LOGO VNBET
CHƯƠNG BỐN
BỒ TÁT1

1. Rồi thì, Phật nói với Bồ-tát Di-lặc: 2
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật”.
Di-lặc đáp:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng đến thăm bệnh ông ấy. Vì sao? Nhớ lại xưa kia, có lần con đang giảng cho Thiên vương Đâu-suất3 và quyến thuộc về sự thực hành ở địa vị bất thối chuyển,4
__________________________
1 VKN: phần sau của phẩm III. xem cht.1 chương III trên.
2 Lth.: Di-lặc 彌勒. Htr.: Tiếng phạn là Mỗi-đát-lị-da 梅呾 利耶, dịch là Từ Thị 慈氏. Xưa phiên là Xưng (Di?)-đế-lệ 稱帝麗 hay Di-lặc 彌勒, thảy đều nhầm. Skt. Maitreya.
3 Đâu suất Thiên vương 兜率天王. Htr.: Đổ-sử-đa Thiên vương 睹史多天王. VCS: “Tầng thứ tư trong sáu tầng trời Dục giới. Đây dịch là Tri túc. Nghĩa là, hưởng thụ các dục lạc nhưng biết đủ một cách sâu xa.” VKN: Saṃtuṣita devaputra.
4 CDM (Đại 38, tr.360c20), Thập nói: “Tức là vô sinh pháp nhẫn.” VCS: “… Hoặc đây chỉ Pháp yếu thuộc giai đoạn của pháp luân bất thối ở địa thứ tám (Bất động địa).” VKN: kathāṃ kathayāmi yad idaṃ bodhisattvānāṃ mahāsattvānām avaivartyāṃ bhūmim ārabhya, giảng pháp thoại về việc làm thế nào để Bồ-tát đạt đến địa vị bất thối

* Trang 125 *
device

Duy-ma-cật bỗng đến và nói với con: ‘Thưa Di lặc, khi đức Thế tôn thọ ký Nhân giả còn một đời nữa5 sẽ chứng đắc A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ- đề. Sự thọ ký ấy nhắm vào đời nào? Đời quá khứ chăng? Đời vị lai chăng? Đời hiện tại chăng? Nếu là đời quá khứ, thì đời quá khứ đã diệt. Nếu là đời vị lai thì đời vị lai chưa đến. Nếu ở đời hiện tại, thì đời hiện tại không đình trú. Như Phật đã nói: Này tỳ kheo, ngươi nay tức thời6 vừa sinh, vừa già, vừa diệt. Nếu bằng vô sinh7 mà đươc thọ ký, thì vô sinh là chính vị. 8 Mà trong chính vị thì không có thọ ký, cũng không có sự chứng đắc A-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề. 9
Vậy làm sao Di-lặc được thọ ký còn một lần tái
________________________
chuyển.
5 Htr.: nhất sinh sở hệ. VKN: ekajātipratibaddha.
6 VKN: kṣaṇe kṣaṇe, trong từng sát na.
7 VKN: ajāti, vô sinh, chỉ sự không tái sinh, không có đời sống nào cả.
8 CDM, Thập nói: “Thật tướng thường định, nên nói là chính vị.” Htr.: sở nhập chính tính 所入正性. VCS: “Nhập tức là chứng. Chính tính, là chân tính của pháp.” Câu-xá 23 (Đại 29, tr. 121b4); “Kinh nói, chính tính là Niết-bàn.” Chỉ trạng thái từ địa vị phàm phu bước vào địa vị Thánh giả. VKN: niyāmāvakrānti.
9 VKN: na cājātir vyākriyate nāpy ajātir abhisaṃbudhyate, vô sinh (không tái sinh) thì không được thọ ký, cũng không chứng đắc giác ngộ.

* Trang 126 *
device

sinh10? Ấy là bằng Như sinh11 mà được thọ ký, hay bằng Như diệt mà được thọ ký? Nếu bằng Như sinh mà được thọ ký, thì Như vốn không sinh. Nếu bằng Như diệt mà được thọ ký, thì Như vốn không diệt. Vì hết thảy chúng sinh đều là Như tính vậy. Hết thảy pháp cũng là Như tính vậy. Các Hiền Thánh cũng là Như tính vậy. Di-lặc cũng là Như tính vậy. 12 Như vậy, nếu Di-lặc được thọ ký, thì hết thảy chúng sinh cũng đều được thọ ký. Vì sao? Vì Như vốn không hai, không khác. 13 Nếu Di-lặc chứng đắc giác ngộ tối thượng, thì hết thảy chúng sinh cũng chứng đắc giác ngộ tối thượng. Vì sao?
_______________________
10 Lth.: nhất sinh 一 生. Htr.: nhất sinh sở hệ. Skt. ekajātibaddha.
11 Như sinh 如生… Như diệt 如滅. VKN: tathatotpadena …tathatānirodhena, (được thọ ký) bằng sự sinh khởi của Như tính, bằng sự tịch diệt của Như tính.
12 Cf. Đại Bát-nhã 447 (Đại 7, tr. 252a7): “Hoặc Chân như của sắc, hoặc Chân như của Trí nhất thiết trí, hoặc Chân như của tất cả pháp; thảy đều là một Chân như, không hai, không khác, cũng không cùng tận ...” Cf. Tiểu phẩm Bát nhã 5 (Đại 8, tr. 558b13): “Tu-bồ-đề, ..., Như (tính) của năm uẩn tức thị Như (tính) của hết thảy pháp. Như của hết thảy pháp tức thị Như của Tu-đà-hoàn. Như của Tu-đà-hoàn là Như của Tư-đà-hàm... Như của Bích-chi-phật đạo là Như của Như Lai. Các Như ấy đều là một Như, không hai, không khác, vô tận, vô lượng.”
13 VKN: na hi tathatā dvayaprabhāvitā nānātvaprabhāvitā, thật vậy, Chân như không hiển hiện bởi nhị nguyên tính, không hiển hiện bởi đa thù tính.

* Trang 127 *
device

Vì hết thảy chúng sinh tức là tướng của Bồ-đề.14 Nếu Di-lặc mà diệt độ, thì hết thảy chúng sinh cũng diệt độ. 15 Vì sao? Chư Phật biết rõ hết thảy chúng sinh rốt ráo tịch diệt, tức là tướng bồ-đề, không còn gì để diệt nữa. 16 Thưa Di-lặc, vì thế không nên dụ17 chư Thiên bằng pháp này.
“Thật sự không có người phát tâm vô thượng bồ- đề18 cũng chẳng có người thối lui. Di-lặc hãy nên khiến cho các thiên tử này xả bỏ những quan niệm phân biệt về bồ-đề. Vì sao? Vì bồ-đề không thể được chứng đắc bằng thân, không thể được chứng đắc bằng tâm. Tịch diệt là bồ-đề, vì diệt các tướng. 19 Không có quán là bồ-đề vì nó lìa ngoài
______________________
14 Bồ-đề tướng 菩提相. Htr.: “Bồ đề (bodhi), là điều được giác tri (anubuddha) một cách đồng đẳng bởi tất cả hữu tình.” VKN., sarvasattvānubodho hi bodhiḥ, bồ đề là sự chứng giác của tất cả chúng sinh.
15 Htr.: Bát-niết-bàn.
16 Htr.: “Tính tịch tĩnh tự bản chất của hết thảy hữu tình tức là yếu tính của Niết-bàn, vì vậy Phật nói Chân như là Bát-niết-bàn.” VKN: tathāgatāḥ… te sattvāni paśyanti nirvāṇaprakṛtikāni, các Như Lai thấy mọi chúng sinh đều có bản tính tự nhiên là Niết-bàn.
17 CDM, Thập nói: “Dụ, bản Phạn nói là cuống (dối gạt).” VKN: mā … ullāpaya mā visaṃvādaya, đừng dụ dỗ, đừng dối gạt. Htr.: dụ … trệ .
18 VKN: na bodhau pratiṣṭhate, không có ai an trụ trong bồ-đề.
19 Htr.: “Vì tướng của hết thảy hữu tình, hết thảy pháp thảy

* Trang 128 *
device

nhân duyên.20 Không hành là bồ-đề vì nó dứt tuyệt nghĩ tưởng. 21 Đoạn là bồ-đề, vì xả ly các kiến. 22 Xả ly là Bồ-đề, vì xả ly vọng tưởng. 23 Chướng là Bồ- đề, vì chướng các nguyện. 24 Không nhập là Bồ-đề vì không tham trước. 25 Tùy thuận 26 là bồ-đề vì
________________________
đều tịch diệt.”
20 Htr.: “Không tăng (gia) là bồ-đề, vì hết thảy sở duyên (đối tượng) vốn không tăng ích.” Khuy Cơ (VCS) giải thích : “Cựu dịch bất quán 不觀, vì không thể quán sát bằng tâm biến kế.” VKN: asamāropo bodhiḥ sarvāramvaṇānām.
21 Bất hành … vô ức niệm 不行 無憶念. Htr.: “Vì hết thảy hý luận, hết thảy tác ý đều không (hiện) hành.” VKN: apracāro bodhiḥ sarvamanaskārāṇām, bồ-đề là không sở hành của tất cả mọi tác ý.
22 Htr.: xả ly các thủ trước. VKN: paricchedo bodhiḥ sarvadṛṣṭigatānām, bồ đề là sự đoạn tuyệt tất cả mọi kiến chấp.
23 Htr.: ly hệ (=diệt trừ kết sử phiền não) là bồ đề, vì vĩnh viễn xa lìa tất cả pháp động loạn. VKN: visaṃyogo bodhiḥ sarveñjita-manyayasyanditānām.
24 CDM, Triệu nói: “Đạo chân chính là vô dục, vì ngăn cản các nguyện cầu.” Bản La-thập hình như có nhảy sót, so sánh Htr.: “ly hệ 離繫 là bồ đề vì vĩnh viễn dứt lìa hết thảy các pháp động loạn. Tịch tĩnh là bồ đề vì hết thảy phân biệt hoàn toàn vắng bặt. Quảng đại là bồ đề, vì hết thảy hoằng nguyện đều không thể trắc lượng.” VKN gần với Lth.: adhiṣṭhānaṃ bodhiḥ sarvapraṇidhānānām, bồ đề là y xứ, vì là y xứ của tất cả các nguyện.
25 Htr.: “Không tranh (bất tránh 不諍; Khuy Cơ đọc là bất chứng 不證); vì hết thảy thủ trước, hết thảy tranh luận đều xa lìa.” VKN: asaṃpraveśo bodhiḥ sarvo(pa)dhiḥ

* Trang 129 *
device

thuận với Như27. Trụ là Bồ-đề vì trụ pháp tính.28 Đến là bồ-đề, vì đi đến thực tế.29 Bất nhị là bồ-đề, vì nó xa lìa ý và pháp. 30 Bình đẳng là bồ-đề, vì đồng đẳng với hư không. 31 Vô vi là bồ-đề vì không sinh, trụ, diệt.32 Tri33 là bồ-đề, vì liễu tri tâm hành của hết thảy chúng sinh. Không hội 34 là bồ-đề vì các nhập35 không hội. 36 Không hiệp37 là bồ-đề, vì
____________________
sarvodgrahavigatā, không (chứng) nhập là bồ-đề, vì không nhập tất cả chấp thủ, xả ly tất cả tham chấp.
26 Htr.: tùy chí 隨至, đến theo sau; VKN: anugata.
27 Htr.: chân như. Skt. tathatā.
28 Htr.: trụ pháp giới . VKN: sthitā bodhiḥ dharmadhātusthāne, bồ đề là sự an trụ trong bản xứ của pháp giới.
29 Htr.: “kiến lập là bồ đề vì kiến lập (trong) thật tế.” VKN: pratiṣṭhitā bodhiḥ bhūtakoṭyām.
30 Htr.: “vì xa lìa pháp tính sai biệt.” VKN: manodharmavigatā, xả ly ý và pháp.
31 Htr.: “vì con mắt và sắc, cho đến ý và pháp, thảy đều bình đẳng như hư không.” VKN: samā bodhiḥ ākaśasamatayā.
32 Htr.: sinh, trụ, dị, diệt.
33 Htr.: biến tri. Skt. parijñā, nhận thức toàn diện hay tường tận. Cf. Câu-xá 22 (Đại 29, tr. 112a17): “biến tri có hai: trí biến tri (jñānaparijñā) và đoạn biến tri (prahānaparijñā). Trí biến tri (nhận thức toàn diện bằng trí tuệ) tức là trí vô lậu (anāsrava jñāna).”
34 Bất hội 不會. Htr.: vô gián 無間. VKN: dvārā, không có cửa.
35 Các nhập; Htr.: sáu nội xứ (Skt. saḍ adhyāmikāny āyatanāni).

* Trang 130 *
device

lìa tập quán phiền não.38 Không xứ sở39 là bồ-đề, vì không hình sắc. 40 Giả danh41 là bồ-đề, vì tên gọi vốn rỗng không. 42 Như hóa43 là bồ-đề, vì không thủ xả. Không loạn là bồ-đề, vì thường tịch tĩnh. Thiện tịch44 là bồ-đề vì tự tính thuần tịnh. Vô thủ là bồ-đề không thể vin nắm. 45 Vô dị46 là bồ đề, vì
____________________
36 VKN: advārā bodhiḥ āyatanānām, bồ đề là lối vào không cửa của xứ.
37 Bất hiệp 不合. Htr.: vô tạp 無雜. VKN: asaṃsṛṣṭa, không hỗn tạp.
38 Phiền não tập. Htr.: tập khí của tương tục phiền não. VKN: vāsanānusandhikleśa.
39 Vô xứ. VKN: na deśasthā na pradeśasthā, không phương vị, không xứ sở.
40 Htr.: “vì trong Chân như, hết thảy phương vị, xứ sở đều xa lìa.“ Htr. còn thêm: „ Vô trụ là bồ đề, vì không thể thấy trong tất cả xứ.“ tathatāpratiṣṭhitā bodhiḥ sartodṛṣyā, bồ đề là vô trụ chân như, không được nhìn thấy từ tất cả mọi phía. Htr. đọc tathatā lên cụm từ trên.
41 Giả danh 假 名 . Htr.: duy danh 唯 名 . VKN: nāmadheyamātraṃ.
42 Htr.: “vì danh vốn không hoạt dụng.” VKN: tac ca nāma nirīhakaṃ.
43 Như hóa 如化. CDM: Triệu nói, như cái vô tâm của con người huyễn hóa. Htr.: vô lãng 無 浪 , không gợn sóng. VKN: nirātimkā bodhiḥ āyūhaniryūhavigatā, bồ đề là không tự ngã, vì không mang đến cũng không lấy đi.
44 Thiện tịch 善寂; Skt. suśānta, hoàn toàn (phi thường) tĩnh lặng.
45 Phan duyên 攀緣; Skt. ālamba.

* Trang 131 *
device

bình đẳng các pháp vốn bình đẳng. 47 Không so sánh48 là bồ-đề, vì không thể thí dụ. Vi diệu là bồ- đề, vì các pháp khó biết.’ 49
“Bạch Thế tôn, Duy-ma-cật giảng xong pháp này, hai trăm thiên tử chứng vô sinh pháp nhẫn. Vì vậy con không đủ khả năng đến thăm bệnh ông”.
2. Phật nói với Quang Nghiêm Đồng tử:50
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật”.
Quang-nghiêm đáp:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng đến thăm ông. Vì, nhớ lại, có lần con đang trong thành Tỳ- da-ly đi ra, gặp Duy-ma-cật vừa ở ngoài đi vào.
________________________
46 Vô dị, không dị biệt, đây chỉ phi đa thù. VKN: nirnānātvā.
47 Htr.: “Vì tính bình đẳng của các pháp được chứng giác.”
48 Vô tỷ 無比. Htr.: vô dụ 無喻. VKN: anupama, không có thí dụ.
49 Htr. còn thêm một đoạn nữa: “Biến hành (phổ biến, phổ quát) là bồ đề, vì tự tính phổ biến như hư không. Lên đến đỉnh cao là bồ đề, vì là tối thượng thủ của tất cả pháp. Vô nhiễm là bồ đề, vì hết thảy thế pháp không thể làm cho nhiễm ô. Như vậy, bồ đề không được chứng bởi thân, không được chứng bởi tâm.” VKN: sarvatrānugatā bodhir ākāśasvabhāvatvāt; sā na śakyā kāyena vācā cittenābhisam-bodhuṃ.
50 Ckh.: Quang Tịnh Đồng tử 光淨童子. Lth. = Htr. VKN: Prabhāvyūha. Cf. Lalitavistara.

* Trang 132 *
device

Con cúi chào51 ông và hỏi: ‘Quý cư sỹ đi đâu về?’ Ông đáp: ‘Từ đạo tràng52 về.’ Con mới hỏi ông: ‘Đạo tràng này ở đâu?’ Ông đáp: ‘Tâm chính trực53 là đạo tràng, vì không giả dối. Phát hành54 đạo tràng, vì có khả năng hoàn tất mọi sự. Thâm tâm55 là đạo tràng, vì tăng ích công đức.56 Tâm bồ- đề là đạo tràng, vì không thể sai lầm. 57
“Bố thí58 là đạo tràng, vì không cầu đáp trả.59 Trì giới là đạo tràng, vì giúp hoàn thành tâm nguyện. Nhẫn nhục là đạo tràng, vì tâm vô ngại60 đối với
____________________________
51 Tác lễ. Khuy Cơ (VCS, Đại 38, tr. 1060c8): “Đoạn trên, Duy-ma-cật cúi chào Di-lặc; vì Di-lặc hiện thân tướng xuất gia. Ở đây, Thiếu niên Quang Nghiêm cúi chào Duy-ma-cật; vì Quang Nghiêm hiện thân tướng thế tục. Người nhỏ tuổi cúi chào người lớn tuổi hơn.”
52 Đạo tràng 道 場 ; Htr.: diệu bồ đề 妙 菩 提 . VKN. bodhimaṇḍa.
53 Trực tâm 直心. Htr.: thuần trực ý lạc 淳直意樂. VKN: bodhimaṇḍa iti āśāyamaṇḍa, trường bồ-đề là trường chí hướng.
54 Htr.: phát khởi gia hành 發起加行. VKN: prayoga.
55 Htr.: tăng thượng ý lạc 增上意樂. VKN: adhyāśaya.
56 Htr.: “Vì rốt ráo chứng hội pháp thù thắng.” VKN: eṣa viśeṣāvigamatayā, vì không hề xa rời mục đích siêu việt.
57 Htr.: không quên lãng hết thảy pháp. VKN: apramoṣaṇatā.
58 Htr.: thanh tịnh bố thí.
59 Htr.: không cầu dị thục quả.
60 Htr.: tâm không sân nhuế. VKN: sarvasattvāpratihatacitta, không có tâm gia hại đối với hết

* Trang 133 *
device

hết thảy chúng sinh. Tinh tấn là đạo tràng, vì lìa xa biếng nhác. Thiền định là đạo tràng, vì là tâm điều thuận nhu hòa.61 Trí tuệ là đạo tràng, vì trực kiến các pháp.
“Từ là đạo tràng, vì đối xử bình đẳng với tất cả chúng sinh. Bi là đạo tràng, vì nhẫn nại các khổ nhọc. Hỷ là đạo tràng, vì là pháp an vui khoái lạc. Xả là đạo tràng, vì dứt bỏ yêu hay ghét.
“Thần thông là đạo tràng, vì thành tựu sáu thần thông. Giải thoát là đạo tràng, vì hay dứt bỏ. 62 Phương tiện là đạo tràng, vì giáo hóa chúng sinh. Bốn nhiếp pháp là đạo tràng, vì nhiếp chúng sinh. Đa văn là đạo tràng, vì y như điều đã nghe mà thực hành. Tâm được chế ngự là đạo tràng, vì chính quán các pháp. Ba mươi bảy phẩm là đạo tràng, vì xả bỏ các pháp hữu vi. Chân đế63 là đạo tràng, vì không dối gạt thế gian. Duyên khởi64 là đạo tràng,
__________________________
thảy chúng sinh.
61 VKN: cittakarmaṇyatayā, vì tâm thiện xảo sự nghiệp.
62 Bội xả 背捨. CDM: giải thoát ở đây chỉ tám giải thoát, cũng gọi là tám bối xả (Skt. aṣṭau vimokṣāḥ), xem Trường A-hàm 10 (Kinh Chúng tập, Đại 1, tr. 52b12); Cf. Pali, Saṅgīti, D.iii. tr.261: aṭṭha vimokkhā. Htr.: vì lìa vọng động do phân biệt 分別動. VKN: akalpanatā.
63 CDM: đế , trong Tiểu thừa là bốn Thánh đế. Trong Đại thừa, là một đế, tức Thật tướng. VKN. satyamaṇḍa.
64 Htr.: mười hai duyên khởi.

* Trang 134 *
device

vì từ vô minh cho đến già-chết, thảy đều không bị diệt tận. 65 Phiền não là đạo tràng, 66 vì biết như thật. 67 Chúng sinh là đạo tràng, vì biết vô ngã. 68 Tất cả pháp là đạo tràng, vì biết các pháp vốn không. Hàng phục chúng ma là đạo tràng, vì không khuynh động. Ba cõi 69 là đạo tràng, vì không định hướng phải đến.70 Tiếng sư tử hống là đạo tràng, vì là không có gì để sợ. Lực, bốn vô sở úy, bất cộng71 là đạo tràng, vì không khuyết điểm. Ba minh là đạo tràng, vì vô ngại. 72 Một niệm73 biết
___________________________
65 Các bản Hán giống nhau. VKN: eṣa avidyāsrava(ā?)kṣayatayā, vì vô minh lậu đã (không?) bị diệt tận.
66 Htr.: Dứt hết các phiền não là diệu bồ đề. VKN: sarvakleśpraśamanamaṇḍa.
67 Tri như thật 知如實. Htr.: như thực hiện chứng chân pháp tính 如 實 現 證 真 法 性 . VKN: yathābhūtābhi saṃbodhanatayā.
68 Htr.: vì dụng tự tính làm vô ngã. VKN: sattvāsvabhāvatayā, vì chúng sinh vốn không tự tính.
69 Htr.: “Không lìa ngoài ba cõi (Dục, Sắc và Vô sắc giới).”
70 Vô sở thú 無所趣. Htr.: viễn ly nhất thiết phát thú sự 趣事, xa rời tất cả mục đích hướng đến.
71 Đây chỉ mười lực, bốn vô sở úy và mười tám pháp bất cộng của Phật. Skt. balavaiśāradyāveṇikasarvabuddha dharmamaṇḍa.
72 Htr.: “Vì xa lìa phiền não, đạt được trí cứu cánh vô dư.” VKN: niravaśeṣatvāt kleṣānām, vì đã hoàn toàn diệt tận các phiền não.
73 Htr.: một sát-na tâm.

* Trang 135 *
device

tất cả pháp là đạo tràng, vì thành nhất thiết trí.
“Như vậy, này Thiện nam tử, Bồ-tát thích ứng theo các Ba-la-mật mà giáo hóa chúng sinh, thì mọi hành vi, cho đến từng bước chân đi, nên biết, đều từ đạo tràng mà đến;74 an trú trong Pháp Phật vậy.’
“Duy-ma-cật giảng Pháp như vậy, bạch Thế tôn, năm trăm trời và người đã phát tâm cầu giác ngộ tối thượng. Vì thế con không đủ khả năng đến thăm bệnh ông”.
3. Phật bảo Bồ-tát Trì Thế:75
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
Trì Thế đáp:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng để thăm bệnh ông. Con nhớ, có lần đang ở trong tĩnh thất,76 khi ấy Ma Ba-tuần77 hình trạng như Đế Thích xuất
_____________________
74 Htr.: “Mọi cử chỉ tới lui, đi đến, dở chân, hạ chân, thảy đều tương ưng với chân thật phát thú, với ba-la-mật-đa, với sự thành thục hết thảy chúng sinh, với sự nhiếp thọ Chính pháp, với sự cúng dường Như Lai.”
75 Bồ-tát Trì Thế 持 世 . Ckh.: Trì Nhân 持 人 . VKN: Jagatindhara; Cf. Rāṣṭrapālaparipṛccha, Mahāvyutpatti.
76 Htr.: tại tự trú xứ 在自 住處. VKN: vihāre viharāmi, đang ở trong một tinh xá.
77 Ma Ba-tuần 魔波旬 . CDM, Triệu nói: “Ba-tuần, tiếng Tần gọi là Sát giả hay Cực ác, vì là nguyên nhân đoạn thiện căn, và tội lớn nhất là chống Phật, nhiễu loạn Tăng.” Htr.:

* Trang 136 *
device

hiện cùng với mười hai ngàn thiên nữ theo sau đàn hát, đi đến chỗ con. Sau khi cúi đầu đảnh lễ dưới chân con, họ chắp tay đứng sang một bên. Con tưởng đó là Đế Thích nên nói: ‘Xin chào Kiều-thi ca. 78 Dù ông đã thành tựu nhiều phước báo, nhưng không nên phóng túng. Ông nên quán ngũ dục là vô thường để tìm cầu gốc rễ thiện. Hãy tìm cầu pháp chắc thật cho thân thể, sinh mạng và tài sản này.’ Ma liền nói: ‘Thưa Đại Chính sỹ, xin ngài nhận lấy mười hai ngàn thiên nữ này để hầu hạ ngài, lo việc quét dọn. ’ Con bảo: ‘Này Kiều-thi-ca, chớ đem cho Sa-môn họ Thích món quà phi pháp như vậy. Nó không thích hợp với tôi.’
“Con chưa dứt lời thì Duy-ma-cật chợt đến và nói: ‘Nó đâu phải là Đế Thích. Nó là Ma đến quấy nhiễu ngài đấy.’ Rồi ông quay sang bảo Ma: ‘Hãy cho ta các cô gái này. Như ta thì có thể nhận.’ Ma kinh sợ, nghĩ rằng, ‘Duy-ma-cật có thể gây hại ta chăng?’ Nó bèn muốn ẩn hình nhưng không được. Nó vận dụng hết thần lực cũng không thể bỏ đi được. Chợt trên không có tiếng vọng xuống: ‘Này Ba-tuần, hãy cho ông ấy các thiên nữ thì mới có thể đi được.’ Sợ quá, Ma đành dâng hết các thiên nữ cho Duy-ma-cật. Ông mới nói với các người
_________________________
ác ma oán 惡魔怨. Skt. Māra-Pāpīyas.
78 Kiều-thi-ca 憍尸迦; Skt. Kauśika. CDM, Thập nói: Kiều thi là họ,
tên chữ là Ma-ca-đà.

* Trang 137 *
device

nữ: ‘Ma đã đem các cô cho ta. Bây giờ các cô hãy phát tâm cầu vô thượng chính đẳng bồ-đề.’ “Đoạn ông tùy chỗ thích hợp giảng pháp cho họ nghe, giúp họ phát đạo ý.79 Ông bảo: ‘Các cô đã phát đạo ý,80 có thể tìm thấy niềm vui nơi pháp81 thay vì nơi ngũ dục thế gian.’ “Các Thiên nữ liền hỏi ông: ‘Vui nơi pháp là thế nào?’ “Ông đáp: ‘Là vui thường tin Phật; vui muốn được nghe Pháp; vui cúng dường Tăng; và vui dứt bỏ năm dục; 82 vui quán sát năm uẩn là kẻ thù, vui quán sát bốn đại83 như rắn độc, vui quán sát các nội xứ như xóm hoang; vui tùy thuận hộ trì đạo
______________________________
79 Htr.: “Khiến họ phát tâm hướng đến chính đẳng bồ-đề.”
80 Đạo ý 道意. Htr.: vô thượng chính đẳng giác tâm 無上正 等覺心. VKN: bodhicitta.
81 Pháp lạc 法樂. Htr.: đại pháp uyển lạc 大法苑樂, lạc thú trong vườn Chính pháp. VCS (Đại 38, tr.1062c29): “Đó là Chính thanh tịnh. Nhân bởi pháp này mà sinh lạc, nên nói là đại uyển pháp lạc.” VKN: dharmārāmarati.
82 Htr. có thêm hai lạc: “vui vì vĩnh viễn xuất ly ba cõi; vui vì không còn y trú nơi các sở duyên (không còn lệ thuộc các đối tượng ngoại giới).” VKN: traidhātukān nissaraṇaratiḥ viṣayeṣv aniśritaratiḥ.
83 Htr.: Đối với các giới ; Khuy Cơ (VCS), đây chỉ 18 giới (dhātu), phù hợp ngữ cảnh (uẩn, xứ, giới).

* Trang 138 *
device

ý84; vui thấy mình lợi ích cho chúng sinh; vui kính dưỡng Thầy; vui rộng rãi thực hành bố thí; 85 vui kiên trì tịnh giới;86 vui nhẫn nhục khoan hòa; vui siêng tu thiện căn; vui thiền định không loạn tưởng; vui có tuệ sáng suốt sạch không cáu bẩn;87 vui trải rộng tâm bồ-đề; vui vượt thắng tà ma; vui nhổ gốc phiền não; vui làm thanh tịnh cõi đất Phật; vui tu tập các công đức để thành tựu thân tướng tốt đẹp; vui làm đẹp đạo tràng; vui nghe Pháp thậm thâm mà không sợ hãi; vui trong ba cửa giải thoát; 88 không vui với phi thời tiết; vui gần gũi đồng học, 89 vui tâm không hận thù ác hại giữa những người phi đồng học; vui ngăn ngừa90 bằng
_________________________
84 Đạo ý 道意. Htr.: bồ đề tâm菩提心.
85 Htr.: “Vui lìa keo kiệt trong sự bố thí.” VKN: dāne saṃvibhāgaratiḥ.
86 Htr.: “Vui không khinh nhờn trong sự trì giới.” VKN: śīleṣv aśaithilyaratiḥ.
87 VKN: prajñāyām apagatakleśāvabhāsaratiḥ, vui với sự chói sáng không ô nhiễm trong trí Bát-nhã.
88 Htr.: “Vui hiện tiền quán sát trong ba cửa giải thoát. Vui hiện tiền vươn đến bát-niết-bàn. Vui không phải phi thời mà quán sát.” VKN: trivimokṣamukhaparijayaratiḥ nirvāṇārambaṇaratiḥ bodhi-maṇḍalāṃkāraratiḥ na cākālaprāptiratiḥ.”
89 Htr.: đồng loại sinh 同類生. VCS giải thích: “đồng loại với những người tu phạm hạnh xuất thế.” VKN: sabhāgajana, hạng người cùng loại, cùng tính khí.
90 Hán: tương hộ 將護. VKN: visarjana, xa lánh.

* Trang 139 *
device

hữu tri thức xấu; vui khi ở gần thiện tri thức;91 vui vì tâm hoan hỷ thanh tịnh; 92 vui thực hành vô lượng pháp đạo phẩm. Đó là những niềm vui nơi Pháp của Bồ-tát.’
“Nghe vậy, Ma bảo các thiên nữ: ‘Ta muốn các ngươi cùng ta trở về Thiên cung.’
“Các thiên nữ nói: ‘Ông đã đem chúng tôi cho cư sỹ. Chúng tôi thấy vui nơi Chính Pháp, chẳng còn ham muốn thú vui nơi năm dục.’
“Ma nói với Duy-ma-cật: ‘Cư sỹ hãy buông thả những thiên nữ này. Vì Bồ-tát là người sẵn lòng ban cho tất cả những gì mình có.’
“Duy-ma-cật nói: ‘Ta đã buông bỏ rồi. Ngươi có thể mang họ đi để hết thảy chúng sinh có thể thành tựu ước nguyện như pháp.’
“Các thiên nữ quay hỏi Duy-ma-cật: ‘Ở Ma cung chúng tôi phải sống như thế nào?’
“Duy-ma-cật đáp: ‘Này các cô, có Pháp môn được gọi là Ngọn đèn vô tận; 93 các cô nên học. Ví như,
_______________________
91 Bản La-thập nhảy một đoạn, Htr.: “Vui vì khéo nhiếp thọ trong phương tiện thiện xảo.” VKN: upāye saṃgraharatiḥ.
92 Htr.: “Vui vì ở nơi các pháp mà hoan hỷ tín thọ.” VKN: dharmaprītiprāmodyaratiḥ.
93 Vô tận đăng 無盡燈. VCS: “Vì để sự lưu truyền Chính pháp không bị gián đoạn mà nói Vô tận đăng.” VKN:
akṣayapradīpa. Ckh.: “Có vị Thiên tên là Vô Tận, thường

* Trang 140 *
device

một ngọn đèn có thể được dùng để mồi sáng hàng trăm ngàn ngọn đèn khác, do đó bóng tối sẽ được soi sáng và ánh sáng này sẽ không bao giờ tắt. Cũng vậy, các cô, một Bồ-tát dẫn đường hàng trăm ngàn chúng sinh khiến cho họ phát tâm cầu giác ngộ tối thượng; mà Đạo ý của Bồ-tát không hề tắt ngúm.Cứ mỗi lần thuyết pháp là mỗi lần tăng thêm tất cả pháp thiện cho mình. Cho nên gọi là Vô tận đăng. Dù các cô có ở nơi cung điện của Ma, các cô hãy nên dùng Pháp Vô tận đăng này để dẫn dắt vô lượng con trai, con gái của Trời khiến phát tâm cầu giác ngộ, vừa để báo Phật ân vừa làm lợi chúng sinh.’
“Khi ấy các thiên nữ cúi đầu lễ dưới chân Duy-ma cật rồi theo Ma về cung điện. Trong phút chốc họ biến mất cả. Bạch Thế tôn, Duy-ma-cật thần thông siêu việt, biện tài và trí tuệ như vậy, con không đủ khả năng viếng thăm người”.
4. Phật bảo một người con trai của trưởng giả tên
Thiện Đức: 94
“Ông hãy đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
__________________________
mở cửa Pháp.” Có lẽ đọc là deva (thiên), thay vì dīpa (đèn).
94 Trưởng giả tử Thiện Đức 長者子善德. Htr.: Tô-đạt-đa 達多. Ckh.: Thiện Kiến 善見. VKN: Sudatta-śreṣṭhiputra. Cùng tên với Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍada). VCS: “Tô-đạt-đa, đây nói là Thiện Thí 善施, vì hay giúp đỡ những người cùng
khổ

* Trang 141 *
device

 Thiện Đức đáp:
“Bạch Thế tôn, con không đủ khả năng đi thăm bệnh ông ấy. Vì nhớ lại có lần con tổ chức một đại hội bố thí95 tại nhà thân phụ để cúng dường hết thảy Sa-môn, Bà-la-môn, các ngoại đạo, các người bần cùng, hạ tiện, cho đến cả ăn mày. Đại hội kéo dài đến bảy ngày, và khi kết thúc Duy-ma-cật đã đến nói với con: ‘Ồ, con trai nhà trưởng giả! Đại hội bố thí không phải như ông đã tổ chức. Nó phải là đại hội bố thí pháp. 96 Đại hội bố thí vật chất97 như vậy có ích gì.’
“Con hỏi: ‘Thưa Cư sỹ, thế nào là Hội Pháp thí?’
“Ông đáp: ‘Pháp thí không có trước cũng không có sau. 98 Trong một lúc mà cúng dường hết thảy
________________________
95 Đại thí hội 大施會. Htr.: Đại tự hội 大祠會. CDM, “Thập nói, Đại thí hội có hai loại: 1. Chỉ bố thí chứ không dùng lễ pháp. 2. Tổ chức tế tự theo nghi thức ghi trong các sách ngoại đạo, kiêm cả việc bố thí.” Skt. mahāyajña, đại tế đàn, có 5 loại: bhūtayajña (cúng thức ăn cho mọi loài sinh vật), manuṣyayajña (tế tự cho loài người), pitṛyajña (tế tự tổ tiên), devayajña (tế tự chư thiên), brahmayajña (tế tự Phạm thiên). Đề cập ở đây là loại thứ ba, tế tự để dâng cúng các Tổ phụ.
96 Pháp thí hội 法施之會. Ckh.: Tự pháp từ 祀法祠. Htr.: pháp thí từ hội. VKN: dharmayajña.
97 Tài thí hội 財施會. Ckh.: tư dục từ 欲祠. Htr.: tài thí từ 財施祠. VKN: āmiṣayajña.
98 CDM, Thập nói: “Sự phân phát tài vật phải theo thứ tự kẻ trước người sau. Không thể phát một lần cho tất cả.”

* Trang 142 *
device

chúng sinh. Đó là Đại hội Pháp thí.’
“ ‘Nghĩa là sao?’ - Con hỏi.
“Ông mới đáp: ‘Nghĩa là, bằng bồ-đề mà phát khởi từ tâm; 99 bằng sự cứu độ chúng sinh mà khởi bi tâm; 100 bằng sự duy trì Chính pháp mà khởi hỷ tâm; 101 bằng sự nhiếp thủ trí tuệ102 mà hành xả tâm.
“Bằng sự vượt thắng lòng tham lam bủn xỉn103 khởi bố thí ba-la-mật; bằng sự giáo hóa người phạm giới mà tu giới ba-la-mật; bằng vô ngã mà khởi nhẫn nhục ba-la-mật; bằng sự lìa tướng thân tâm mà khởi tinh tấn ba-la-mật; 104 bằng bồ-đề tướng 105 mà khởi thiền ba-la-mật; 106 bằng nhất
___________________________
99 Htr.: “Bằng hành tướng của Vô thượng bồ-đề mà dẫn phát đại từ.” VKN: bodhyākārābhinirhṛtā mahāmaitrī.
100 Htr.: “Bằng hành tướng giải thoát của các hữu tình mà dẫn phát đại bi.” VKN: saddharmasaṃgrahābhinirhṛtā mahākaruṇā, đại bi được dẫn phát bởi sự nhiếp thọ Chính pháp.”
101 Htr.: “Bằng hành tướng tùy hỷ của các hữu tình mà dẫn phát đại hỷ.”
102 Htr.: “Bằng hành tướng nhiếp thủ của trí mà nhiếp thọ Chính pháp.”
103 Htr.: “Bằng hành tướng tịch tĩnh điều phục…” VKN: śāntadāntābhinirhṛtā dānapāramitā.
104 Lth. & Htr. giống nhau. Xem cht. dưới.
105 Htr.: “Vì hành tướng của giác chi tối thắng… ”
106 Lth. & Htr., đồng. VKN: bodhyaṅgābhinirhṛtā vīryapāramitā; kāyacittavivekābhinirhṛtā dhyānapāramitā, hành giác chi dẫn phát tinh tấn ba-la-mật; viễn ly thân tâm

* Trang 143 *
device

thiết trí107 mà khởi bát-nhã ba-la-mật.
“Bằng sự giáo hóa chúng sinh mà khởi Không; bằng sự không xả hữu vi 108 mà phát khởi Vô tướng; bằng sự thị hiện thọ sinh109 mà khởi Vô tác. 110
“Bằng sự hộ trì chính Pháp mà khởi phương tiện lực; vì để cứu độ chúng sinh mà khởi bốn nhiếp pháp; 111 bằng sự kính thờ tất cả112 mà quyết tâm quét sạch kiêu mạn; ở nơi thân, mạng, tài sản mà khởi ba pháp chắc thật;113 ở trong sáu niệm114
_____________________
dẫn phát thiền ba-la-mật.
107 Htr.: “Bằng hành tướng của sự nghe trí nhất thiết trí.”
108 Htr.: “Bằng hành tướng sửa trị hết thảy hữu vi.” VKN: saṃskṛtaparikarmābhinirhṛtā.
109 Htr.: “Bằng hành tướng của sự thọ sinh do cố tác ý… ” VKN: saṃcintyopapattyabhinirhṛtā, được dẫn phát bởi sự biến hóa sinh bằng cố ý. Tức Bồ-tát thọ sinh do ý nguyện chứ không do nghiệp lực
110 Htr.: vô nguyện.
111 Htr.: “Bằng hành tướng của sự khéo léo tu tập bốn nhiếp sự mà dẫn phát mạng căn.” VKN: saṃgraha vastvabhinirhṛtaṃ jīvendri-yaṃ.
112 Htr.: “Bằng hành tướng kính thờ như tôi tớ đối với hết thảy chúng sinh.”
113 Htr.: “Bằng hành tướng đem những gì không bền chắc mà đổi lấy tất cả những gì bền chắc.” VCS (tr.66c28): “Tài sản thuộc sinh tử hữu lậu là thứ không bền chắc mà đổi lấy (mậu dịch) tài sản bền chắc là xuất thế vô lậu.”
114 Htr.: sáu tùy niệm (Skt. saḍ anusmṛtayaḥ). Tức niệm

* Trang 144 *
device

khởi pháp tư niệm; ở nơi sáu điểm hòa kính mà khởi tâm chất trực; 115 vì chân chính tu hành pháp thiện mà khởi tịnh mạng; 116 vì sự hoan hỷ thanh tịnh của tâm117 mà khởi lên sự gần gũi Hiền Thánh trí; bằng sự không ghét bỏ người xấu mà khởi lên sự chế ngự tâm; 118 vì pháp xuất gia mà khởi thâm tâm; 119 bằng như thuyết mà hành 120 mà khởi đa văn; vì pháp vô tránh 121 mà phát khởi đời sống nhàn tĩnh; 122 bằng thú hướng Phật đạo mà phát
___________________________
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới và niệm chư thiên.
115 Htr.: “Bằng hành tướng của sự tu tập các pháp tịnh diệu mà dẫn phát ý lạc.” VKN: saṃrañjanīyadharmā bhinirhṛto’dhyāśaḥ, bằng pháp hòa kính mà dẫn phát ý chí hướng thượng (tăng thượng ý lạc).
116 Tịnh mạng 淨命. VKN: ājīvapariśuddha, sự trong sạch trong cuộc sống (mưu sinh).
117 VKN: prasādaprāmodyasevana, thân cận với niềm hoan hỷ của tâm tịnh tín.
118 VKN: anāryeṣu pratighātābhinirhṛtā cittanidhyapti, bằng sự ức chế giữa những hạng phi thánh mà dẫn phát tâm tư quyết trạch.
119 VKN: pravrajyābhinirhṛto ‘dhyāśayaḥ, bằng sự xuất gia mà dẫn phát ý chí hướng thượng.
120 Htr.: “Vì hành tướng của sự thường tu tập trung đạo…”
121 Vô tránh pháp. Skt. araṇadharma. La-thập: “Với vật không nghịch; với pháp không trái, gọi là vô tránh.”
122 Không nhàn xứ 空閑處. Htr.: a-luyện-nhã xứ 阿練若處. VKN: araṇyavāsa, lâm cư, sống ẩn dật trong rừng.

* Trang 145 *
device

khởi đời sống độc cư; 123 vì để cởi trói chúng sinh mà phát khởi các giai đoạn tu hành;124 vì để được các hình tướng tốt đẹp và làm thanh tịnh đất Phật mà phát khởi nghiệp phước đức;125 vì để biết tâm niệm hết thảy chúng sinh để tùy nghi nói Pháp mà phát khởi nghiệp của trí; 126 vì để hiểu rõ các pháp vốn không thủ cũng không xả, thâm nhập cánh cửa nhất tướng, 127 mà phát khởi nghiệp của tuệ; 128 vì để tận diệt mọi phiền não, mọi chướng ngại và bất thiện pháp, mà phát khởi tất thảy thiện nghiệp; vì để chứng nghiệm tất cả trí tuệ và tất cả thiện pháp mà phát khởi các pháp trợ Phật đạo.129
“Hết thảy những điều trên, này Thiện nam tử, là Đại hội Pháp thí. Nếu Bồ-tát an trú nơi Đại hội
______________________
123 Hán: yển tọa 宴坐. Skt. pratisaṃlayana.
124 Tu hành địa 修行地. Htr.: du-già sư địa 瑜伽師地, chỉ trình độ tu tập. VKN. yogācārabhūmi.
125 Htr.: quảng đại diệu phước tư lương 廣大妙福資糧. VKN: puṇyasaṃbhāraḥ, tư lương của phước.
126 Trí nghiệp 智業. Htr.: quảng đại diệu trí tư lương 廣大妙 智 資 糧 (chất liệu cho trí quảng đại). VKN: jñānasaṃbhāraḥ, tư lương của trí.
127 Nhập nhất tướng môn . Htr.: nhất chính lý môn ngộ nhập 一正理門悟
128 Tuệ nghiệp 慧業. Htr.: quảng đại diệu trí tư lương 廣大 妙 慧 資 糧 (chất liệu cho tuệ quảng đại). VKN: prajñānasaṃbhāraḥ, tư lương của bát-nhã.
129 Tức các bồ đề phần, Skt. bodhipakṣyadharma.

* Trang 146 *
device

Pháp thí, thì đó là Đại thí chủ, và cũng là ruộng phước cho hết thảy thế gian.’
“Bạch Thế tôn, khi Duy-ma-cật giảng Pháp này xong, trong chúng Bà-la-môn có hai trăm người lắng nghe đã phát tâm tầm cầu giác ngộ tối thượng. Bản thân con lúc đó cảm thấy tâm lắng đọng, thanh tịnh, tán thán là chưa từng có. Con bèn làm lễ bái tạ dưới chân ông và cởi ra vòng trân châu vô giá dâng tặng ông. Nhưng ông không nhận. Con nói: ‘Thưa Cư sỹ, xin ngài nhận lấy tặng phẩm này rồi muốn sử dụng sao tùy ý.’ Ông lấy vòng trân châu, chia ra hai phần, cho người ăn xin tồi tàn nhất một phần trong hội này; phần kia cho đức Nan Thắng Như Lai. 130 Hết thảy chúng hội hiện diện đều có thể nhìn thấy Nan Thắng Như Lai trong quốc độ Quang minh. 131 Lúc ấy họ cũng thấy phía trên đức Phật kia nửa vòng trân châu ấy biến thành đài báu trang nghiêm trên bốn cột trụ, bốn mặt đều được trang nghiêm, rõ ràng không che khuất nhau.
________________________
130 Nan Thắng Như Lai 難勝如來. Ckh.: Đầu-ba-biến (Hán dịch Cố Thọ) 頭波變 (漢言固 受 ). VKN: Duṣprasaha
tathāgata.
131 Quang minh quốc độ 光明國土. Ckh.: Viêm khí 炎氣. Htr.: Dương diệm thế giới 陽焰世界. VCS: “Thế giới hư huyễn, cho nên nói là Dương diệm.” VKN: Marīci lokadhātu.

* Trang 147 *
device

“Sau thị hiện biến hóa thần kỳ này, Duy-ma-cật nói: ‘Ai bố thí cho người hành khất nghèo hèn nhất với tâm bình đẳng, là hành động không khác với phước báo của Như Lai, vì nó xuất phát từ lòng đại bi không mong đáp trả. Đó chính là viên mãn Pháp thí vậy.’
“Sau khi chứng kiến thần lực và nghe giảng pháp của Duy-ma-cật, người hành khất thấp hèn nhất trong thành cũng đã phát tâm cầu giác ngộ tối thượng. Cho nên con không đủ khả năng đi thăm bệnh Duy-ma-cật.”
Các Bồ-tát từng mỗi vị trình bày những lần gặp Duy-ma-cật như vậy, đều nói không có khả năng đi thăm bệnh ông. *
__________________________
* Bản Lth., hết quyết thượng. Htr., hết quyển 2.

* Trang 148 *
device

 
Duy-Ma-Cật Sở Thuyết