LOGO VNBET
 CHƯƠNG BA
CHÚNG ĐỆ TỬ1

 
1. Lúc bấy giờ, Duy-ma-cật trong lòng suy nghĩ, “Nay ta nằm bệnh; há đức Thế Tôn đại từ không rủ lòng thương tưởng?”
Phật biết ý tưởng đó, nói với Xá-lợi-phất:2
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
Xá-lợi-phất đáp:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng để đi thăm bệnh ông ấy. Vì sao vậy? Con nhớ lại, có lần, con đang ngồi tĩnh niệm 3 dưới tàn cây trong rừng, 4 Duy-ma-cật đến đó, và bảo con rằng,5 ‘Kính thưa6
________________________
1 Ckh. = Lth. Htr.: Thanh văn phẩm 聲 聞 品. VKN: Śrāvakabodhisattvavisarjanapraśno nāma tṛtīyaḥ parivartaḥ, phẩm III, Thanh văn và Bồ-tát thăm bệnh, gồm 2 phẩm III và IV của các bản Hán.
2 Śāriputra
3 Yến tọa 宴坐, Skt. pratisaṃlīna (Pali: paṭisallāna). độc cư tĩnh tọa, ẩn dật tư duy, thiền tứ. VCS nói “yến tọa” ở đây chỉ “diệt tận định.”
4 Htr., “trong Đại lâm大林.” Khu rừng Mahāvana ở gần Tì-da-ly (Vaiśalya /Vesāli), chạy dài đến Himālaya.
5 Htr.: “Sau khi cúi đầu lễ dưới chân con, rồi nói rằng…” Chỗ này, Khuy Cơ (T38n1782, tr. 1041b9) chỉ trích La-thập vì nể nang Dao chúa, nên tránh chi tiết Duy-ma-cật cúi lạy

* Trang 97 *
device

ngài Xá-lợi-phất, bất tất7 ngồi như vậy mới là ngồi tĩnh niệm. Không hiện thân và ý8 ở trong ba cõi, ấy mới là tĩnh tọa.9 Hiện các oai nghi10 mà vẫn không xuất khỏi diệt tận định, ấy mới là tĩnh tọa. Hiện thân làm các việc phàm phu11 mà không xả Đạo pháp, 12 ấy mới là tĩnh tọa. Tâm không trụ trong, không trụ ngoài, ấy mới là tĩnh tọa. Không bị dao động trong các kiến chấp mà tu hành ba mươi bảy phẩm, ấy mới là tĩnh tọa. Không đoạn trừ phiền
____________________
sát chân ngài Xá-lợi-phất, lược bỏ chi tiết này trong nguyên bản tiếng Phạn. Nhưng VKN không có chi tiết này như Htr.
6 Hán: duy , kính thưa; VCS: (T38n1782, tr. 1041b14) nhấn mạnh đặc biệt từ này để nói đến thái độ tôn kính của Duy-ma-cật đối với ngài Xá-lợi-phất. VKN: bhadanta śāriputra, thưa Đại đức Xá-lợi-phất.
7VCS: bất tất, chỉ ý vừa tán thành, vừa bác bỏ.
8 Lth.: thân và ý. Htr.: thân và tâm.
9 CDM, La-thập nói, “Thân Tử bấy giờ tuy nhập Diệt tận định khiến cho tâm ẩn, nhưng thân vẫn còn hiện, nên bị chỉ trích.”
10 Oai nghi, chỉ bốn cử chỉ đi, đứng, nằm, ngồi (Skt. īryā-patha). CDM và VCS đều giải là “phương tiện diệu dụng.”
11 Lth.: phàm phu sự 凡夫事. Htr.: dị sinh chư pháp 異生諸(Skt. pṛthagjanadharmā)
12 Htr.: “Hiện hành các pháp của hết thảy dị sinh (phàm phu) mà không xả tướng của những gì đã chứng.” VKN: prāptilakṣaṇañca na vijahāsi pṛthagjanalakṣaṇeṣu ca saṃdṛśyase, không xả tướng sở đắc mà hiện thân trong các tướng phàm phu.

* Trang 98 *
device

não mà nhập Niết-bàn,13 ấy mới là tĩnh tọa. Ngồi được như vậy, thì mới được Phật ấn khả.’
“Bấy giờ, bạch Thế tôn, khi nghe ông nói những lời này, con ngồi im lặng, không trả lời được. Cho nên con không đủ khả năng để đi thăm bệnh”.
2. Phật nói với Đại Mục-kiền-liên: 14
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật”.
Mục-kiền-liên bạch Phật:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng để đi thăm bệnh ông15 ấy. Vì sao vậy? Con nhớ lại, có lần, khi con đang giảng pháp cho hàng tục gia đệ tử trên đường phố thành Tỳ-da-ly, Duy-ma-cật đến bảo con rằng, ‘Kính thưa ngài Đại Mục-liên, giảng pháp cho cư sỹ bạch y không phải như Nhân giả đang thuyết. Thưa ngài, khi thuyết pháp, hãy như pháp mà thuyết. Pháp không chúng sinh, vì xa lìa cáu bẩn của chúng sinh.16 Pháp không thọ mạng, 17
_________________________
13 Htr.: “Không xả sinh tử mà không còn phiền não. Tuy chứng Niết-bàn mà vô sở trụ.” VKN: saṃsārīvacarāṃśca kleśān na prajahāsi nirvāṇasamavaśaraṇaśca bhavasi, đi trong sinh tử, không đoạn phiền não, mà y chỉ trong Niết-bàn.
14 Mahāmaudgalyāna.
15 Các bản Hán giống nhau. VKN: tasya satpuruṣasya, “con người siêu việt ấy.” Trừ Xá-lợi-phất, tất cả Thanh văn và Bồ-tát đều gọi ông như vậy.
16 Lth.: chúng sinh cấu 眾生垢, Thập nói: “Tức là hai mươi

* Trang 99 *
device

vì xa lìa sinh tử. Pháp không có con người, 18 tiền tế và hậu tế đều cắt đứt. Pháp thường tịch nhiên, vì diệt các tướng. Pháp lìa ngoài tướng, vì không sở duyên. 19 Pháp không ngôn thuyết, vì lìa giác quán. 20 Pháp không hình tướng, vì như hư
_________________________
thân kiến (Skt. satkāyadṛṣṭi: tát-ca-da tà kiến = hữu thân kiến). Htr.: ngã cấu 我垢. VCS: cáu bẩn do ngã chấp hay của ngã chấp. VKN: sattvarajas.
17 Lth.: thọ mạng 壽命; Htr.: mạng giả 命者; Skt. jīva, một khái niệm khác về ātman (ngã chấp, tự ngã hay linh hồn) trong một số học thuyết; tự ngã như là chủ thể của thọ mạng hay sinh tồn.
18 Lth.: nhân . Htr.: bổ-đặc-già-la 補特伽羅; Skt. pudgala (nhân cách, nhân vị, cá thể ngã), một khái niệm về ātman của một số học thuyết; Hán dịch là số thủ thú 數取趣, chỉ chủ thể của luân hồi, tự ngã như là chủ thể trong luân chuyển tái sinh. Từ trên, bản của Huyền Trang đề cập bốn hình thái của ngã chấp (ātmagraha) hay khái niệm về tự ngã (ātmadṛṣṭi): ngã (ātman), hữu tình (= chúng sinh, Skt. sattva), sinh mạng (jīva) và nhân vị hay nhân cách (pudgala). Bản La-thập chỉ kể có ba: chúng sinh, thọ mạng
và con người. VKN, như Lth.
19 Htr.: “Pháp lìa tham trước (chấp), vì không sở duyên. Sở duyên 所緣, Skt. ālambana, cái mà chủ thể (thức) bám vào để sinh khởi và hoạt động. VKN: vigataḥ, (pháp vốn) ly tham.
20 Giác quán 覺觀, Triệu nói: “Nhị Thiền trở lên không còn giác và quán, nên nói là sự im lặng của Hiền Thánh.” Theo đó, giác quán là hai thiền chi đầu của sơ thiền; cũng là hai trong bốn tâm sở bất định của Duy thức. Htr.: “Pháp không

* Trang 100 *
device

n><không. 21 Pháp không hý luận vì rốt ráo không. 22 Pháp không ngã sở, vì lìa ngã sở. Pháp không phân biệt, vì lìa các thức. 23 Pháp không so sánh, 24 không tương đãi. 25 Pháp không thuộc nhân vì không ở trong duyên. Pháp đồng pháp tính, vì nhập vào các pháp. Pháp đi theo Như26 vì không có gì để đi theo. Pháp trụ thực tế, vì không động các biên. 27 Pháp không động dao, vì không y sáu trần. Pháp không đến đi vì thường không trụ. Pháp thuận với Không, tùy theo vô tướng và ứng với vô
__________________
văn tự, vì ngôn ngữ bị cắt đứt; pháp không thí thuyết (diễn thuyết) vì viễn ly hết thảy tư duy sóng cuộn (ba lãng tư).” VKN: anakṣaraḥ sarvavākyacchedaḥ anudāhāraḥ sarvormivigataḥ, (pháp) không văn tự, đoạn tuyệt ngôn ngữ, không biện thuyết, vì đã vượt qua mọi sóng biển.
21 Hình, đây chỉ hình sắc (saṃsthāna). Tướng (liṅga), đây chỉ hình dạng hay dấu hiệu. Htr.: “Pháp không hiển sắc, không tướng dạng, không hình sắc, vì xa lìa hết thảy hành động sự.” VKN: avarṇaliṅgasaṃsthānaḥ.
22 Htr.: “Pháp phổ biến khắp cả vì như hư không.” VKN: sarvatrānugataḥ ākāśasamadṛśaḥ.
23 Htr.: “Pháp không liễu biệt vì lìa tâm, ý, thức.” VKN: avijñaptiś cittamanovijñānavigataḥ.
24 Vô hữu tỷ 無有比. VKN: asadṛśaḥ, không loại tợ.
25 Tương đãi 相待 : đối đãi hay đối nghịch nhau. VKN: niṣpratipakṣatvāt, vì không đối nghịch (đối trị phần).
26 VKN: tathānugata, đi theo Như, tùy thuận theo Như.
27 Htr.: tất cánh bất động 畢 竟 不 動 .VKN.: atyantācaliyatvāt. vì tuyệt đối không dao động.

* Trang 101 *
device

tác. 28 Pháp lìa đẹp xấu. Pháp không tăng giảm. Pháp không sinh diệt. 29 Pháp không chỗ về. Pháp vượt qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm. 30 Pháp không cao thấp; thường trụ, bất động. Pháp lìa hết thảy quán hạnh.31
“Kính thưa ngài Mục-liên, tướng của pháp như vậy, làm sao diễn giảng? Thưa ngài, người thuyết pháp thì không diễn thuyết, không khai thị. Người nghe thì không nghe, không sở đắc. 32 Như con
_____________________
28 Ba giải thoát môn: Không, vô tướng, vô tác (=vô nguyện). Htr.: “Pháp thuận Không, tùy Vô tướng, ứng Vô nguyện, vì xa lìa hết thảy tư duy tăng giảm.” VKN: śūnyatāsamāhitaḥ, ānimitta-prabhāvitaḥ apraṇihitalakṣanaḥ ūhāpohavigataḥ, “(pháp) tương hệ bởi tính Không, hiển thị bởi Vô tướng, có tướng là Vô nguyện, vì lìa tăng giảm.”
29 Htr.: “Pháp không thủ xả, vì lìa sinh diệt.” VKN: anutkṣepo prakṣepaḥ utpādabhaṃgavigataḥ.
30 Htr.: “Pháp không chấp tàng, vì lìa hết thảy con đường của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.” VKN: anālayaś cakṣuḥśrotraghāṇajihvā-kāyamanaḥpathasamatikrāntaḥ.
31 Htr.: “Pháp lìa hết thảy sở hành của phân biệt, vì hết thảy hý luận đều bị rốt ráo đoạn trừ.” VKN: prāptaḥ sarvapracāravigataḥ, (pháp) sở đắc, lìa tất cả sở hành.
32 Htr.: “Sự thuyết pháp là, tất cả đều là sự thêm bớt. Người nghe pháp tất cả cũng đều là sự thêm bớt. Nơi nào không có sự thêm bớt, nơi đó không có gì được thuyết, không có gì được nghe, không có gì được nhận thức.” VKN: dharmadeśaneti bhadanta mahā-maudgalyāyana samā-ropapadam etat. ye’pi sṛṇvanti te’pi samāro-peṇaiva, śṛṇvanti yatra bhadanta maudgalyāyana asamāropapadam

* Trang 102 *
device

 người huyễn33 giảng pháp cho người huyễn nghe. Ngài nên xác lập tâm ý này mà giảng Pháp; cần phải hiểu rõ căn tính nhạy bén hay chậm lụt của chúng sinh; tri kiến thiện xảo không có gì ngăn ngại; bằng tâm đại bi mà tán dương Đại thừa; vì nhớ nghĩ báo đáp ân đức của Phật, không để Tam bảo đoạn tuyệt; vì như vậy mà thuyết pháp.’ “Nghe Duy-ma-cật nói pháp này xong, tám trăm cư sỹ đã phát tâm cầu giác ngộ tối thượng. Bạch Thế Tôn, con không có biện tài như vậy, nên không đủ khả năng đi thăm bệnh”.
3. Phật nói với Ma-ha Ca-diếp: 34 “Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật”. Ma-ha Ca-diếp bạch Phật: “Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng để đi thăm bệnh ông ấy. Vì sao vậy? Nhớ lại, có lần con đang khất thực nơi xóm nghèo, Duy-ma-cật đến nói: ‘Kính thưa ngài Ma-ha Ca-diếp, có tâm từ bi mà không rộng khắp, nên ngài bỏ nhà hào phú mà xin nhà bần hàn. “Thưa ngài Ca-diếp, an trụ nơi pháp bình đẳng thì nên hành khất thực theo thứ lớp. 35 Vì sự không
______________________
na tatra deśyate na śrūyate na vijñāyate.
33 Huyễn sĩ 幻士; Skt. māyapuruṣa.
34 Mahākāśyapa.
35 VKN: dharmasamatāpratiṣṭhitena te bhavitavyaṃ;

* Trang 103 *
device

ăn,36 cho nên cần phải hành khất thực. Vì để làm rã sự kết hợp37 mà cầm lấy nắm thức ăn. 38 Vì không thọ nhận39 mà nhận lấy thực phẩm của người kia. 40 Bằng ấn tượng về xóm hoang41 mà đi vào xóm. 42 Nhìn sắc mà cũng đồng như mù. Nghe âm thanh cũng đồng như tiếng vọng. Ngữi mùi thơm cũng đồng như gió thoảng. Nếm vị thức ăn, mà không
______________________
sarvadā sarva-sattvasamanvāhāreṇa piṇḍapātaḥ paryeṣṭavyaḥ, “Ngài nên an trụ trong tính bình đẳng của pháp, hằng vì thương tưởng tất cả chúng sinh mà hành khất thực.”
36 Bất thực 不 食 ; Triệu nói: đây chỉ Niết-bàn. VKN: anāhāreṇa cāhāraḥ paryeṣṭavyaḥ, vì cái không phải thức ăn mà cầu xin thức ăn.
37 Lth.: hoại hòa hiệp tướng 壞和合相.
38 Xem cht. 40.
39 Bất thọ 不受;Triệu nói: “Bất thọ, tức là pháp Niết-bàn.”
40 Htr.: “Vì để phá bỏ sự chấp trước thức ăn của kẻ kia mà hành khất thực.” VKN: parapiṇḍagrāhāpanayāya ca te piṇḍāya carita-vyaṃ. Xem thêm cht. 42 dưới.
41 Lth.: không tụ tưởng 空聚想. Htr.: không tụ tướng 空聚 相。
42 VKN, thêm: naranarīparipākāya ca te nagaraṃ praveṣṭavyaṃ buddhakulakulīnena ca te kulāny upa samkramitavayāni; aprati-grahaṇatayā ca piṇḍapātaḥ pratigrāhyaḥ, “Vì để thành thục kẻ nam người nữ mà ngài đi vào thị trấn, ngài hãy đi đến các gia đình với ý tưởng đến gia tộc cao quý của Phật. Vì sự không thọ nhận mà thọ nhận của bố thí. ” Htr. & Ckh. đồng; Lth. khuyết. Xem cht. 40 trên.

* Trang 104 *
device

phân biệt. Tiếp thọ các xúc như trí chứng. 43 Biết các pháp đều là tướng như huyễn; không có tự tính, chẳng có tha tính; từ xưa tự nó vốn không bốc cháy thì nay không lặng tắt. 44
“Ca-diếp nếu có thể không bỏ tám tà mà nhập tám pháp giải thoát; 45 bằng tà tướng mà nhập Chính pháp;46 bằng một miếng ăn47 mà bố thí tất cả; cúng dường chư Phật và Hiền Thánh Tăng. Được vậy mới nên ăn. Ăn như vậy không phải có phiền não48
___________________________
43 Trí chứng 智證, La-thập: “Bằng trí mà xúc thật tướng.” Đạo Sinh nói: “Trong tiếng Phạn, xúc và trí chứng đối nghĩa nhau.” VKN: jñānāsparśanatayā ca sparśāḥ spraṣṭavyā, vì tính vô xúc của trí mà tiếp thọ xúc chạm.
44 Lth.: bản bất nhiên 本不然. CDM, Triệu nói: “Như lửa, không cháy thì không tắt.” Htr.: vô xí nhiên, vô tịch diệt 熾 燃 無 寂 滅 . VKN: yo(‘)svabhāvo(’)parabhāva śuddh(ā)nujjvalitaṃ yad anujjva-litaṃ tan na śāmyati; “cái gì (không) tự tính, (không) tha tính, (cái ấy) thanh tịnh không bốc cháy. Cái gì không bốc cháy, cái ấy không bị dập tắt. Xem cht. 89 dưới.
45 Tám tà, tức tám tà đạo, đối nghịch với tám chính đạo. VKN: (a)ṣṭau ca mithyātvāni samakrāmed aṣṭau ca vimokṣān samāpa-dyeta, “Nếu có thể siêu việt tám tà mà thành tựu tám giải thoát.”
46 Htr.: “Bằng bình đẳng của tà mà nhập bình đẳng của chính.” VKN: mithyāsamatayā ca samyaktvasamatām avatared.
47 Lth.: nhất thực 一食. Htr.: nhất sủy thực 一揣食 (một nắm thức ăn).
48 Htr.: tạp nhiễm 雜染; Skt. saṃkleśa. Khuy Cơ nói, cựu

* Trang 105 *
device

cũng không lìa phiền não, không nhập định ý 49 cũng không xuất khỏi định ý; không phải trụ thế gian50 cũng không phải trụ Niết-bàn; ai thí cho,51 công đức không nhiều cũng không ít, không vì thế mà thêm, không vì thế mà bớt. Đó là cách chân chính đi vào Phật đạo, không nương Thanh-văn. Thưa Ca-diếp, ăn như vậy mới là không ăn suông của người bố thí.’
“Bạch Thế tôn, khi nghe những lời này, được điều chưa từng có này, trong con khởi niềm tôn kính sâu sắc hết thảy chư Bồ-tát, và con nghĩ: ‘Con người có gia đình mà có thể có trí tuệ biện tài như vậy, ai nghe mà không khởi tâm cầu giác ngộ?’ Từ đó con thôi không khuyên người bằng Thanh-văn hay Bích-chi-phật. Vì vậy cho nên con biết mình không đủ khả năng đi thăm bệnh”.
4. Phật lại bảo Tu-bồ-đề: 52
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật”.
Tu-bồ-đề bạch Phật:
__________________
dịch “phiền não” không chính xác.
49 Lth.: định ý 定意; Htr.: tĩnh định 靜定. VKN: samāhita
50 Htr.: không phải trụ sinh tử. VKN: na saṃsārasthito.
51 Htr.: “Ai bố thí cho Tôn giả.”
52 Lth.: Tu-bồ-đề 須菩提. Htr.: Đại Thiện Hiện 大善現. VCS: Ma-ha Tô-bổ-để 摩訶蘇補底, đây nói là Đại Thiện Hiện. Skt. (Mahā)Subhūti.

* Trang 106 *
device

“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng để đi thăm bệnh ông ấy. Vì sao vậy? Nhớ lại, có lần con đến nhà ông khất thực. Duy-ma-cật lấy bát53 của con cho đầy cơm rồi bảo: ‘Thưa ngài Tu-bồ-đề, nếu đối với sự ăn mà bình đẳng, thì đối với các pháp cũng bình đẳng. Các pháp bình đẳng thì đối với sự ăn cũng bình đẳng. Hành khất thực như vậy mới đáng nhận thức ăn. 54
“Thưa ngài Tu-bồ-đề, nếu có thể không dứt trừ dâm dục, sân nộ, ngu si, mà cũng không cộng tồn với chúng; không hoại nơi thân mà tùy nhất tướng; 55 không diệt si và ái56 mà đạt được minh và giải thoát; 57 bằng tướng của năm tội đại nghịch mà
_______________________
53 Htr.: “Sau khi lễ, rồi đón lấy bình bát.”
54 Htr.: “Nếu có thể bằng tính bình đẳng từ nơi sự ăn mà thể nhập tính bình đẳng của hết thảy pháp; bằng tính bình đẳng của hết thảy pháp mà thể nhập tính bình đẳng của hết thảy chư Phật. Được như vậy mới đáng nhận thức ăn.”
55 Htr.: “Không hoại tát-ca-da kiến mà nhập nhất thú đạo.” Khuy Cơ giải: Tát-ca-da kiến 薩迦耶見 (Skt. satkāyadṛṣṭi) là ngụy thân kiến (chấp thân hư ngụy này là thực hữu). Lý vô ngã được nói là nhất thú 一趣 (VKN: ekayāna, lối đi độc nhất). Vì đó là đích quay về của hành giả trong cả ba thừa. VKN: avikopya satkāyam ekāyaṃ mārgam anugato, không hoại hữu thân mà đi theo con đường nhất đạo.
56 Lth.: si và ái 癡愛. Htr.: vô minh và hữu ái 無明有愛; Skt.: avidyā bhavatṛṣṇā ca.
57 Lth.: minh thoát 明脫. Htr.: tuệ minh và giải thoát. Minh, chỉ ba minh (tisro vidyāḥ). Giải thoát, chỉ tám giải thoát

* Trang 107 *
device

được giải thoát, không được cởi, không bị trói; 58 không thấy bốn Thánh đế, cũng không phải không thấy Thánh đế;59 không phải đắc quả, không phải phàm phu, không phải lìa pháp phàm phu; không phải Thánh nhân, không phải phi Thánh nhân; tuy thành tựu hết thảy pháp mà vẫn xa lìa pháp tướng. 60 Có như thế mới đáng nhận thức ăn.
“Nếu Tu-bồ-đề không thấy Phật cũng không nghe Pháp;61 sáu đại sư ngoại đạo kia, là Phú-lan-na Ca diệp, Mạt-già-lê Câu-xa-lê Tử, San-xà-dạ Tỳ-la chi Tử, A-kỳ-đa Sí-xá-khâm-bà-la, và Ni-kiền-đà
_________________
(aṣṭau vimokṣāḥ). VKN: na ca te avidyā bhavatṛṣṇā ca samudghātitā na ca vidyā vimuktī utpādite, vô minh và hữu ái không diệt trừ, minh và giải thoát cũng không phát sinh.
58 Lth.: ngũ nghịch 五逆, năm tội đại nghịch; Skt. pañca ānantaryakarmāṇi. Htr.: “bằng pháp tính bình đẳng vô gián mà nhập pháp tính bình đẳng giải thoát, không được cởi, không bị trói.” Khuy Cơ giải: vô gián ở đây chỉ địa ngục vô gián, nêu chỗ cực khổ để đối nghịch đại lạc là Niết-bàn. VKN: ānantarya-samatayā ca te samādhivimkuktir na cāsi mukto na baddhaḥ, bằng tính bình đẳng vô gián mà ngài có chính định và giải thoát; ngài được cởi, không bị trói.
59 Kiến đế 見諦 (Skt. satyadarśana), đây chỉ sự chứng đắc Thánh quả, đặc biệt Sơ quả.
60 Htr.: “thành tựu tất cả pháp mà lìa tưởng các pháp 離諸法.” VKN: na sarvadharmasamanvāgataśca sarva dharmasama-dhigataś-ca.
61 Htr. như VKN, thêm: “không phụng sự Tăng.”

* Trang 108 *
device

Nhã-đề Tử,62 là Thầy của ngài; nhân họ mà ngài xuất gia. Nếu các vị Thầy ấy đọa lạc thì ngài cũng đọa lạc theo. Như vậy ngài mới nên nhận thức ăn. “Nếu Tu-bồ-đề đi vào các tà kiến, không sang bờ bên kia; 63 trụ trong tám nạn chứ không thoát khỏi tám nạn; 64 đồng với phiền não,65 xa rời pháp thanh
____________________
62 Lth.: lục sư ngoại đạo 外道六師: Phú-lan-na Ca-diệp 蘭那迦葉, Mạt-già-lê Câu-xa-lê Tử 末伽梨拘賒梨子 , San xà-dạ Tỳ-la-chi Tử 刪闍夜毘羅胝子, A-kỳ-đa Sí-xá-khâm bà-la 阿耆多翅舍欽婆羅, Ca-la-cu-đà Ca-chiên-diên 迦羅 鳩馱迦旃延 Ni-kiền-đà Nhã-đề Tử 尼犍陀若提子. Htr., Ngoại đạo lục sư 外道六師: Mãn Ca-diếp-ba 滿迦葉波, Mạt-tát-yết-li Cù-xá-li Tử 末薩羯離瞿舍離子, Tưởng Phể đa Tử 想吠多子, Vô Thắng Phát Hạt 無勝髮[*], Phong Ca-diễn-na 犎 迦衍那, Ly hệ Tử 離繫親子. Skt.: Pūraṇa-Kāśyapa, Maskarī-Gosālīputra, Sañjaya Vairaṣṭrikaputra, Ajita-Keśakambala, Kakuda-Kātyāyana, Nirgrantha-Jñātiputra. Pali, Cf. Sāmañña-phala-sutta, D.i. 47tt.
63 Ckh.: “Hoặc trụ trong các kiến chấp, hoặc rơi vào biên chấp mà không đến chỗ Phật…” Htr.: “Rơi vào các kiến thú (Skt. dṛṣṭigati: xu hướng kiến chấp tà vạy) mà không đi đến trung biên (Skt. madhyānta: trung đạo và hai biên chấp hay cực đoan).” VKN: sarvadṛṣṭigateṣu cāryaman antargato na cāntamadhyaprāptā., đi giữa các xu hướng tà kiến mà không rơi vào biên chấp hay trung đạo.
64 Htr.: bát vô hạ 無暇, tám hoàn cảnh không thuận lợi cho sự tu tập chính pháp. Skt. aṣṭāv akṣaṇāḥ; Cf. Pali, Saṅgīti, D.iii. 287, aṭṭh’ akkhaṇā asamayā brahmacariya

* Trang 109 *
device

tịnh; nếu ngài chứng đắc Vô tránh tam-muội66 thì hết thảy chúng sinh cũng chứng đắc định ấy; những ai bố thí ngài, không nói là gieo vào ruộng phước; những ai cúng dường ngài sẽ rơi vào cõi dữ; ngài cùng bọn Ma nắm tay nhau làm bạn lữ trong trần lao; 67 ngài cùng với bọn Ma và các trần
______________________
vāsāya.
65 Lth.: phiền não 煩 惱 ; Htr.: tạp nhiễm 雜 染 ; Skt. saṃkleśa.
66 Vô tránh tam-muội/định, Skt. araṇā-samādhi; cf. Câu-xá 27 (Đại 29, tr. 141c24): “Nói vô tránh tam muội, nghĩa là, A-la-hán quán sát sự khổ của chúng sinh do bởi phiền não. Tự biết thân của mình là ruộng phước bậc nhất, nhưng ngại rằng phiền não của người khác lấy thân của A-la-hán làm đối tượng để sinh khởi, cho nên ngài dẫn phát tướng trí như vậy. Do phương tiện này khiến cho các chúng sinh khác không lấy thân của A-la-hán làm đối tượng để sinh khởi tham, sân, các thứ….” Cf. Vajracchedikā §9: aham asmi bhagavaṃs tathāgatenārhatā samyaksaṃbuddhena araṇāvihāriṇām agrayo nirdiṣṭaḥ, Thế Tôn, con được Như
Lai xác nhận là đệ nhất trong các vị sống với hạnh vô tránh. Cf. Pali, A.i. 24: etad aggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ araṇavihārīnaṃ yadidaṃ subhūti…dakkhineyyānaṃ yadidaṃ subhūti, “Trong các Tỳ kheo đệ tử của ta, đệ nhất trong những vị sống vô tránh là Subhūti; đệ nhất trong những vị đáng cúng dường là Subhūti.”
67 Lth.: lao lữ 勞侶. Htr.: bạn lữ 伴侶. VCS: “Cựu dịch là lao lữ; ý nói, làm bầu bạn để đưa nhau vào chốn khổ nhọc của sinh tử.” VKN: sarvamāraiśca te ekahastaḥ kṛtaḥ, sarvakleśāś ca te sahāyāḥ, cùng với hết thảy Ma kết thành

* Trang 110 *
device

lao giống nhau không khác; 68 đối với hết thảy chúng sinh mà có tâm oán hận; báng bổ chư Phật, hủy hoại chánh pháp, không nhập tăng số,69 không được diệt độ. 70 Nếu được như vậy, ngài mới đáng nhận thức ăn.’
“Bạch Thế Tôn, nghe những lời này mà con hoang mang; không biết đó là ngôn ngữ gì; không biết phải trả lời thế nào. Con bèn bỏ lại bình bát, định ra khỏi nhà. Duy-ma-cật kêu lại: ‘Thưa ngài Tu bồ-đề, hãy nhận lấy bình bát, chớ có sợ hãi. 71 Ngài nghĩ sao, nếu Như Lai khiến một hóa nhân72 đến nạn vấn, khi ấy ngài có sợ chăng?’ Con đáp, ‘Không sợ.’ Duy-ma-cật tiếp, ‘Hết thảy pháp đều là tướng như huyễn hóa. 73 Cho nên ở đây ngài không nên sợ hãi. Vì sao? Vì hết thảy ngôn thuyết
_______________________
một cánh tay; hết thảy phiền não là đồng bạn.
68 Htr. thêm: “Tự tính của hết thảy phiền não cũng chính là tự tính của Tôn giả.”
69 VKN: na cāsi saṃghapratisaraṇo, không tùy thuận y chỉ Tăng.
70 Htr.; “Rốt ráo không có Bát-niết-bàn.” VKN: na ca jāto na parinirvāsyasi, không tái sinh mà cũng không nhập Niết-bàn.
71 Các bản Hán giống nhau. VKN: akṣarebhyaḥ utrasīḥ pratigṛhāṇedaṃ pātram; đừng sợ văn tự; hãy cầm lấy bình bát này.
72 Hóa nhân 化人; Skt. nirmita(ka), người hay vật được biến hóa ra do pháp thuật hay ảo thuật.
73 Htr.: “Tính tướng của các pháp đều như huyễn hóa.”

* Trang 111 *
device

đều không xa lìa tướng ấy. 74 Cho đến, bậc trí không dính mắc văn tự, vì vậy chẳng có gì để sợ. Tại sao? Tại vì lìa tự tính của văn tự, không có văn tự, đó là giải thoát. Tướng của giải thoát, đó là các pháp.’ 75
“Khi Duy-ma-cật nói xong pháp này, hai trăm người con của chư thiên chứng được sự minh tịnh của pháp nhãn.76
Vì thế con biết mình chưa đủ khả năng đi thăm ông”.
5. Phật lại bảo Phú-lâu-na Di-đa-la-ni-tử: 77
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật”.
Phú-lâu-na thưa với Phật:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng đến thăm bệnh ông ấy. Là vì, một hôm, trong rừng Đại
___________________
74 Htr.: “Tính và tướng của hết thảy hữu tình cùng mọi ngôn thuyết cũng như vậy.”
75 VKN: sarvāṇi tāny akṣarāṇy anakṣarāṇi sthāpayitvā vimuktim vimuktilakṣanāṃś ca sarvadharmān, tất cả văn tự này đều phi văn tự, ngoại trừ giải thoát; yếu tính của giải thoát là tất cả các pháp.
76 VKN: pañcānāṃ ca devaputraśatānām ānulomikyāḥ kṣanteḥ pratilambho’bhūt, 500 Thiên tử chứng đắc thuận pháp nhẫn. Htr. đồng. Lth. & Ckh. khuyết.
77 Lth.: Phú-lâu-na Di-đa-la-ni Tử 富樓那 彌多羅 尼 子 ; Ckh.: Bân-nậu Văn-đà-ni Tử 頒耨文陀尼子. Htr.: Mãn Từ Tử 滿慈子. Skt., Pūrṇa-Maitrāyaṇi-putra.

* Trang 112 *
device

lâm, 78 con đang thuyết pháp cho các tỳ kheo mới thọ giới, Duy-ma-cật chợt đến và nói: ‘Thưa ngài Phú-lâu-na, trước tiên ngài nên nhập định để quán sát tâm tính người này rồi mới nên giảng Pháp. Chớ để đồ ôi thiu trong bát quí. Ngài nên hiểu rõ tâm niệm79 của các tỳ kheo này chứ đừng nhầm lẫn pha lê với thủy tinh. 80 Nếu ngài chưa rõ căn nguyên của chúng sinh thì đừng nên phát khởi chúng bằng pháp Tiểu thừa. Kia chưa bị lở lói, chớ làm họ trầy xước. Với người muốn đi trên đường lớn đừng chỉ họ lối hẹp. Đừng trút biển cả trong dấu lõm chân trâu; đừng ví ánh mặt trời với lửa đom đóm. 81
“Phú-lâu-na, các tỳ kheo này đã phát tâm Đại thừa từ lâu nhưng nửa chừng quên mất. Sao ngài lại hướng dẫn họ bằng pháp Tiểu thừa? Tôi thấy trí của Tiểu thừa nông cạn, như người mù, không thể phân biệt căn tính bén nhạy hay chậm lụt của chúng sinh.’
“Liền đó, Duy-ma-cật nhập tam-muội khiến các tỳ
_________________________
78 Xem cht. 3 ở trên.
79 Lth.: tâm chi sở niệm. Htr.: ý lạc (chí hướng); Skt. āśaya.
80 Htr.: “Chớ nhầm lẫn phệ-lưu-ly (Skt.vaidūryaratna) với thủy tinh (kācamaṇika) thấp kém, dòn, dễ vỡ.”
81 Htr. thêm: “Đừng nhét Diệu cao (núi Tu-di) vào trong hạt cải. Đừng nhầm tiếng gầm của sư tử với tiếng tru của chó sói.” VKN: mā siṃhanādasaṃprasthitān sṛgālanāhe niyojaya.

* Trang 113 *
device

kheo nhớ lại các đời trước, họ đã từng gặp năm trăm vị Phật, gieo trồng gốc rễ công đức, hồi hướng tâm giác ngộ tối thượng; khiến họ bỗng nhớ lại bản tâm. Khi ấy các Tỳ kheo liền cúi đầu lễ dưới chân Duy-ma-cật. Nhân đó Duy-ma-cật thuyết pháp cho họ, khiến không còn thối chuyển đối với vô thượng chính đẳng bồ-đề. “Con nghĩ, hàng Thanh-văn chưa quán sát rõ căn tính của người nghe 82 thì không nên thuyết Pháp. 83 Nên con thấy mình chưa đủ khả năng đến thăm bệnh ông.”
6. Phật bảo Ma-ha Ca-chiên-diên: 84
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
Ma-ha Ca-chiên-diên thưa:
“Bạch đức Thế Tôn, con không đủ khả năng đến thăm bệnh ông ấy. Vì có lần, sau khi Phật giảng các yếu nghĩa của pháp cho các tỳ kheo, con đã theo đó giải thích cho các tỳ kheo nghĩa vô thường, nghĩa khổ, nghĩa không, nghĩa vô ngã, và nghĩa tịch diệt.
______________________
82 Htr. thêm “Vì họ không thường xuyên tại định như Phật.”
83 Các bản Hán đồng. VKN khuyết.
84 Ma-ha Ca-chiên-diên 摩訶迦旃延. Htr.: Ma-ha Ca-đa diễn-na 摩訶迦多衍那. VCS: Hán dịch là Đại Tiển Thế Nam 大 剪剃 (Con trai người thợ cạo). Skt. Mahā-Kātyāyana.

* Trang 114 *
device

“Bấy giờ Duy-ma-cật đi đến và bảo con rằng: ‘Thưa ngài Ma-ha Ca-chiên-diên, đừng lấy tâm hành sinh diệt mà giải nghĩa pháp thật tướng. Ma ha Ca-chiên-diên, các pháp rốt ráo không sinh không diệt; 85 đó là nghĩa vô thường. Năm thủ uẩn rỗng suốt, trống không, không có gì sinh khởi; là nghĩa của khổ. Các pháp rốt ráo không có gì; là nghĩa của Không. Ngã và vô ngã không hai; là nghĩa vô ngã. Các pháp nguyên lai không bùng cháy, nay chẳng có gì là dập tắt;86 đó là nghĩa tịch diệt.’
“Duy-ma-cật nói xong, các tỳ kheohiện diện tâm được giải thoát. 87 Cho nên con thấy mình chưa đủ khả năng đến thăm bệnh ông”.
7. Phật bèn nói với A-na-luật:88
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
A-na-luật thưa:
__________________
85 Htr.: “không phải đã sinh, đang sinh, sẽ sinh; không phải đã diệt, đang diệt, sẽ diệt.”
86 VKN: yo’svabhāvo’parabhāvaḥ tad anujjvaltaṃ yad anujjvalitaṃ na tac chāmyati, cái gì không tự tính, không tha tính, cái đó không bùng cháy. Cái không bùng cháy thì không bị dập tắt.
87 Htr.: “vô lậu vĩnh viễn dứt sạch, tâm được giải thoát.” VKN: anupādāyāśravebhyaś cittāni vimuktāni, tâm giải thoát với vô lậu không chấp thủ.
88 Lth.: A-na-luật 阿那律; Htr.: Đại Vô Diệt 大無滅. Skt. Aniruddha.

* Trang 115 *
device

“Bạch Thế Tôn, con không đủ khả năng đến thăm bệnh ông ấy. Vì có lần con đang đi kinh hành, 89 một Phạm vương tên là Nghiêm Tịnh, 90 cùng mười ngàn chư thiên, hào quang chiếu rọi, đến gặp con, cúi chào và hỏi: ‘Thiên nhãn của ngài nhìn xa đến đâu?’  Con đáp: ‘Thưa Nhân giả, tôi nhìn thấy ba nghìn đại thiên quốc độ của Phật Thích-ca-mâu-ni như trái am-ma-lặc 91 trong lòng bàn tay.’ Khi ấy Duy-ma-cật xuất hiện, nói rằng: ‘Thưa ngài A-na luật, cái thấy bằng thiên nhãn của ngài là có tướng tác hành hay không có tướng tác hành?92 Giả sử có tướng tác hành, thì chẳng hơn hàng ngoại đạo đã tập thành năm phép thần thông. Nếu không có tướng tác hành, thì đó là vô vi, không có sự thấy.’
“Bạch Thế tôn, lúc ấy con lặng thinh không trả lời được. Các Phạm thiên khi nghe những điều chưa từng nghe, liền làm lễ rồi cung kính hỏi: ‘Vậy trên thế gian này ai có chân thiên nhãn?’ Ông đáp:
_____________________
89 Htr.: “trong Đại lâm.”
90 Lth., Htr. đồng: Nghiêm Tịnh 嚴淨. Ckh.: Tịnh Phục Tịnh 淨復. VKN: Śubhavyūha.
91 Am-ma-lặc quả 菴摩勒果; Htr.: a-ma-lạc quả 阿摩洛果. Triệu (Đại 38, tr. 354c20) nói: “… hình dáng như quả cau. Ăn vào, trừ phong lãnh.” Skt. āmalaka, dịch là dư cam tử 餘甘子 (Mahāvyut-patti).
92 Lth.: tác tướng 作 相 ; Htr.: hành tướng 行 相 . VKN: abhisaṃskāralakṣaṇa.

* Trang 116 *
device

‘Phật Thế Tôn có chân thiên nhãn, vì thường trụ trong tam-muội, 93 nhìn thấy hết thảy cõi Phật không do bởi hai tướng.’ 94 “Ngay lúc ấy, Phạm vương Nghiêm Tịnh và năm trăm chư thiên quyến thuộc đã phát tâm vô thượng chính đẳng chính giác. Họ cung kính đảnh lễ dưới chân Duy-ma-cật rồi biến mất. Đó là lý do con nói mình chưa đủ khả năng để thăm bệnh ông”.
8. Phật bảo Ưu-ba-li: 95
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
Ưu-ba-li thưa:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng đến thăm bệnh ông ấy. Vì sao? Con nhớ lại, xưa kia có hai tỳ kheo phạm giới, xấu hỗ không dám đến hỏi Phật, đến nói với con: ‘Thưa ngài Ưu-ba-li, chúng tôi đã phạm luật và rất hỗ thẹn vì tội này, không dám đến hỏi Phật, xin hỏi ông cách sám hối để giũ sạch tội lỗi.’ Con bèn theo như pháp mà giảng giải
____________________
93 Htr.: không xả tịch định 不捨寂定
94 Htr.: nhị tướng 二相, chủng chủng tướng 種種相; hình thái nhị nguyên đối đãi, và hình thái đa thù sai biệt. VKN: dvayaprabhāvita.
95 CDM, Triệu nói, “Ưu-ba-li 優波離 , tiếng Tần nói là Thượng Thủ 上首. Trì luật đệ nhất trong các đệ tử Phật.” VCS: “Ưu-ba-li, đây nói là Cận Chấp 近執 . Khi Phật còn là Thái tử, … Ông là quan giữ kho.” Skt. Upāli.<

* Trang 117 *
device

cho họ.
“Lúc ấy Duy-ma-cật đến nói với con: ‘Thưa ngài Ưu-ba-li, đừng làm nặng thêm tội của hai tỳ kheo này mà hãy ngay thẳng trừ diệt, chớ làm rối loạn tâm của họ. Vì sao? Vì bản chất tội không ở trong không ở ngoài, 96 cũng không ở giữa. Như Phật đã dạy, chúng sinh cáu bẩn vì tâm cáu bẩn; nếu tâm trong sạch hết thảy đều trong sạch. Tâm cũng không ở trong không ở ngoài, không ở giữa. Tâm như nhiên, tội cũng như nhiên; các pháp cũng như nhiên, không vượt ngoài Như. Như ngài Ưu-ba-li, nếu tâm tướng 97 được giải thoát, há có cáu bẩn chăng?’ Con đáp: ‘Không.’ Ông ấy nói: ‘Cũng vậy, tâm tướng của chúng sinh thảy đều vô cấu. Thưa ngài Ưu-ba-li, vọng tưởng là cáu bẩn; không vọng tưởng là thanh tịnh. 98 Điên đảo là cáu bẩn; không còn điên đảo là thanh tịnh. Chấp ngã là cáu bẩn; không chấp ngã là thanh tịnh. Ưu-ba-li, hết thảy pháp khởi và diệt không đình trú, như huyễn, như tia chớp. Các pháp không đối đãi nhau, 99
________________________
96 Htr.: “không an trụ bên trong, cũng không xuất hiện ra ngoài.”
97 Lth.: tâm tướng 心相, Htr.: tâm bản tịnh 心本淨. VKN: cittasya prakṛti, bản tính tự nhiên của tâm.
98 Htr.: “Có phân biệt, có dị phân biệt, là phiền não.” VKN: saṃkalpe bhadantopāle kleśa akalpāvikalpā ca prakṛti.
99 Lth.: tương đãi 相待; Htr.: tương cố đãi 相顧待, quan hệ,

* Trang 118 *
device

không đình trú trong mỗi tâm niệm. Chúng đến từ những cái thấy nhầm lẫn, như chiêm bao, như quáng nắng, như trăng trong đáy nước, như bóng trong gương, vì chúng sinh ra từ vọng tưởng. 100 Hiểu được như vậy là người phụng trì giới luật. Hiểu như vậy là hiểu biết thiện xảo.’ 101
“Ngay lúc ấy, hai vị tỳ kheo thán phục: ‘Siêu việt thay trí tuệ, mà ngài Ưu-ba-li không thể sánh bằng. Tuy là bậc trì luật đệ nhất nhưng không thể nói được như vậy.’ Con mới nói: 102 ‘Duy trừ Phật ra, chưa từng có một Thanh văn hay Bồ-tát nào vượt hơn biện tài vô ngại 103 của người này vì trí tuệ minh đạt của ông thù thắng như vậy.’
“Hai vị tỳ kheo nhờ đó đã dứt đoạn nghi tình và hối hận, phát tâm cầu giác ngộ tối thượng và lập nguyện cho hết thảy chúng sinh đều được biện tài như vậy. Cho nên con không đủ khả năng đến thăm bệnh ông ấy”.
____________________
chiếu cố lẫn nhau. Skt. āpekṣika.
100 VKN: sarvadharmāḥ cittaparikalpenotpadyante, tất cả các pháp sinh khởi bởi sự phân biệt vọng tưởng của tâm.
101 Lth.: thiện giải 善解. Htr.: thiện điều phục 善調伏 (khéo tự chế ngự). VKN: ye evaṃ vinītāḥ te suvinītāḥ, những ai được chế ngự như vậy là khéo được chế ngự.
102 Htr. có thêm: “Các Thầy chớ nghĩ tưởng vị này là Cư sỹ.”
103 Nhạo thuyết biện tài 樂說之辯, khả năng biện luận lưu loát. VKN: pratibhāna.

* Trang 119 *
device

9. Phật bèn nói với La-hầu-la:104
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
La-hầu-la thưa:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng đến thăm ông ấy. Vì nhớ lại, có lần các con trai nhà trưởng giả thành Tỳ-da-ly105 đến gặp con, cúi chào và hỏi: ‘La-hầu-la, ông là con của Phật, đã bỏ ngôi vị Chuyển luân vương mà xuất gia học đạo. Xuất gia như vậy được lợi ích gì?’ Con bèn như pháp mà nói các lợi ích của công đức xuất gia, thì Duy-ma cật bỗng đến, nói: ‘Thưa ngài La-hầu-la, ông chớ nên nói về các lợi ích của công đức xuất gia. Vì sao? Vì không lợi ích, không công đức; đó là xuất gia. Chỉ pháp hữu vi mới nói đến lợi ích và công đức. Xuất gia là pháp vô vi. Trong pháp vô vi, không có lợi ích, không có công đức. La-hầu-la, xuất gia là vượt khỏi cái sự chỗ này, chỗ kia, hay ở giữa; 106 là vượt khỏi sáu mươi hai kiến chấp, an trú Niết-bàn,107 được người trí lãnh thọ, là lối đi của
______________________
104 DM: La-hầu-la 羅睺羅. Ckh.: La-vân 羅云. Htr.: La-hỗ-la 羅怙羅. Skt. Rāhula.
105 Lth.: Tì-da-li chư trưởng giả tử 毘耶離諸長者子; Htr.: Các công tử dòng họ Licchavī 諸童子離呫毘種.
106 Các bản Hán đồng. VKN: khuyết.
107 Lth.: lục thập nhị kiến 六十二見, Xem Trường A-hàm 14, kinh Phạm động (Đại 1, tr. 88), Cf. D.1 Brahmajāla. VCS (Đại 38, tr.1055a17): “Các kiến chấp, ở đây bao gồm

* Trang 120 *
device

bậc Thánh,108 hàng phục các ma, thoát ngoài năm đạo, thanh tịnh năm con mắt, thành tựu năm lực, xác lập năm căn, không gây não hại cho đời, xa lìa mọi điều xấu, đẩy lui ngoại đạo, siêu việt giả danh tự, ra khỏi vũng sình, 109 không bị ràng buộc, không ngã sở; không có gì để chấp thủ, không bị nhiễu loạn, nội tâm hoan hỷ, hộ trì tâm ý kẻ khác, 110 tùy thuận thiền định,111 và thoát khỏi mọi sai lầm. Làm được như vậy mới là đích thực xuất gia.’
“Đoạn Duy-ma-cật nói với những người con của các trưởng giả: ‘Các chú nên xuất gia trong Chính Pháp. Vì sao? Vì không dễ gì được sống cùng thời với Phật.’ 112 Các người này nói: ‘Thưa Cư sỹ tôn
_______________________
cả năm kiến, trong khi Cựu dịch nêu 62 kiến chỉ thuộc biên kiến, nghĩa rất hạn hẹp.” Htr.: “(xuất gia) là con đường Niết-bàn.” VKN thay thế câu này bằng: arūpiṇī rūpavigatā yathā nirvāṇasya, phi sắc, viễn ly sắc, như Niết-bàn.
108 VKN: praśāntā paṇḍitaiḥ parigṛhītā āryaiḥ, được kẻ trí tán thán, được Thánh giả nhiếp thọ.
109 Htr.: “vũng sình dục vọng.”
110 CDM, Thập nói: “tùy thuận chúng sinh, không trái nghịch tâm tư của chúng.” VKN: paracittasaṃrakṣaṇī, thủ hộ tâm kẻ khác.
111 Htr.: “tùy thuận tịch chỉ, cần tu thắng quán.” Tức tu chỉ và quán. VKN: śamathānukūlā.
112 Htr.: “Khó thay, Phật xuất thế. Khó thay, lìa vô hà nạn (bát nạn). Khó thay, được thân người.” VKN: durllabho hi buddhotpādo durllabhā kṣaṇasampat durlabho manuṣyapratilambhaḥ.

* Trang 121 *
device

kính, chúng tôi có nghe Phật dạy, nếu cha mẹ chưa cho phép thì con không được xuất gia.’ Duy-ma cật bảo: ‘Đúng vậy. Nhưng khi phát tâm cầu giác ngộ vô thượng chính đẳng chính giác, là các chú đã xuất gia.’
“Bấy giờ, ba mươi hai người con của các trưởng giả đã phát tâm vô thượng chính đẳng chính giác. Vì vậy con chưa đủ khả năng đến thăm bệnh ông”.
9. Phật bèn bảo A-nan: 113
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
A-nan nói:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng đến thăm bệnh ông ấy. Vì nhớ lại, có lần khi thân Thế Tôn có chút bệnh, cần sữa bò, con lấy bát đến đứng trước cửa nhà người Bà-la-môn114. Khi ấy Duy ma-cật đi đến115 bảo con rằng: ‘Thưa ngài A-nan, có chuyện gì mà cầm bát đứng đây sớm thế?’ Con đáp: ‘Cư sỹ, đức Thế Tôn thân có chút bệnh, cần sữa bò, vì vậy tôi mới đến đây.’ Duy-ma-cật chặn lại: ‘Thôi im đi, ngài A-nan. Chớ nói những lời
____________________
113 Ānanda.
114 Htr.: “Đi vào thành Quảng nghiêm, trước cửa cổng nhà một người Bà-la-môn.”
115 VKN: sa māṃ vantitvaivam āha, ông ấy sau khi đảnh lễ con rồi nói như vầy. Htr. như VKN.

* Trang 122 *
device

như vậy. Thân Như Lai là thể kim cương. 116 Mọi điều xấu117 đã bị đoạn trừ; mọi điều thiện hội đủ; làm gì có bệnh? Làm gì có não? Ngài hãy im lặng mà đi. Chớ phỉ báng Như Lai. Đừng để người khác nghe được lời thô tháo đó. Chớ để chư thiên có uy đức và Bồ-tát đến từ các quốc độ thanh tịnh nghe thấy. Thưa ngài A-nan, Chuyển luân thánh vương mới chỉ tích góp vài công đức nhỏ đã không còn bệnh não. Huống chi Như Lai đã hội đủ vô lượng phước đức thù thắng lại còn bệnh sao? Nhất định không có chuyện đó. Hãy đi đi, thưa ngài A-nan, đừng làm xấu hết cả chúng tôi. Nếu người Bà-la môn ngoại đạo nghe lời này, họ sẽ nghĩ: Sao đáng gọi là Tôn Sư? Người này cứu được ai khi ông chưa cứu nỗi thân mình? Hãy âm thầm mà đi nhanh đi, đừng để ai nghe lời ngài nói. A-nan, nên biết, thân Như Lai là Pháp thân, không phải do tâm tư dục vọng. 118 Phật là đức Thế tôn, vượt ngoài ba cõi. Thân Phật là vô lậu, vì các lậu đã dứt sạch. Thân Phật là vô vi không thể gọi tên. 119 Thân như
______________________
116 VKN: vajrasaṃhatana, kim cang bất hoại. Htr.: kim cang hợp thành 金剛合成.
117 VKN: akuśalavāsaṇa, tập khí bất thiện. Htr.: các ác pháp cùng với tập khí.
118 Lth. & Ckh.: tư dục thân. Htr.: tạp uế thân. VKN: āmiṣakāya, nhục thân, thân do bởi ham muốn xác thịt.
119 Lth.: bất đọa chư số 不墮諸數. Htr.: “Thân Phật là vô vi, lìa các hữu vi; vượt qua các số, vì các số vĩnh viễn tĩnh

* Trang 123 *
device

vậy làm sao có bệnh?’
“Bạch Thế Tôn, nghe ông nói con ngập tràn hỗ thẹn, tự hỏi phải chăng con tuy gần Phật nhưng đã nghe nhầm chăng? Nhưng lúc ấy, con nghe một tiếng nói từ không trung vọng xuống: ‘A-nan, Cư sỹ nói đúng, nhưng vì Phật hiện thân trong đời năm trược ác, hiện hành pháp này để cứu độ chúng sinh. 120A-nan, cứ đi xin sữa, chớ hỗ thẹn.’
“Bạch Thế tôn, trí tuệ và tài biện thuyết của Duy ma-cật như vậy, con quả thật không đủ khả năng đến thăm bệnh ông”.
Như vậy năm trăm đại đệ tử đều kể lại với những cuộc gặp gỡ Duy-ma-cật và những điều ông ấy đã nói, đều nói không đủ khả năng đi thăm bệnh ông.
_____________________
lặng.” CDM (Đại 38, tr.360a15): Triệu nói, “… số, tức hữu số 有數 (số loại hữu vi).” VCS (Đại 38, tr. 1056c17): “… số, tức sinh số 生 數 (= số loại thọ sinh).” VKN: saṃkhyāviga(ta).
120 VKN: te nānārthalūhadaridracaryayā sattvā vinetavyāḥ, vì để hóa độ vô số chúng sinh vốn là những kẻ cùng khổ. Htr. đồng.

* Trang 124 *
device

 
Duy-Ma-Cật Sở Thuyết