LOGO VNBET
Hòa Thượng
THÍCH PHƯỚC TRÍ
( 1867 – 1932 )
Tăng Cang Tam Thai-Linh Ứng – Ngũ Hành Sơn
 
Hòa thượng thế danh Nguyễn Văn Diệu, sinh giờ Hợi ngày 19 tháng 10 năm Đinh Mão (1867), tại xã Mỹ Khê, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. (nay là quận An Hải, thành phố Đà Nẵng.) Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Quang pháp danh Ấn Ngôn, thân mẫu là cụ bà Đỗ Thị Huệ, pháp danh Ấn Lan. Song thân của Ngài đều là đệ tử của tổ Chương Lý Trí Quang, khai sơn chùa Mỹ Khê (nay cải hiệu lại là chùa Phước Mỹ)-trụ trì tổ đình Cổ Lâm huyện Đại Lộc-Quảng Nam.
Thuở thiếu thời, vì mến mộ chốn thiền môn u tịch nên Ngài phát nguyện xuất gia tu đạo. Ngài đến chùa Linh Ứng đảnh lễ Hòa thượng Chí Thành xin được làm đệ tử. Thấy Ngài căn tánh sáng lẹ nên Tổ hoan hỷ thu nhận và ban cho pháp danh  Chơn Pháp, tự Đạo Diệu, nối pháp đời 40 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh.
Với tánh tình nhòa nhã, nghiêm trang, tinh tấn trong việc tu học nên Ngài được Bổn sư cho đăng đàn

* Trang 77 *
device

 thọ giới Tỳ Kheo. Sau khi thọ giới, Ngài chuyên hành trì giới luật, đạo hạnh tăng trưởng vượt bậc nên được Bổn sư phú pháp hiệu là Phước Trí đại sư, thọ ký cho Ngài về sau là bậc đầy đủ phước đức và trí tuệ để hoằng dương chánh pháp.
Năm Mậu Tuất (1898), Thành Thái năm thứ 10, Ngài ra Huế khai sơn chùa An Hội tại xã Phú Thượng, huyện Phú Vang, nay là phường Phù Cát, thành phố Huế. Về sau, Ngài vào lại Quảng Nam và giao chùa An Hội cho đệ tử Như Giác hiệu Giác Ngộ làm trụ trì.
Năm Giáp Thìn (1904), niên hiệu Thành Thái thứ 16, Ngài được triều đình bổ nhiệm làm trụ trì chùa Linh Ứng, thế cho ngài Hòa thượng Từ Nhẫn sang trụ trì chùa Tam Thai. Cũng trong giai đoạn triều Thành Thái, Ngài được triều đình phong chức Tăng cang, ban cho giới đao độ điệp.
Năm Mậu Thân (1908), Duy Tân năm thứ 2, sau 4 năm trụ trì tại Linh Ứng thì Ngài được nghỉ theo biên giảm của triều đình. Vì thế, có một thời gian Ngài về trụ trì chùa Mỹ Khê tại quê nhà.
Năm Canh Tuất (1910), Hòa thượng Vĩnh Gia khai đàn truyền giới tại chùa Phước Lâm-Hội An, Ngài được thỉnh làm Đệ nhất dẫn thỉnh tại giới đàn này.

* Trang 78 *
device

Năm Quý Sửu (1913), Duy Tân năm thứ 7, Ngài chứng minh cho dân làng trùng tu đình làng Mỹ Khê.
Năm Mậu Thìn (1928), niên hiệu Bảo Đại thứ 3, Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng tại giới đàn chùa Sắc tứ Từ Vân-Đà Nẵng. Trong hàng giới tử đắc pháp với Ngài có Hòa thượng Thích Trí Thủ, một trong những cao tăng của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.
Năm Kỷ Tỵ (1929), niên hiệu Bảo Đại thứ 4, Ngài lại được chư sơn cung thỉnh làm Đàn đầu thí giới cho các giới tử tại giới đàn chùa Phước Lâm-Hội An.
Năm Tân Mùi (1931), niên hiệu Bảo Đại thứ 6, Ngài ra Huế trùng tu lại chùa An Hội. Với uy tín đức độ của Ngài nên chùa An Hội được ban biển ngạch Sắc tứ vào ngày mồng 7 tháng 7 cùng năm.
Năm Nhâm Thân (1932), niên hiệu Bảo Đại thứ 8, vào ngày mồng 2 tháng Chạp, Ngài ân cần phú chúc mọi sự cho môn đồ và thị tịch, hưởng thọ 66 tuổi.
Hòa thượng Thích Phước Trí là một trong những cao tăng của Phật giáo Quảng Nam thời cận đại. Đạo nghiệp của Ngài vẫn được các đệ tử kế thừa và tiếp nối. Đệ tử xuất gia và cầu pháp với Ngài rất đông, nhưng nổi tiếng nhất là ba vị được phú pháp bằng chữ Tôn mà thời nhơn gọi là Tam Tôn của Ngũ Hành Sơn. Đó là:

* Trang 79 *
device

Hòa thượng ThíchTôn Nguyên: Trụ trì chùa Linh Ứng-Ngũ Hành Sơn, Hòa thượng Thích Tôn Bảo: Trụ trì chùa Vu Lan-Đà Nẵng, Hòa thượng Thích Tôn Thắng: khai sơn chùa Phổ Đà-Đà Nẵng. Các vị này đã nối tiếp ngọn đèn chánh pháp nơi Ngài, góp phần rất lớn vào công cuộc chấn hưng Phật giáo tại tỉnh nhà.

* Trang 80 *
device

 
Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng