LOGO VNBET
Hòa Thượng
THÍCH TRÍ HỮU
( 1912 – 1975 )
Trụ Trì Chùa Linh Ứng – Ngũ Hành Sơn
 
Hòa thượng thế danh Lê Thùy pháp húy Thị Năng, tự Trí Hữu, hiệu Hương Sơn, nối pháp đời 42 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Chúc Thánh. Hòa thượng sinh năm Quý Sửu (1912) tại làng Quá Giáng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thân sinh là cụ ông Lê Tất Các pháp danh Hồng Diễn, thân mẫu là cụ bà Kiều Thị Đỉnh. Về sau, cụ ông xuất gia với Hòa thượng Thích Tôn Bảo, thọ Sa Di Bồ tát giới với pháp tự Giải Khánh, hiệu là Giác Tánh.
Vốn có túc duyên nhiều đời với Phật pháp nên vào năm Giáp Tuất (1934), Ngài phát nguyện xuất gia khi vừa tròn 13 tuổi. Ngài đến chùa Linh Ứng, núi Ngũ Hành bái Hòa thượng Như Thông-Tôn Nguyên làm thầy, được Hòa thượng thu nhận làm đệ tử và cho pháp danh là Thị Năng. Đến năm Mậu Dần (1938), khi vừa tròn 27 tuổi thì Ngài thọ Cụ Túc giới. 
Sau một thời gian theo hầu Hòa thượng Bổn sư, thấy Ngài có căn tánh lanh lẹ nên vào năm Ất Hợi

* Trang 125 *
device

 (1935), Ngài được Bổn sư cho theo học tại Đà Thành Phật Học Viện tại chùa Phổ Thiên-Đà Nẵng.
Năm Đinh Sửu (1937), sau khi tốt nghiệp tại Học Viện Phổ Thiên, Ngài tiếp tục cầu học tại Phật Học Đường Báo Quốc-Huế. Cùng học với Ngài có các Hòa thượng như: Thiện Hoa, Thiện Hòa, Trí Tịnh, Trí Nghiễm, Trí Nghiêm v.v…
Năm Ất Dậu (1945), Ngài tốt nghiệp chương trình đại học Phật giáo tại Báo Quốc và bắt đầu cuộc hành trình vân du hóa đạo tại các tỉnh miền Nam.
Ban đầu, Ngài vào ngụ tại chùa Hưng Long và chùa Hưng Đạo do Hòa thượng Huệ Chấn làm trụ trì. Sau mùa hạ năm Kỷ Sửu (1949), Ngài đến khu vực Vườn Lài lập thảo am lấy tên là Trí Tuệ Am. Sau khi làm chánh điện và Tăng xá xong, Ngài đặt tên là Ứng Quang. Tại đây, Ngài cùng với các Hòa thượng Nhật Liên và Thiện Hòa mở một Phật học đường nhỏ lấy tên Ứng Quang để dạy giáo lý cho chư Tăng trẻ các chùa lân cận. Trong thời gian này, Ngài cộng tác với tạp chí Từ Quang nhằm phổ biến giáo lý đến khắp các giới Phật tử, đồng thời là giáo thọ sư của Phật học đường Nam Việt.
Đến năm Canh Dần (1950), Ngài cùng với các Hòa thượng Thiện Hòa, Thiện Hoa v.v… hợp nhất các

* Trang 126 *
device

 Phật học đường Liên Hải, Sùng Đức thành Phật Học đường Nam Việt, đồng thời Ngài hiến cúng chùa Ứng Quang cho Hòa thượng Thiện Hòa để làm trụ sở Giáo Hội Tăng Già Nam Việt cũng như Phật Học Đường Nam Việt. Sau đó, Hòa thượng Thiện Hòa trùng tu và đổi tên lại là Ấn Quang cho đến ngày hôm nay.
Năm Đinh Dậu (1957), Ngài về lại Ngũ Hành Sơn và nhận chức vụ trụ trì tổ đình Linh Ứng.
Năm Canh Tý (1960), Phật Học Viện Phổ Đà được thành lập tại chùa Phổ Thiên-Đà Nẵng, Hòa thượng được mời làm Giám viện cho đến năm 1975.
Năm Tân Sửu (1961), Ngài được cung thỉnh vào chức vụ Trị Sự Trưởng Giáo Hội Tăng Già Quảng Nam Đà Nẵng.
Năm Nhâm Dần (1962), Ngài được sung cử trụ trì chùa tỉnh hội Đà Nẵng.
Năm Giáp Thìn (1964), sau khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập, Ngài được Trung Ương giáo hội cửa làm Chánh đại diện miền Liễu Quán.
Năm  Ất Tỵ (1965), Ngài được cung thỉnh làm Giáo Thọ A-xà-lê tại giới đàn Sa Di mở tại chùa Long Tuyền-Hội An.

* Trang 127 *
device

Năm Mậu Thân (1968), Hòa thượng được cung thỉnh làm Đệ thất tôn chứng tại giới đàn tại Phật học viện Hải Đức-Nha Trang để truyền trao giới pháp cho Tăng ni sinh tu học.
Năm Canh Tuất (1970), Ngài được cung thỉnh làm Đệ Ngũ Tôn Chứng tại Đại giới đàn Vĩnh Gia tổ chức tại Phật học viện Phổ Đà-Đà Nẵng.
Năm Tân Hợi (1971), Ngài được cung thỉnh làm Giáo Thọ A-xà-lê tại giới đàn Tu viện Quảng Đức, quận Thủ Đức-Sài Gòn.
Năm Nhâm Tý (1972), Ngài vận động đại trùng tu tổ đình Linh Ứng.
Năm Quý Sửu (1973), Ngài được Đức Tăng Thống tấn phong lên hàng giáo phẩm Hòa thượng và thỉnh vào Hội đồng giáo phẩm Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Năm Ất Mẹo (1975), vào lúc 12 giờ ngày 28 tháng 11 âl (30.12.1975), Ngài đã viên tịch tại chùa Ấn Quang-Sài Gòn, nơi mà 37 năm về trước Ngài đã đặt những viên đá đầu tiên kiến tạo. Sau khi trà tỳ, hài cốt của Ngài được phân làm hai phần: một phần thờ tại chùa Ấn Quang và một phần đem về nhập bảo tháp tại chùa Linh Ứng-Ngũ Hành Sơn.

 

* Trang 128 *
device

Hơn 60 năm xuất hiện ở cõi đời và 46 năm tu học và hoằng hóa, Ngài đã cống hiến rất nhiều cho Phật giáo nước nhà. Ngài phiên dịch và trước tác nhiều kinh sách như:
- Kinh Viên Giác
- Lời Phật dạy (Phỏng dịch)
- Duy thức dị giản
- Kinh Phật địa: Ấn hành năm 1959.
- Phật học danh số: Đăng nhiều kỳ trên tạp chí Từ Quang.
- Lịch sử Ngũ Hành Sơn (sáng tác)
Đặc biệt, trong đó  tác phẩm “Lịch Sử Ngũ Hành Sơn” là cuốn sách rất có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa của Phật giáo tại núi Ngũ Hành.
Ngoài việc kế thế trùng tu tổ đình Linh Ứng, Ngài đã khai sơn các chùa Ứng Quang (1949) (tức chùa Ấn Quang bây giờ)-Sài Gòn, các chùa Hòa Phước (năm 1950), Chùa Bảo Minh (1965) huyện Hòa Vang, chùa Từ Quang-Điện Bàn, Bích Trân, La Thọ tại Quảng Nam Đà Nẵng.
Hàng đệ tử xuất gia của Ngài hiện nay còn rất nhiều vị đang hoằng pháp tại trong nước cũng như ở hải ngoại. Tại Mỹ thì có Hòa thượng Thích Thanh An, tại

* Trang 129 *
device

Úc thì có Hòa thuợng Thích Bảo Lạc. Trong nước thì có Thượng tọa Thích Thiện Nguyện kế nghiệp Ngài trụ trì chùa Linh Ứng, khai sơn các chùa Linh Ứng tại Bà Nà và Bãi Bụt-Đà nẵng. Thượng tọa Thích Thanh Thế-khai sơn chùa Thánh Đức ở Đức Trọng, Lâm Đồng. Quý Thượng tọa Thích Hoằng Khai, Thích Bảo Quang v.v.. đang đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng tại các trú xứ.

* Trang 130 *
device

 
Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng