Việt Nam và quyền lợi của tổ quốc lên trên tất cả. Và để kết luận cùng xác định rõ thái độ của Phật giáo đối với vấn đề Tôn giáo phải là nguyên nhân sự thống nhất nhân loại, tôi xin trích sau đây lời bi ký số XII của Hoàng đế A Dục, một vị vua Phật tử sau khi đã thống nhất lãnh thổ Ấn Độ, nắm trọn binh quyền và chính quyền, đã có một thái độ tôn giáo rất sáng suốt và phản ảnh trung thực tinh thần khoan dung của đạo Phật :
“Chúng ta không nên kính trọng tôn giáo của mình và bài xích tôn giáo của người khác. Chúng ta phải kính trọng tôn giáo của kẻ khác vì lý do này hay lý do khác. Làm như vậy, chúng ta giúp tôn giáo của chúng ta phát triển và cũng giúp đỡ tôn giáo của kẻ

* Trang 146 *
device

khác. Nếu làm trái lại, chúng ta tự chôn tôn giáo của mình và làm hại đến tôn giáo của kẻ khác. Những ai kính trọng tôn giáo của mình và bài xích tôn giáo của kẻ khác, làm như vậy là do sự tín thành đối với tôn giáo của mình với ý nghĩ “Ta sẽ làm cho tôn giáo của ta được huy hoàng”. Nhưng sự thật thì trái lại, vì làm như vậy là tự hại tôn giáo của mình một cách trầm trọng hơn. Do vậy, sự hòa đồng là chí thiện. Hãy nghe và vui lòng nghe những giáo pháp của kẻ khác”.
*

* Trang 147 *
device

 
Đức Phật nhà đại giáo dục