LOGO VNBET
đợt  khủng  hoảng,  để rồi  cuối  cùng  đặt  nhận  thức trước, hay  trong, một  thực tại vô ngôn, hoàn  toàn im lặng.
Nguyên  lý bất nhị, mà cũng  là  thực tại bất nhị,  là giải  thoát bất tư  nghị,  như vậy  là  cánh cửa  giao thông cho Bồ-tát qua lại giữa Niết-bàn và sinh tử. Nếu không được  trang bị bằng nguyên  lý bất nhị, Bồ-tát sẽ không đủ nghị lực và dũng mãnh để  trụ vững  trên bồ-đề  tâm, dù chưa đoạn tận phiền não. Do  đã  thấu  triệt  nguyên  lý bất  nhị mà  thiên nữ, hiện thân như là thị nữ của Duy-ma-cật, đã đề xuất một  tiền đề khiến  cho ngài Xá-lợi-phất phải sửng sốt: đam mê dục vọng, thù hận, và vô minh, chính là chân tính của giải thoát.
IV. THỰC TIỄN HÀNH ĐẠO
Trong  Duy  ma  kinh  huyển sớ,  Đại sư  Trí  Khải phân  tích nội  dung của  kinh  theo năm lớp  huyền nghĩa,  trong  đó  huyền  nghĩa  thứ  ba,  tông  chỉ của kinh, là nhân và quả của Phật quốc bất khả tư nghị. Bởi  vì  ý  nghĩa Phật  quốc  được  giới  thiệu  ngay  ở phẩm tựa,  theo bản dịch của  Huyền  Trang,  mà theo bản dịch của Cưu-ma-la-thập thì có tiêu đề là phẩm  Phật  quốc.  Theo  đó, cư sỹ Bảo  Tích (Ratnarāśi),  trưởng đoàn của năm  trăm cư sỹ,  sau khi  cúng dường  và xưng  tán  Phật,  bày tỏ  ước nguyện muốn nghe Phật nói về sự thanh tịnh quốc độ Phật và hành động của Bồ-tát để thành tựu quốc độ thanh tịnh ấy.

* Trang 45 *
device

Ở đây, căn cứ  theo  thỉnh cầu của cư sỹ Bảo Tích, chủ đề của kinh có  thể nói một cách vắn tắt, gồm hai khía cạnh: tịnh Phật quốc độ,  thành tựu chúng sinh.
Nhưng,  Phật  quốc  ở  đây cần  được  hiểu  như  thế nào? Nói  theo ý nghĩa tổng quát nhất, đó  là phạm vi  mà  trong  đó  giáo  pháp của  Phật  được lưu truyền. Hoặc nói, đó là môi trường chịu ảnh hưởng giáo  hóa của một  đức  Phật  nhất  định  trong một thời gian nhất định. Hoặc nói  rõ hơn, và gọn hơn, đó là thế giới của Phật.  
Theo ý nghĩa  tôn giáo, người  ta nói rằng một, và duy nhất chỉ có một, thế giới là một tác phẩm sáng tạo của một  đấng Sáng Tạo Tối Cao. Đấng  Sáng Tạo ấy có quyền lực vô biên và  tuyệt đối để  sáng tạo ra một thế giới theo ý muốn của mình, thì cũng có quyền lực như vậy để hủy diệt  thế giới  theo ý muốn. Ý nghĩa ấy phản ánh sự thành lập một quốc gia và một Nhà nước quân chủ. Vua là sở hữu chủ của đất nước. Đất nước là của vua.
Phật không tự nhận Ngài là đấng Sáng Tạo, mà chỉ là vị Đạo sư của trời và người. Phật không phải là sở hữu chủ của thế giới, thế thì, làm sao có thể nói là có thế giới của Phật?
Để  có  thể  nhận  thức  rõ  ý  nghĩa  này,  chúng  ta không  thể  không  có một  ít  khái  niệm về sự  hình thành một  quốc  gia, sự  xuất  hiện của Nhà nước, trong lịch sử  xã hội  loài  người,  theo  quan  điểm Phật giáo, nói một cách tổng quát.

* Trang 46 *
device

Tất nhiên, ý  thức về sự tồn tại của một quốc gia, sự xuất hiện một cơ cấu Nhà nước, không phải là ý thức  tiên nghiệm. Trong ý  thức  tôn giáo, đó  là sự giao ước giữa đấng Sáng Tạo và con người. Trong quan  điểm  xã hội học,  đó  là sự  giao  ước  giữa người và người.
Xã hội  loài  người  và  các  định  chế của  nó  là một hình thái sinh hoạt ý thức trong một giai đoạn nhất định trong toàn bộ quá trình sinh thành và hủy diệt của thế giới. Vì vậy, khi luận về ý nghĩa tồn tại của xã hội và các định chế của nó, không thể không đề cập  đến  nguồn gốc của  thế  giới,  và  như một hệ luận, nguồn gốc của loài người.
Đức Phật đã nhiều lần từ chối trả lời về nguồn gốc và sự hình  thành của  thế giới. Sự từ chối ấy hoặc được  giải  thích  là  do lập  trường  thực dụng,  hoặc do  giới hạn  nhận  thức  luận.  Thế  nhưng,  khi cần giải thích nguồn gốc các định chế xã hội, mà quan niệm tôn giáo đương thời cho thiên định, đức Phật đã nói  rõ về nguồn gốc  và quá  trình  tiến hóa của con người và xã hội con người.
Nếu  đọc  thẳng  vào  nhiều  kinh  điển  Phật  giáo, người  ta có cảm tưởng  thế giới quan Phật giáo bị bao  phủ bởi lớp sương mù  huyền  thoại  dày  đặc. Nhưng, cũng  nên  hiểu rằng, lớp  huyền  thoại  ấy không phải đơn  giản  là hư cấu của ý  thức, mà  là một  hình  thái  ngôn  ngữ. Sự  thật  hay  huyền  thoại tùy  thuộc  vào  cách  đọc,  hay  cách  giải mã,  ngôn ngữ  ấy.  Trong  nhận  thức  luận  chung của  các

* Trang 47 *
device

 khuynh hướng tư tưởng  Phật  giáo,  không hề  có khởi điểm  và tận  cùng của  thời gian, cũng không hề  có  tâm  điểm  và  biên  giới của  không  gian, mà chỉ có tận cùng giới hạn của trí năng. Tất nhiên là trí năng của nhận thức duy lý, dù là nhận thức triết học  hay  nhận  thức  khoa học.  Trong  khoảng  thời gian và không gian vô cùng và vô tận ấy, nói về sự xuất hiện và tồn tại của một  thế giới,  trong vô số thế  giới  khác, cũng  có  nghĩa  là  đặt  thế  giới  vào một hệ quy chiếu đặc biệt nào đó.  
Chúng ta cần đứng trên một nền tảng tư duy về thế giới quan như thế để phân tích những vấn đề chính trị và xã hội trong các truyền thống và xu hướng tư tưởng khác nhau của Phật giáo. Trong quá trình tiến hóa, từ một vi sinh vật tồn tại và  phi  hành  trong  ánh  sáng, 21 xuất  hiện  vào một thời  điểm  nhất  định  trong một  chu kỳ  thành-trụ-hoại-không của thế giới, con người cũng chỉ là một sinh vật  trong  các  sinh vật  khác,  nhưng  do  thừa hưởng kết quả quá khứ mà bẩm sinh với một hữu thể tồn tại được phát triển dần thành hai yếu tố vừa độc lập vừa bất phân là danh và sắc. Trên cơ sở đó, ý  thức  được  phát  triển  càng  lúc  càng  cao  do vừa lấy ngoại giới  làm đối tượng vừa phản  chiếu  trên chính nó như  là  chuỗi tồn tại  liên tục của một tự
__________________                                          
21 Aggañña-sutta (D. iii, tr. 84).

* Trang 48 *
device

ngã.
Cho  đến  khi  ý  thức về sự tồn tại của một tự  ngã được  hình  thành,  con  người tự  tách mình  ra khỏi thế giới quanh mình, phân biệt những gì  thuộc về ta  và  những  gì  không  thuộc về  ta. Cũng  như  để tăng lớn thể tích của thân xác, con người, như các sinh vật khác, cần hấp thu các dưỡng chất từ ngoại giới; cũng vậy, để tăng lớn tự ngã, con người cần chinh phục và chiếm hữu. Từ đó, hình thành một ý thức về sự tích lũy. Tích lũy như vậy không phải là một khái niệm tiên thiên, không phải là ý thức tiên nghiệm, mà  là một  hình  thái  đặc  biệt của  ý  thức xuất hiện vào một  thời điểm có ý nghĩa  trong quá trình tiến hóa. 
Tích lũy tất  nhiên dẫn  đến  xung  đột, cạnh  tranh. Mâu  thuẫn  xã hội bắt  đầu,  trật tự cũ bị  đảo lộn. Một định  chế mới cần được  thiết lập để điều hòa những mâu  thuẫn,  xung  đột,  do hệ  quả của cạnh tranh.  Chính  quyền  đầu  tiên  được gọi  theo  tiếng Pāli  là  Mahāsammato,  được bầu  lên bởi  đại chúng.22 Người đứng đầu cơ cấu mới này được gọi là Rājā, mà sau này  thường được hiểu  là vua, hay người cai trị. Nhưng theo định nghĩa của Pāli, rājā có  nguồn gốc từ  động từ  rājati,  “nó  làm  vui
____________________                                           
22
Aggañña-suttanta  (D.  iii.  93):  Mahājana-sammato  ti kho... mahā-sammato.

* Trang 49 *
device

 lòng”.23 Như vậy, chính quyền hay vua là trọng tài xã hội,  được bầu  lên  và  được  ủy  quyền  điều  hòa những mâu thuẫn xã hội.
Song song với hình  thái chính quyền nguyên  thủy như  trên, các kinh  luận còn nêu  lên một hình  thái chính  quyền  khác,  đứng  đầu  là một Chuyển  luân vương  (Cakravartin),24 không  phải  do  dân  chúng bầu  lên để bảo vệ quyền lợi của họ, mà do phước báo  tích lũy từ  nhiều  đời của vị  ấy. Cả  hai  quan điểm  cùng  được lưu  truyền  trong một hệ  Thánh điển. Nhưng theo cách nhìn từ lập trường xã hội và sử quan duy lý, cả hai đại diện cho hai thời kỳ phát triển  khác  nhau của tư tưởng  Phật học về  nguồn gốc và hình thái chính quyền.  
Hình thái chính quyền Chuyển luân vương là quan niệm,  và cũng  là  lý tưởng  phổ  biến,  trong cả  hai truyền  thống Đại  và  Tiểu  thừa. Đó  là một  chính quyền đức  trị,25  và nhân dân được giáo hóa  thuần thiện, với  đầy  đủ mười  phạm  trù  đạo  đức,  hay mười  nghiệp  đạo  thiện.  Lý tưởng về một  chính quyền đức trị và một xã hội đạo đức phản ánh ước mơ của các Phật tử vào các  thời kỳ  suy  thoái của
___________________                                           
23 Ibid., dhammena pare rañjetī ti kho... rājā.
24 Cf. Cakkavatti-sīhanāda-suttanta, iii. 58ff.
25 Ibid., tr. 59: ... ahosi cakkavatti dhammiko dhammarājā...so  imaṃ  paṭhaviṃ sāgarapariyantaṃ  adaṇḍena  asatthenadhammena abhivijiya ajjhāvasi.

* Trang 50 *
device

xã hội. Vả lại, về mặt  tiêu cực,  như  được  thấy trong  nhiều  kinh  luận,  trong  nhiều  truyện  truyền kỳ, sự suy thoái của con người về mặt đạo đức, và kéo theo đó là sự suy thoái về mặt thể chất, rồi như là hậu quả tất nhiên của cả hai  là suy  thoái xã hội toàn  diện,  là  những  xu hướng  đương  nhiên  trong một giai đoạn  tiến hóa của  thế giới. Tất nhiên, đó không  phải  là  tiến  hóa  luận  theo  chiều  tuột dốc, cũng  không  phải  theo  chiều hướng  thượng.  Tuột dốc  hay hướng  thượng  tùy  theo từng  thời kỳ; chúng nối tiếp nhau lên xuống như những đợt sóng trong đại dương sinh tử bao la.
Trong Duy-ma-cật,  và  trong  nhiều  kinh  điển Đại thừa khác, hình ảnh một quốc gia lý tưởng, và nói rộng  ra  là một  thế giới  lý tưởng,  là hình  ảnh một Phật quốc. Dù  theo nghĩa đen  thì cũng không  thể hiểu đó là một quốc gia Phật giáo. Một cách chính xác, từ ngữ ấy cần được diễn theo hai nghĩa: quốc gia  Phật  tính  và  quốc  gia  Phật  hóa. Cả  hai tổng hợp thành một ý nghĩa duy nhất: tư tưởng tịnh độ. Nhưng cũng cần phân biệt tịnh độ  tha lực và tịnh độ Bồ-tát. Tịnh  độ  tha lực  nhắm mục  đích  thoát khỏi  thế  giới  Ta-bà  được  coi  là uế  trược  này  để sinh về một thế giới tốt đẹp hơn. Tịnh độ Bồ-tát là thế giới lý tưởng mà Bồ-tát xây dựng. Bồ-tát trước hết  sinh  ra  trong một  thế  giới xấu  xa,  thoái  hóa. Bằng  ý  chí, bằng  hành  động,  “năng  hành  nan hành,”  làm  những  việc  khó  làm, Bồ-tát  biến  đổi thế giới ô  trược ấy  thành tịnh độ. Vì rằng, tự bản chất, hết thảy các pháp vốn thanh tịnh.

* Trang 51 *
device

 Tự bản chất, hết thảy các pháp đều thanh tịnh. Đó là tiền đề căn bản cho tư tưởng tịnh độ Bồ-tát. Đây không  phải  là điều mới mẻ  và  riêng biệt của Đại thừa. Trong A-hàm và Nikāya, đức Phật  trước khi nhập Niết-bàn đã nhiều lần ca ngợi vẻ đẹp những nơi Ngài đi qua, xác nhận ý nghĩa rằng, với những ai đã giác ngộ thì thế giới này luôn luôn được nhìn thấy  là  thanh tịnh. Đây cũng  là  điều  được  khẳng định trong phẩm Phật quốc.
Cõi tịnh độ mà Bồ-tát phát nguyện xây dựng, nói một cách tổng quát, có những đặc điểm như dưới đây.
Về thiên nhiên, đó là thế giới không có những vật chất xấu xa, dơ bẩn và hôi  thối. Người với người sẽ không bị gián cách nhau bởi không gian vật lý, do  đó sự  giao  thông  và  giao  tiếp  không hề bị chướng ngại. Sự biến đổi khuôn mặt  thế giới như vậy  là do sự cải hóa tư tưởng của chúng  sinh tồn tại  trong  đó. Nếu  tâm  chúng  sinh  là một tập hợp thiện và ác lẫn lộn,  thì  thế giới vật chất mà chúng sống trong đó cũng gồm đủ các thứ đẹp và xấu. Vì, như Phật đã nói: “Chúng sinh là kẻ thừa tự những hành  vi mà  nó  đã  làm  trong  quá  khứ”. Nói  cách khác, với những hành vi được  thúc đẩy bởi  tham, chúng  sinh sẽ  sáng tạo  ra  những  thứ xấu  xa,  hôi thối mà  chính  nó  là kẻ  thừa hưởng. Bằng  những hành vi bị chi phối bởi thù hận, chúng sinh sẽ sáng tạo những vật chất chướng ngại để  làm gián  cách người với người.

* Trang 52 *
device

Thiên  nhiên  phản  ánh  hình  thái  ý  thức. Cho nên, một  thế giới được cấu  thành bởi  thiên nhiên xinh đẹp  là  cõi sống của  các  loại  chúng  sinh  thuần thiện, bao gồm mười nghiệp đạo thiện. Trong một quốc gia đứng đầu là Chuyển luân vương, thì nhân dân trong đó cũng thuần thiện. Điểm khác biệt với chúng  sinh  trong tịnh  độ Bồ-tát  là,  trong  cõi  này ngoài sự  thành tựu mười nghiệp đạo  thiện,  chúng sinh  thảy  đều  được  giáo  hóa Bồ-đề  tâm, hướng ước nguyện đến cứu cánh là thành Phật.
Một  điểm  đặc  biệt nữa  là,  trong tịnh  độ Bồ-tát, không tồn tại một quốc vương hay một hình  thức Nhà nước hay chính quyền. Duy chỉ có Phật hiện hữu như là vị Đạo sư giảng dạy chân lý chứ không có chức năng cai trị. Chúng ta đã biết rằng, cơ cấu chính quyền hay hình thái Nhà nước chỉ xuất hiện khi mà mâu thuẫn xã hội tiến đến mức độ gay gắt. Xung  đột  và  mâu  thuẫn  diễn  ra  trong  quá  trình cạnh tranh để tích lũy. Tích lũy được thúc đẩy bởi tham. Tham là yếu tố tăng trọng bản ngã.
Không phải tất cả chúng sinh  trong tịnh độ Bồ-tát đều đã diệt  trừ ngã chấp, đạt đến  trình độ vô ngã. Nhưng do bởi không tồn tại những  chất  liệu nuôi dưỡng,  nên  tham  phiền  não  chìm  sâu dưới  đáy biển ý  thức, không phát huy  tác dụng để chi phối con người. Nếu không được  thúc đẩy bởi  tham, ý niệm tích lũy không tồn tại. Không tích lũy, do đó không cạnh tranh, và xã hội không bị cuốn hút vào những xung đột mâu  thuẫn. Trong  trường hợp đó, sự tồn tại của một cơ cấu  chính  quyền  là  không

* Trang 53 *
device

cần thiết, và không hợp lý.  
Nhưng, tịnh  độ Bồ-tát  không  phải  là  ước  nguyện chủ  quan của Bồ-tát. Vì  đó  là môi  trường tồn tại của những chúng sinh có chung những hình thái ý thức giống nhau, do đó tịnh độ Bồ-tát là công trình tập thể. Chừng nào chúng sinh chưa được giáo hóa đầy  đủ  để tự mình  xác lập  Chính  đạo,  chừng  ấy Bồ-tát vẫn  chưa  thể  thành tựu  viên  mãn hạnh nguyện “tịnh Phật quốc độ”. Cho nên, để tịnh Phật quốc độ, Bồ-tát đồng thời cũng nỗ lực để thành tựu chúng  sinh.  Trả lời  câu hỏi của Bảo  Tích về  ý nghĩa tịnh  độ của Bồ-tát,  đức  Phật  nói:  “Chúng sinh  loại  là tịnh  độ của Bồ-tát”. Và  sau  đó Ngài nêu ví dụ: Một người có  thể xây dựng  tùy ý cung điện  lâu  đài  trên  khoảng  đất  trống,  không  có  các thứ chướng ngại  làm vướng bận. Nhưng người đó không  thể dựng  các  thứ  hoặc bằng gỗ  hoặc bằng đất giữa hư không. Chúng  sinh  chính  là nền tảng để Bồ-tát xây dựng tịnh độ.  
Nói cách khác, Bồ-tát hành đạo để tịnh Phật quốc độ vì biết rằng tất cả các pháp bản  lai  thanh tịnh. Đó  là  Đại  trí.  Đồng  thời Bồ-tát cũng  thành tựu chúng sinh, vì mục đích hành đạo của Bồ-tát  là vì muốn đem sự an lạc đến cho tất cả. Đó  là Đại bi. Cỗ  xe Đại  thừa  luôn  luôn  phải  được vận  chuyển bằng hai bánh: Đại trí và Đại bi.

* Trang 54 *
device

 
Duy-Ma-Cật Sở Thuyết