LOGO VNBET
Hòa Thượng
THÍCH PHÁP LẠC
( 1904 – 2001 )
Khai Sơn Chùa Pháp Bảo – Mỹ Tho
 
Hòa thượng thế danh Trần Công Khuê, sinh ngày 13 tháng Giêng năm Giáp Thìn (28/2/1904) tại làng Tha La, xã Bất Nhị, tổng Đa Hòa, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Nay là xã Điện Phước, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thân sinh Ngài là cụ ông Trần Công Trác (tức Xã Xước) và thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Cải. Ngài là người anh cả trong gia đình gồm 7 người con 5 trai, 2 gái.
Vốn sinh trưởng trong một gia đình trung lưu trong vùng nên thuở nhỏ Ngài được thân phụ cho học chữ Nho, sau đó học quốc Ngữ và Pháp văn tại trường tỉnh Quảng Nam. Năm Ngài tròn 17 tuổi thi đậu bằng Tiểu học tiếng Pháp. Năm 20 tuổi, Ngài được song thân tính chuyện trăm năm với bà Nguyễn Thị Toại tại xã Điện Phong.
Sinh ra trong giai đoạn đất nước bị đô hộ nên Ngài cảm nhận được thân phận của người dân nô lệ. Lúc bấy giờ các phong trào yêu nước nổi dậy khắp các

* Trang 321 *
device

tỉnh miền Trung, đặc biệt tại Quảng Nam, chiếc nôi của các cuộc cách mạng và cũng là nơi sản sinh ra những nhà yêu nước lỗi lạc như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp v.v… Phong trào Duy Tân đã khơi dậy tinh thần yêu nước trong người thanh niên trẻ Trần Công Khuê và Ngài bắt đầu tham gia các hoạt động cứu quốc.
Ngày 24 tháng 3 năm 1926, nhà chí sĩ Phan Chu Trinh qua đời, khắp nơi trong nước đều làm lễ truy điệu. Tại Quảng Nam, Ngài là một thành viên tích cực nên bị chính phủ Pháp truy bắt. Nhờ có người mật báo nên Ngài trốn thoát vào Nam một thời gian.
Năm Quý Dậu (1933), năm Ngài tròn 29 tuổi, cảm thấy nhàm chán đời sống thế tục và muốn tìm cầu con đường giải thoát, Ngài từ giã gia đình ngược xuôi từ Huế vào miền Nam để học đạo. Ban đầu Ngài thực tập tu hành theo đạo Cao Đài trong suốt 10 năm trường. Trong khoảng thời gian này, không biết bao nhiêu nghịch cảnh xảy đến nhưng Ngài một lòng tâm niệm: học đạo phải chịu gian nan, có gian nan thì mới thấy được tâm đạo mình như thế nào.
Sau hơn 10 năm ly hương, vào khoảng năm 1944, Ngài trở về lại quê nhà. Đến cách mạng mùa thu năm 1945, Việt Nam độc lập, Ngài tham gia phong trào

* Trang 322 *
device

cách mạng và được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp từ 1956 đến 1954, Ngài là Bí thư xã Tiên Châu, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.
Sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết, từ năm 1954 đến năm 1957 Ngài xuống tu tập tại Thánh thất Thanh Hà ở thị xã Hội An để tránh sự truy lùng khủng bố của tân chính phủ Ngô Đình Diệm. Trong năm 1957, Ngài bị bắt và suýt bị tử hình tại Tiên Châu. Nhờ có sự can thiệp của đức Hộ pháp Phạm Công Tắc nên Ngài được trả tự do.
Năm  Mậu Tuất (1958), Ngài vào Sài Gòn tiếp tục con đường tìm thầy học đạo của mình. Nhân một buổi đi nghe pháp tại chùa Kỳ Viên do Hòa thượng Bửu Chơn giảng, Ngài cảm nhận được suối nguồn diệu pháp chính là đây và đã phát tâm quy y Tam Bảo với ngài Bửu Chơn.
Từ đó, Ngài tinh chuyên học đạo với chư tôn trưởng lão của hệ phái Nam Tông và tâm nguyện xuất gia ngày càng tăng trưởng. Sau nhiều lần khẩn cầu, Ngài được Hòa thượng Giác Quang chấp thuận cho xuất gia.
Vào ngày rằm tháng 4 năm Canh Tý (1960), Ngài được thế độ tại chùa Giác Quang, Bình Đông,

 

* Trang 323 *
device

quận 8, Sài Gòn. Lễ xuất gia và truyền Sa Di giới được tổ chức dưới sự chứng minh của ngài Narada người Tích Lan, Hòa thượng Thiện Luật là thầy tế độ, Hòa thượng Bửu Chơn ban cho Ngài đạo hiệu Pháp Lạc. Cùng xuất gia với Ngài là người em ruột Trần Công Tình đạo hiệu Huệ Chơn. Về sau ngài Huệ Chơn là vị trụ trì đời thứ 3 chùa Phước Hải-Tân Hiệp.
Khi Ngài xuất gia cũng đã 55 tuổi đời nhưng Ngài tinh chuyên dõng mãnh tu tập hành trì giới luật. Bao nhiêu khát khao tu tập giải thoát thời tuổi trẻ nay lại bùng cháy trong con người đầy nhiệt huyết. Sự tinh cần tu tập ấy được Ngài thể hiện qua những vần thơ sau:
Bớt ăn, bớt ngủ, bớt nói năng,
Thêm học, thêm hành, thêm Minh sát.
Chẳng làm, chẳng lo, chẳng tính toán
Quyết tâm, quyết chí, quyết tu hành.
Tứ Diệu Đế luôn luôn suy xét,
Bát Chánh Đạo tín chắc thực hành.
Trước độ mình thoát khỏi sông mê
Sau giúp người vượt qua bể khổ.
Vì thế, sau 1 năm tập sự Sa Di, Ngài được Bổn sư cho đăng đàn thọ giới Cụ túc theo truyền thống Nam Tông vào ngày 30 tháng 4 năm Tân Sửu (1961). Trong

* Trang 324 *
device

lễ này, Hòa thượng Thiện Luật làm thầy tế độ với hai vị Yết ma Hộ Giác và Dũng Chí. Sau khi thọ giới, Ngài tiếp tục theo thầy bổn sư tu tập Kinh luật tại chùa Giác Quang-Sài Gòn.
Đầu năm Quý Mão (1963), Ngài về dự lễ khánh thành chùa Tam Bảo-Đà Nẵng và ở lại đây để thỉnh thoảng ra vào giảng đạo cho bà con tại quê nhà. Mùa Phật Đản năm ấy, Phật giáo đồ bị chính phủ Ngô Đình Diệm đàn áp. Ngài được Bổn sư kêu vào Nam để cùng với chư tôn đức trong hệ phái Nam Tông tham gia vào Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo tranh đấu cho sự tự do của Đạo pháp. Trong mùa pháp nạn này, Ngài cùng chư Tăng Nam Tông bị bắt giam tại Rạch Cát thuộc quận 8 Sài Gòn mãi cho đến ngày 1 tháng 11 mới được trả tự do.
Năm Giáp Thìn (1964), thể theo nhu cầu tu học của bà con tại quê nhà, Ngài được Hòa thượng Giác Quang cho về quê nhà để kiến lập đạo tràng. Tại quê làng Bất Nhị, Ngài lập một ngôi chùa và được Hòa thượng Giới Nghiêm đặt tên là Thái Bình Tự.
Đến cuối năm, Ngài vào Phan Thiết thăm một số người đồng hương quen biết trước đây. Tại đây, Ngài được đồng bào khẩn khoản mời lại dạy đạo nên Ngài về xin phép Hòa thượng Giác Quang lập chùa tại ấp Đức

* Trang 325 *
device

 Long, Phan Thiết. Ngôi chùa này đã được Hòa thượng Giới Nghiêm đặt tên là Bình Long nghĩa là ghép hai tên địa danh tỉnh Bình Thuận và ấp Đức Long. Cũng trong năm này, Ngài được Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam (GHTGNTVN) mời làm kiểm soát viên Ban chưởng quản của Giáo Hội. Ngài giữ chức vụ này mãi cho đến năm 1975.
Năm Bính Ngọ (1966), có ông bà Phán Lễ  tại Mỹ Tho cúng một mảnh đất tại xã Điều Hòa cho GHTGNTVN nên Ngài được Giáo Hội cử về Mỹ Tho để hành đạo. Đặt chân đến một vùng đất mới mà truyền thống Nam Tông không có nên việc hành đạo của Ngài ban đầu rất khó khăn. Tuy nhiên, với tất cả tinh thần phụng sự Tam Bảo, Ngài không quản khó khăn kiên trì giáo hóa. Lần lần ngôi chùa Pháp Bảo được hình thành và Ngài đã cung thỉnh chư tôn đức trong hệ phái đặt đá làm chùa vào năm Đinh Mùi (1967). Công trình xây dựng chùa Pháp Bảo kéo dài mãi cho đến năm Bính Thìn (1976) mới hoàn tất và lễ khánh thành được tổ chức trong năm này.
Năm Bính Thìn (1976), Ngài được chư tăng Nam Tông suy cử vào chức vụ Phó Tăng Thống GHTGNTVN trong đại hội khoáng đại của Giáo Hội vào ngày 1 tháng 1.

* Trang 326 *
device

Năm Tân Dậu (1981), trong đại hội thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Ngài tham dự với chức danh Phó trưởng đoàn GHTGNTVN.
Năm Quý Hợi (1983), Ngài được Ban trị sự tỉnh hội Phật giáo tỉnh Tiền Giang cung thỉnh vào Ban chứng minh của tỉnh Giáo Hội.
Năm Bính Dần (1986), Ngài được cung thỉnh làm trưởng ban cố vấn cho Ban trợ lý của Hệ phái Nguyên Thủy Việt Nam.
Năm Tân Mùi (1991), Ngài được cung thỉnh làm Đệ tam chứng minh tại giới đàn chùa Kỳ Viên do hệ phái Nguyên Thủy tổ chức.
Năm Bính Tý (1996), Ngài cùng với chư tôn đức tại thành phố Hồ Chí Minh tham quan chiêm bái và trao đổi Phật sự với các chùa tại vương quốc Thái Lan.
Năm Đinh Sửu (1997), Ngài được GHPGVN cung thỉnh vào Hội đồng chứng minh của Trung ương Giáo hội.
Vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 20 tháng 4 năm Tân Tỵ (12/5/2001), Hòa thượng viên tịch tại chùa Pháp Bảo thành phố Mỹ Tho hưởng thọ 98 tuổi với 40 mùa kiết hạ an cư.

* Trang 327 *
device

Hòa thượng đã biên soạn một số bài giảng có giá trị như: Hương vị giải thoát; Đời và Đạo; Bảy Hạng Người; Nền Đạo Lý Việt Nam v.v…
Gần 1 thế kỷ xuất hiện trong cõi Ta Bà, cuộc đời của Hòa thượng được phân ra làm 2 giai đoạn rõ rệt. Giai đoạn đầu cho đến nửa đời người, Ngài sống trọn vẹn cho mưu cầu độc lập tự do của tổ quốc. Vì thế, Ngài không sợ hiểm nguy tham gia từ phong trào Duy Tân cho đến Việt Minh cứu quốc. Có khi bị án tử hình nhưng vẫn thản nhiên không chịu khuất phục trước họng súng kẻ thù. Ngài thật sự là người con trung kiên của mảnh đất Quảng Nam giàu truyền thống yêu nước. Đến khi trung niên, Ngài gặp được chánh pháp và tinh cần tu học. Tất cả những Phật sự của Ngài đã cống hiến rất lớn cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam. Cuộc đời Ngài là một tấm gương sáng tiêu biểu của một con người dấn thân phụng sự Đạo pháp và Dân tộc.

* Trang 328 *
device

 
Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng