LOGO VNBET
Hòa Thượng
MINH CHÂU – HƯƠNG HẢI
( 1628 – 1715 )
Trụ Trì Chùa Nguyệt Đường - Hải Dương
 
Hòa thượng Minh Châu-Hương Hải là một vị cao Tăng, một danh nhân của Việt Nam trong thế kỷ XVII. Cho đến nay vẫn chưa có sử liệu chính thức nào xác định cụ thể danh tánh của Ngài. Theo “Kiến Văn Tiểu Lục” của Lê Quý Đôn cho biết tổ tiên Ngài vốn người Áng Độ, Nghi Lộc, Nghệ An theo phò chúa Nguyễn Hoàng vào sinh sống tại Quảng Nam. Ngài sinh vào năm Mậu Thìn (1628), niên hiệu Vĩnh Tộ năm thứ 10 đời vua Thần Tông nhà Lê tại làng Bình An thượng, phủ Thăng Hoa, tỉnh Quảng Nam.
Sinh trưởng trong một gia đình trâm anh thế phiệt, từ nhỏ Ngài đã hấp thụ tư tưởng Nho giáo, miệt mài kinh sử, chí hướng đến cửa Khổng sân Trình lập công danh với đời. Năm  vừa tròn 18 tuổi thì Ngài thi đỗ Hương cốngvà được bổ làm tri phủ Triệu Phong dưới thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) ở Đàng Trong.
Sau 7 năm làm quan, chứng kiến biết bao cảnh trái ngang của chốn quan trường nên Ngài phát tâm tìm

* Trang 221 *
device

cầu học đạo. Năm Nhâm Thìn (1652), Ngài đến học Phật với thiền sư Lục Hồ-Viên Cảnh, được ban pháp danh là Minh Châu-Hương Hải, hiệu là Huyền Cơ-Thiện Giác, tiếp đến lại tới học đạo với thiền sư Viên Khoan-Đại Thâm, năm này Ngài vừa tròn 25 tuổi. Ba năm sau, Ngài chính thức từ quan đi xuất gia.
Sau một thời gian tu học, Ngài dóng thuyền đến đảo Cù Lao Chàm ở ngoài cửa biển Hội An, dựng ba gian am nhỏ để ở và tu trì. Thời gian Ngài ở đây khoảng được 10 năm.
Sự tu hành thiền định của Ngài đã dần dần được mọi giới ở Đàng Trong biết đến, trong đó có Hoa Lễ Hầu là Tổng thái giám. Hoa Lễ Hầu tâu với Dũng Quốc Công Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) về sự tu hành của Hòa thượng và Ngài được quốc công mời về trụ trì viện Thiền Tịnh ở núi Quy Kỉnh. Mẹ của Nguyễn Phúc Tần và 3 con là Phúc Mỹ, Hiệp Đức, Phúc Tộ đều đến quy y cùng với đông đảo quan lại, binh dân.
Lúc bấy giờ, sự xung đột giữa hai nhà Trịnh-Nguyễn đã lên cao độ. Sau trận đánh năm Mậu Tý (1648), quân Nguyễn bắt được rất nhiều tù binh trong đó có Gia Quận Công. Trong thời gian bị giam lỏng ở Đàng Trong, Gia Quận Công thường lui tới viện Thiền Tịnh để theo học Phật pháp với Ngài. Có người dèm

* Trang 222 *
device

pha với chúa Nguyễn rằng Ngài và Gia Quận Công đang tính chuyện vượt biên về đất Bắc. Chúa Nguyễn Phúc Tần bèn cho người điều tra nhưng không có chứng cứ, bèn đưa Ngài trở về Quảng Nam. Cũng chính vì lẽ đó, Ngài mới nảy ý định vượt biển ra đất Bắc hoằng hóa.
Tháng 3 năm Nhâm Tuất (1682), Ngài cùng với 50  đồ đệ vượt biển từ Quảng Nam ra Đàng Ngoài, năm ấy Ngài vừa tròn 55 tuổi. Thuyền đến Vinh, Ngài vào yết kiến Yến Quận Công Trịnh Điềm (1629-1682) và ở tại đây một tháng. Chúa Trịnh biết tin Ngài đã ra Đàng Ngoài nên cho Đường Quận Công đón Ngài về Kinh.
Chúa Trịnh Tạc qua đời, chúa Trịnh Căn lên nối ngôi, ban cho Ngài áo mão, lương thực, tiền bạc rồi cho về trấn Sơn Nam, giao cho Tước Quận Công Lê Đình Kiên (1623-1704) giúp đỡ và thành lập viện Thiền Tịnh, sau đó là chùa Nguyệt Đường ở tại Phố Hiến.
Từ đó, đạo phong của Ngài ngày càng tỏa rạng, được mọi giới tại Đàng Ngoài ngưỡng mộ. Một lần, vua Lê Dụ Tông triệu Ngài vào điện và hỏi:
- Tiên đế (Hi Tông) từng khâm phục đạo hạnh của Sư Ông, Trẫm vẫn một lòng ngưỡng mộ ấy, ngưỡng mong Sư ông pháp thí.

* Trang 223 *
device

- Ngài bèn đọc 4 câu kệ:
Phản văn tự kỷ mỗi thường quan
Thẩm sát tư duy tử tế khan
Mạc giáo mộng trung tầm tri thức
Đương lai điện thượng đồ sư nhan
Nghĩa là:
Nghe lại điều mình thấy những ngày
Suy đi nghĩ lại kỹ càng hay
Chớ tìm tri thức trong cơn mộng
Có thế mới hay nhận được thầy
                                     ( Mật Thể dịch.)
Vua lại hỏi:
- Thế nào là ý của Phật?
Ngài đáp:
Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm.
Nghĩa là:
Nhạn liệng trên không
Bóng chìm dưới nước

* Trang 224 *
device

Nhạn không để dấu ở lại
Nước chẳng lưu bóng làm chi.
Vào ngày 12 tháng 5 năm Ất Mùi (1715), sau khi tắm rửa, Ngài khoác y, đội mão, triệu tập môn đồ đọc kệ phó chúc:
Thời đương bát thập bát
Hốt nhiên đăng tọa thoát
Hữu lai diệc hữu khứ
Vô tử diệc vô hoạt
Pháp tính đẳng hư không
Sắc thân như bào mạt
Đông độ ly Ta bà
Tây phương liên ngạc pháp.
Nghĩa là:
Tuổi đương tám mươi tám
Tọa thoát tự nhiên bỗng
Có đến cũng có đi
Không chết cũng không sống
Pháp tính giống hư không
Sắc thân như bọt mọn
Đông độ rời Ta bà
Tây phương đài sen đón.

 

* Trang 225 *
device

Sư hưởng thọ 88 tuổi với hơn 50 năm hành đạo tại hai miền đất nước. Nhục thân Sư được an trí trong bảo tháp tại chùa  Nguyệt Đường.[1].
Với 88 năm xuất hiện ở cõi đời, thiền sư Minh Châu-Hương Hải đã cống hiến hết sức mình cho Đạo Pháp và Dân Tộc.
Đứng về mặt Dân Tộc, thuở thanh niên Ngài cũng đã từng ra làm quan để đóng góp sức mình vào việc an bang tế thế. Khi xuất gia tu đạo, với đạo hạnh của mình, Ngài đã được các Chúa Nguyễn, Chúa Trịnh và vua Lê thường mời đàm đạo và các quan hay đến thăm hỏi. Sự quan hệ này có tác động rất lớn đối với chính sách trị nước an dân của vua chúa đương thời. Điều này đã khẳng định cho chúng ta một điều: Giai đoạn này, Phật giáo Việt Nam phát triển mạnh chứ không suy đồi như mọi người lầm tưởng.
Mối quan hệ này, chúng ta có thể thấy rõ qua bài thơ Nôm mà Trịnh Cương làm tặng Ngài:
Danh lam từng trải đã hay danh
Trình độ này âu hợp chốn trình
Pháp giới chăm chăm tuyên diệu pháp
Kinh luân rỡ rỡ diễn chân kinh
Công nhiều nhờ có công vô lượng

* Trang 226 *
device

Thế thuận vầy nên thế hữu tình
Ngăn tục mựa hề mùi tục lụy
Lòng thiền tua kín chốn thiền khuynh.
Đứng về mặt Đạo Pháp, sự tu hành chứng ngộ của Sư là một minh chứng sống động cho sự vi diệu của Phật Pháp. Đệ tử đắc pháp của Ngài có đến trên 100 vị. Trong đó, xuất chúng là các vị Chân Nguyên-Tuệ Đăng, Chân An-Tuệ Tĩnh, Chân Lý-Hiển Mật v.v..đều là những bậc danh nhân của Phật giáo nói riêng và Dân Tộc nói chung.
Căn cứ vào pháp danh chữ “Chân” mà Ngài cho đệ tử, ta biết Ngài thọ giáo và truyền pháp theo bài kệ của thiền phái Lâm Tế dòng Trí Bảng-Đột Không:
Trí tuệ thanh tịnh
Đạo đức viên minh
Chân như tính hải
Tịch chiếu phổ thông.
Như vậy, Ngài thuộc đời thứ 8 của dòng Lâm Tế Trí Bảng. Các đệ tử hàng chữ Chân và các pháp tôn hàng chữ Như, Tính v.v.. đều là những bậc đống lương trong Phật pháp, tích cực hoằng hóa làm cho Chánh pháp tại Đàng Ngoài ngày càng hưng thịnh.

* Trang 227 *
device

Ngoài những thơ văn đối đáp với các vua quan, Ngài trước tác rất nhiều kinh sách để dạy dỗ đồ chúng. Những tác phẩm của Ngài phần lớn được viết bằng chữ Nôm như sau:
- Giải Pháp Hoa kinh                                           1 bộ
- Giải Kim Cương kinh lý nghĩa                            2 đạo
- Giải Sa Di giới luật                                            1 quyển
- Giải Phật tổ tam kinh                                         3 quyển
- Giải Di Đà kinh                                                  1 quyển
- Giải Vô Lượng Thọ kinh                                    1 quyển
- Giải Địa Tạng kinh                                            3 quyển
- Giải Tâm Kinh đại điên                                     1 quyển
- Giải Tâm Kinh ngũ chỉ                                       1 quyển
- Giải Tâm Châu nhất quán                                  1 quyển
- Giải Chân Tâm trực thuyết                                1 quyển
- Giải Pháp Bảo Đàn kinh                                    6 quyển
- Giải Phổ Khuyến tu hành                                  1 quyển
- Giải Bảng điều                                                   1 thiên
- Soạn Cơ Duyên vấn đáp tinh giải                      1 quyển
- Soạn Sự Lý dung thông                                       1 quyển
- Soạn Quán Vô Lượng Thọ kinh quốc ngữ           1 quyển
- Soạn Cúng Phật tam khoa (cát hung tiểu)            1 quyển

* Trang 228 *
device

- Soạn cúng Dược Sư                                            1 khoa
- Soạn cúng Cửu phẩm                                         1 khoa.
- Hương Hải thiền sư ngữ lục                                1 quyển
Ngoài ra, Ngài có ghi 1 cuốn về địa lý tỉnh Quảng Nam theo lời đề nghị của chúa Trịnh Tạc. Đó là cuốn “Quảng Nam Thuận Hóa sơn thủy lộ trình”. Tuy nhiên, toàn bộ những tác phẩm của Ngài đều bị thất lạc. Ngày nay, chúng ta chỉ còn tìm được một số tác phẩm như:
- Giải Kim Cang kinh lý nghĩa
- Giải Di Đà kinh
- Giải Tâm Kinh ngũ chỉ
- Soạn sự lý dung thông
- Hương Hải thiền sư ngữ lục
Với một sự nghiệp trước tác đồ sộ như vậy, thiền sư Minh Châu-Hương Hải xứng đáng là một nhà văn hóa lớn của dân tộc. Cuộc đời và sự nghiệp của Ngài mãi mãi là tỏa rạng trong lịch sử truyền giáo của Phật giáo trong lòng nước mẹ Việt Nam thân yêu.
Bị chú:
[1]. Hiện nay, chùa Nguyệt Đường không còn nữa. Bảo tháp của Ngài Minh Châu-Hương Hải và cao đệ là Chân Lý-Hiển Mật hiện nằm trong khuôn viên của một nhà dân thuộc tỉnh Hải Dương.

* Trang 229 *
device

* Trang 230 *
device

 
Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng