LOGO VNBET
TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA
MỘT NỮ SINH VIÊN Y KHOA


Lời tòa soạn : Được phép của Thượng tọa Thích Minh Châu, chúng tôi xin trích đăng bài này vào Liên Hoa, để cống hiến quý độc giả, có những thắc mắc như cô Q.H, là một sinh viên ngành Y ở Huế.
Câu hỏi. – “Có vị Giáo sư nói : Đạo Phật là một triết lý cao siêu có một vũ trụ quan đẹp đẽ nên đã thu hút một số thanh niên đang đi tìm cái đẹp, nhưng đạo Phật chỉ đưa đến yếm thế và làm cho quốc gia suy yếu thôi, vì lẽ đạo Phật chủ trương diệt dục, nếu thế con người không còn mong muốn gì nữa, lẽ cố nhiên là đỡ khổ, nhưng cũng vì không muốn hoạt động phát minh và như thế chỉ đưa quốc gia đến chỗ diệt vong thôi”.
Trả lời. – Cô Q.H. nói : “cô Q.H. cũng thấy ý kiến ấy có phần hữu lý, nên cô Q.H. không biết trả lời sao cả. Tuy thế cô Q.H. cũng cứ tin mình chưa hiểu đạo cho thấu đáo chứ không tin đạo Phật đưa người đến chỗ suy yếu”.
Câu hỏi và sự băn khoăn của cô có thể nói cũng là câu hỏi và sự băn khoăn của các thanh niên khác

* Trang 291 *
device

 đang ở trong một tình cảnh như cô, chúng tôi mong trả lời chung cho các thanh niên khác đang ở trong một tình trạng như cô vậy.
Sự hiểu lầm cho đạo Phật là yếm thế và đưa quốc gia đến chỗ suy vong phần lớn do hai sự hiểu lầm : Thứ nhất là hiểu lầm hai phương diện triết lý và luân lý của đạo Phật, thứ hai là sự phân định sai lầm phạm vi thế gian và xuất thế gian.
Nói đạo Phật chủ trương diệt dục, là đứng về phương diện hay địa hạt luân lý, lẽ dĩ nhiên đạo Phật chủ trương diệt dục, nhưng thuyết diệt dục của đạo Phật là sự ứng dụng của một thái độ thuần triết lý hơn. Khi Đức Phật ở trong cung điện, về tài sản, Ngài giàu có sung túc đến bậc thứ nhất, về dục lạc sắc đẹp, Ngài được hưởng đầy đủ, danh vọng không ai có thể sánh bằng Ngài, nhưng Ngài nhận được rằng tài, sắc, danh không thể đem lại chân hạnh phúc cho người. Điểm này dầu cô Q.H. mới lớn lên chưa kinh nghiệm nhiều, nhưng linh tính phụ nữ của cô Q.H. cũng cho cô Q.H. thấy rằng kinh nghiệm của Đức Phật là phải. Ngài ra ngoài cửa thành, lại nhận thêm được rằng sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, tử là khổ. Những điểm này linh tính phụ nữ của cô Q.H. cũng phải công nhận sự nhận xét hay trực nghiệm của Đức Phật là phải. Cử chỉ xuất gia của Ngài có thể

* Trang 292 *
device

 xem là một sự từ bỏ những gì người đời cho cao đẹp nhất, để đi tìm những nguyên nhân và phương pháp đã tạo ra để diệt trừ những nguyên nhân đau khổ ấy.
Thái độ thuần triết lý của Đức Phật đó, một thái độ đã đánh giá lại những gì người đời cho là quý báu nhất, thái độ đó không phải là một thái độ luân lý, không phải là một thái độ nhu nhược, và không dễ gì người đời theo nỗi, lẽ dĩ nhiên ở trên một căn bản không phải nhu nhược, một căn bản phi phàm thoát ngoài ước lượng nhỏ bé của loài người, dựa trên căn bản ấy, không thể lấy lý do gì nói đạo Phật đưa người đến chỗ hèn yếu suy nhược cả; tất cả khổ đau, tất cả tội ác của loài người, những thảm cảnh chiến tranh hiện tại gây nên khiến loài người cấu xé tàn giết lẫn nhau, cũng đều do lòng tham tiền, danh, sắc gây ra cả. Đi thêm một bước nữa, trước nỗi khổ của nhơn loại, Đức Phật đã tìm được nguyên nhân chính là ái và thủ, nhưng ái và thủ sở dĩ có là vì vô minh, tức là mê lầm, nghĩa là đánh giá sai lạc những sự vật ở đời. Nếu nói đến một cuộc cách mạng tinh thần thì không có cuộc cách mạng nào vĩ đại bằng cuộc cách mạng của Đức Phật đã tìm được ở dưới gốc cây Bồ-đề. Và một cuộc cách mạng như vậy không thể nào làm suy yếu một ai chân thành và sáng suốt theo đạo Phật được. Ở đây tôi cần giải rõ thêm một vài điểm.

* Trang 293 *
device

Có hai tánh ảnh hưởng chi phối nhiều hành động con người : một là tham, hai là sân. Tham (đừng hiểu theo nghĩa luân lý), chỉ có nghĩa là ôm giữ những gì mình thích; sân (đừng hiểu theo nghĩa luân lý), chỉ có nghĩa là quăng bỏ những gì mình ghét, ôm giữ và quăng bỏ suông thì không hại gì lắm, nhưng chính vì ôm giữ, ôm giữ không được là khổ, ôm giữ rồi sợ bị mất cũng là khổ v.v... quăng bỏ, nhưng quăng bỏ không được cũng khổ. Đức Phật tìm thấy sở dĩ con người ôm giữ và quăng ghét là do chấp ở một tự ngã, có ưa có ghét, nên Đức Phật với sự sáng suốt của Ngài dạy thuyết vô ngã. Thuyết vô ngã tự nó không có nghĩa gì luân lý, không có nghĩa không hoạt động, không làm gì để có thể hiểu lầm là yếm thế hay nhu nhược, mà chỉ là một cử chỉ thuần triết lý cũng một thể thức trên. Ở đây chỉ là một sự đánh giá lại một sự thay đổi quan niệm, từ một trung tâm vị ngã đến một trung tâm vô ngã, và khi mức độ nhận hiểu này tiến đến một địa vị khá cao thì mọi hành động của loài người quay quần xung quanh cái Ngã, mà chỉ Đức Phật một mình xướng lên thuyết “vô ngã” thời thái độ ấy không thể gì gọi là nhu nhược. Và cử chỉ ấy phải hiểu là rất ít có nghĩa luân lý. Ở thế giới này, loài người xâu xé nhau cũng vì cái ngã ấy, và khi Đức Phật dạy thuyết vô ngã, chính Phật muốn dứt trừ mầm mống những

* Trang 294 *
device

nạn binh đao khổ não ở trên đời này. Cử chỉ ấy không thể dựa vào điểm nào để chỉ trích đạo Phật  làm suy yếu nhơn loại được. Lấy thêm một ví dụ nữa, Đức Phật thấy hận thù không thể diệt hận thù, chỉ do lòng thương mới diệt trừ được hận thù; do đó, chỗ nào Đức Phật cũng khuyên nên tha thứ và khoan hồng  đối với kẻ thù của mình. Thái độ của Đức Phật là kết quả của một sự trực nghiệm về tâm lý của chúng sanh và nhận hiểu tâm lý ấy, Đức Phật chủ trương hạnh từ bi đối với toàn thể chúng sanh. Cử chỉ ấy không có gì yếu đuối, không dễ gì người thường làm nổi, trái lại thật là một cử chỉ cao thượng đẹp đẽ, và điều đáng chú ý, chỉ cử chỉ ấy mới cứu vớt cái thảm họa chiến tranh hiện đang đè nặng trên toàn thể nhân loại.
Với những ví dụ cắt nghĩa trên, cô Q.H. cũng thấy không thể vin vào đâu để buộc tội đạo Phật làm suy yếu con người. Nhưng càng xa thời Đức Phật, thái độ thuần trí tuệ thuần triết lý ấy của Đức Phật bị bỏ quên dần, và giá trị luân lý được chú trọng đặc biệt. Do đó mới có những thái độ vì trốn khổ nên đi tu hành, vì muốn sống một đời nhàn hạ nên mới xuất gia, vì muốn được phước nên phải làm các hạnh từ thiện, vì sợ tội nên giữ giới, v.v... từ một cử chỉ hùng lực dựa trên nền tảng lý trí tuyệt luân rơi xuống một cử chỉ nhút nhát sợ hãi, thật khác xa bằng trời bằng

* Trang 295 *
device

 vực, và phần lớn chính vì đó nên mới có những chỉ trích nói trên. Ở đây tôi cũng nhấn mạnh không phải tôi công kích luận lý đạo Phật, năm giới Đức Phật dạy vẫn có giá trị tuyệt đối và bất hủ, nhưng tôi muốn nhấn mạnh sự sai khác của một ngừơi giữ giới sát sanh vì lòng từ bi thương xót chúng sanh, vì muốn cứu khổ chúng sanh, và một người cũng giữ giới sát sanh vì sợ tội, vì sợ khổ, cũng một cử chỉ nhưng hai tâm niệm hoàn toàn sai khác, và do đó giá trị sự giữ giới cũng hoàn toàn không giống nhau.
Nay qua phần thứ hai, cô Q.H. nói : Vị giáo sư ấy lấy ví dụ những vị sư Cao Miên không làm việc chỉ đi khất thực, thì làm sao nước mạnh được. Ở đây cần phải hiểu lại nghĩa của chữ xuất gia và nghĩa xuất thế gian trong đạo Phật. Đạo Phật có chú trọng về nghĩa xuất thế gian, nghĩa là về phương pháp giải thoát sự đau khổ sanh tử. Đứng về phương diện  xuất thế gian này, những người xuất gia là những người thoát ly phạm vi gia đình, quốc gia và chủng tộc; thì dĩ nhiên không thể cuộc hạn phạm vi của những người này với sự hưng vong lợi hại cho một nước được. Hạnh xuất gia là một hạnh hoàn toàn xuất thế gian, người xuất gia thoát ngoài nhiệm vụ của một người trong gia đình, của một công dân trong nước, thì làm sao lại bắt buộc những người xuất gia phải làm những phần việc của người công dân, và do đó chỉ trích rằng hạnh xuất

* Trang 296 *
device

gia có hại đến thịnh vượng chung một quốc gia, của một xứ sở. Hạnh khất thực chỉ là một cách sinh sống để người xuất gia giữ gìn mạch sống tu hành, vì nếu người xuất gia còn phải theo đuổi các nghề sinh sống thì còn thì giờ đâu để tu hành, và nhiều khi chính vì mải lo sinh sống mà người xuất gia không thể tu hành được. Còn bắt buộc các người xuất gia cũng phải có những bổn phận như người công dân khác thì tự nhiên người xuất gia ấy không thể thi hành đầy đủ sứ mệnh xuất gia của mình được.
Ở đây là một vấn đề thỏa thuận giữa người đời và người xuất gia, người xuất gia có sứ mệnh học đạo, truyền đạo, người đời có bổn phận cúng dường người xuất gia vừa đủ sống để học đạo tu hành. Ngày mà người đời không công nhận mình có bổn phận phải cúng dường người xuất gia, thì tự nhiên thiếu người xuất gia chân chánh học đạo, kết quả dĩ nhiên là vậy. Ở đây tôi muốn nói đến những hạng xuất gia hiểu được bổn phận xuất thế của mình, hiểu được thái độ thuần triết lý hùng lực của Đức Phật đối với mọi vấn đề ở đời. Nhưng việc gì vào trong tay con người cũng xa dần ý nghĩa thuần túy cao đẹp của Đức Phật thời xưa. Ngày nay có nhiều nước, dân chúng nô nức xuất gia, xuất gia vì mong được an nhàn, xuất gia vì mong được sống đỡ khổ, được người ta cúng dường khỏi làm việc, xuất gia để người ta cung kính, xuất

* Trang 297 *
device

 gia để người ta gả con gái cho, vì nếu không xuất gia trong một hạn kỳ, cha mẹ sẽ không gả con cho, như một vài nước có tục lệ như vậy. Lẽ dĩ nhiên dần dần chơn nghĩa xuất gia đi mất và chỉ có sự tướng xuất gia tồn tại. Và cũng vì vậy mới xảy ra những sự công kích đạo Phật làm suy yếu con người. So sánh với cử chỉ đại hùng đại lực của Đức Phật với những cử chỉ trốn thoát nợ đời của những Phật tử, chúng ta có thể nhận chân được sự sai khác quá rõ rệt. Và cũng hiểu vì sao những lời công kích chỉ đúng một phần nào khi ứng dụng với những sự hiểu lầm đạo Phật, hơn là đúng với chân tinh thần của đạo Phật.
Loài người hiện tại, văn minh lên đến trình độ gần cực điểm, nhưng nỗi thống khổ của nhơn loại chưa giải quyết, chiến tranh vẫn thường tiếp diễn và với những vũ khí mới được phát minh, loài người gần nắm trong tay những phương tiện để tiêu diệt nhơn loại. Một vị tu sĩ người Pháp đã khéo lấy ví dụ tả thực trạng hiện tại của khoa học là đã tạo cho loài người “Một ghế bành tô (fauteuil) rất êm đẹp để loài người dùng, cũng như đặt luôn một quả mìn ở dưới ghế ấy”. Loài người có sáng suốt để dừng trên vực thẳm hiện tại không, điều đó do con người tự giải quyết trả lời thôi. Nhưng nguyên nhân chính cũng không ra ngoài ba yếu tố tham – sân – si mà Đức Phật đã chỉ dạy từ trước đến nay. Hiện nay một số đông thức giả, học

* Trang 298 *
device

 giả và nhiều chính trị gia cũng nhận thấy rằng chỉ có đạo Phật mới có hy vọng dắt dẫn loài người ra khỏi sự tự diệt vong, do loài người gây nên.
Nhơn loại có sáng suốt quay về với đạo Phật hay không ? Các hàng Phật tử có hiểu lại chơn giá trị của đạo Phật hay không ? Đó là vấn đề nhơn loại và Phật tử tự trả lời cho mình hơn ai hết. Nhưng một điều rất rõ ràng là những ai chơn thành theo đúng giáo lý và chân tinh thần của đạo Phật, thì tự thấy ngay ảnh hưởng giải thoát của đạo Phật, đem đến cho mình, và điều quý hơn nữa, đạo Phật với ánh sáng nhiệm mầu của Chánh pháp, thay đổi dần vũ trụ quan và nhân sinh quan của mình, và đem về cho Phật tử một niềm vui tươi sáng suốt mới lạ.
Chúng ta cũng thường nhận thấy đạo Phật hay bị công kích nhiều, không vì những khuyết điểm mà chính vì sự sáng suốt của đạo Phật. Một khi có những tôn giáo hay chủ nghĩa chú trọng về cuồng tín hoặc bạo động để lôi cuốn tín đồ và thực hiện mục đích của mình, lẽ dĩ nhiên phải công kích đạo Phật. Và trong sự công kích phải mang những gì xuyên tạc, những ứng dụng sai lầm của Phật tử, của tín đồ mà công kích đạo Phật thôi, chứ giáo lý căn bản và vũ trụ quan cùng nhân sinh quan của đạo Phật, họ không đả động đến.

* Trang 299 *
device

Hiện tại điều cần nhất là các Phật tử phải tự tìm lại ý nghĩa cùng chơn tinh thần đạo Phật, và thiết thực ứng dụng chơn tinh thần ấy trong mọi ngành hoạt động của mình. Một khi người Phật tử đã sống hoạt động hùng mạnh, làm tất cả việc đáng làm, tự tỏ thâm hiểu chân tinh thần hùng lực của đạo Phật, ứng dụng chơn tinh thần ấy trong mọi hoạt động của mình, thì người đời không thể lấy gì mà công kích đạo Phật được. Đó là một nhiệm vụ chung, toàn thể Phật tử có bổn phận phục vụ.

 
*
 

* Trang 300 *
device

 
Đức Phật nhà đại giáo dục