LOGO VNBET
Hòa Thượng
THÍCH LONG HẢI
( 1919 – 2002 )
Trụ Trì Chùa Nghĩa Trũng – Điện Bàn
 
Hòa thượng thế danh Ôn Nguyện, pháp danh Chơn Giác, tự Đạo Hoa, hiệu Long Hải, nối pháp dòng Lâm Tế đời thứ 40 và thuộc thế hệ thứ 7 pháp phái Chúc Thánh. Ngài sinh vào ngày mồng 6 tháng 7 năm Kỷ Mùi (1919), nhằm niên hiệu Đồng Khánh thứ 4 tại làng Thi Nhơn, xã Điện Phong, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông húy Ôn Nghinh pháp danh Chơn Đề và thân mẫu là cụ bà Phan Thị Lan. Ngài là nguời con trai út trong gia đình có bốn người con.
 Gia đình Ngài vốn có truyền thống nhiều đời theo Phật, cụ thể là hai người bác của Ngài là Hòa thượng Đương Nhật, Đương Tín xuất gia tu học với tổ Từ Trí tại chùa Tam Thai-Ngũ Hành Sơn thuộc đời 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Thân phụ Ngài được triều đình nhà Nguyễn  giao trách nhiệm trông coi chùa tỉnh trong nội thành tỉnh Quảng Nam.
Vốn có thiện duyên nhiều đời nên Ngài được sanh vào ngôi nhà chánh tín Tam Bảo. Vì lẽ đó, chí

* Trang 171 *
device

nguyện xuất gia đã phát khởi nơi Ngài từ khi đầu còn để chỏm. Vào năm Giáp Tý (1924), khi vừa lên 6 tuổi, Ngài cùng với người anh thứ 3  là Thượng tọa Chơn Đảnh-Long Chương được thân phụ đưa đến thọ giáo xuất gia với Hòa thượng Ấn Nghiêm-Phổ Thoại tại chùa Long Tuyền-Hội An và được ban pháp danh là Chơn Giác.
Ban đầu Ngài ở tại chùa tỉnh thành để học chữ nho, sau đó về tại Long Tuyền để học kinh, luật với Hòa thượng Bổn sư.
Năm Bính Tý (1936), Ngài thọ Sa Di giới với pháp tự Đạo Hoa. Mãi cho đến năm Ất Mùi (1955), Ngài thọ Tỳ kheo giới với pháp hiệu là Long Hải, lúc bấy giờ Ngài đã 36 tuổi.
Năm Bính Thân (1956), Ngài được Giáo Hội Tăng Già Quảng Nam Đà Nẵng đề cử làm trụ trì chùa Nghĩa Trũng. Từ đây, Ngài bắt đầu hành trình hóa độ của mình.
Cũng trong thời gian này cho đến năm 1964, Ngài được mời giữ các chức vụ như:
- Chứng minh đạo sư cho Giáo Hội Phật Giáo Điện Bàn.
- Ủy viên đặc trách huyện Điện Bàn trong Giáo Hội Tăng Già Quảng Nam Đà Nẵng.

* Trang 172 *
device

- Phó thư ký Giáo Hội Tăng Già Quảng Nam.
Năm Giáp Dần (1974), Ngài được thỉnh cử làm chánh đại diện GHPGVNTN huyện Điện Bàn.
Năm Canh Thân (1980), Ngài xin nghỉ chức vụ chánh đại diện và chỉ nhận làm chứng minh cho Ban Đại Diện mà thôi.
Năm Đinh Sửu (1997), xét thấy Ngài là bậc niên cao lạp trưởng, có nhiều cống hiến cho sự nghiệp hoằng dương chánh pháp, Đức Pháp chủ GHPGVN đã tấn phong Ngài lên hàng giáo phẩm Hòa thượng trong đại hội kỳ IV của Giáo Hội.
Kể từ khi nhận lãnh trách nhiệm trụ trì chùa Nghĩa Trũng, Ngài đã từng bước kiến tạo ngôi chùa này ngày một khang trang. Chùa Nghĩa Trũng vốn được các quan nhà Nguyễn lập để thờ tự cúng lễ. Các quan đã ra chùa Tam Thai xin Tăng cang Từ Trí để ngài Đương Khánh về trụ trì. Sau khi ngài Đương Khánh viên tịch thì chùa chưa có người thừa kế, thêm vào đó chiến tranh tàn phá nên hư hỏng nặng. Về sau, thân hào nhân sĩ tại bổn xã cúng chùa Nghĩa Trũng cho Giáo Hội Tăng Già Quảng Nam Đà Nẵng, Hòa thượng Thích Trí Giác đứng ra trùng tu và cử Ngài về làm trụ trì. Với 42 năm gắn liền với ngôi cổ tự này, bằng khả năng kinh tế của một vùng quê nghèo khó, Ngài đã lần lần trùng tu kiến thiết qua nhiều đợt như sau:

* Trang 173 *
device

Năm Quý Mão (1963), Ngài tiến hành xây dựng nhà tổ.
Năm Ất Tỵ (1965), Ngài xây dựng ngôi phương trượng.
Năm Ất Mão (1975), Ngài xây dựng tây đường để thờ chư hương linh.
Năm Nhâm Thân (1992), Ngài kiến tạo tượng đài Quan Âm lộ thiên. Năm Bính Tý (1996), Ngài tu bổ chánh điện và tiền đường.
Năm Đinh Sửu (1997), Ngài trùng tu bảo tháp Hòa thượng Đương Khánh, đệ nhất trụ trì chùa Nghĩa Trũng.
Năm Mậu Thìn (1998), Ngài nâng cấp con đường vào chùa để tiện việc đi lại cho tín đồ trong những ngày mưa gió.
Là người tánh tình hiền hậu, khiêm cung cẩn mật, Ngài thường được cung thỉnh làm tôn chứng tại các đàn giới như: đệ lục và đệ ngũ tôn chứng tại giới đàn chùa Long Tuyền năm 1965, 1967. Và năm Nhâm Thân (1992), Ngài được cung thỉnh làm Đệ nhất tôn chứng giới đàn Sa Di tại tổ đình Phước Lâm-Hội An.
Hơn 50 năm hành đạo tại quê hương đất Quảng thân yêu, Ngài đã để lại nhiều tình cảm trong lòng người Phật tử. Với bản tánh nhân hậu và một nếp sống

* Trang 174 *
device

giản dị nên Ngài dễ dàng cảm hóa lòng người. Hàng pháp tử, pháp tôn của Ngài hiện đang phục vụ Giáo hội tại tỉnh nhà cũng như đang hành đạo tại các tỉnh khác. Hàng ngàn Phật tử tại gia đã thọ giáo quy y với Ngài rải rác khắp các nơi trong tỉnh.
Vốn hấp thụ nền văn hóa Phật giáo từ thuở nhỏ, cộng với một chất liệu giọng ấm áp truyền cảm, Ngài là một trong những vị Gia trì sư rất lỗi lạc. Tuy Ngài thường ngồi đàn chẩn tế cô hồn nhưng Ngài không bao giờ vận hồng y như những vị Gia trì khác. Có lẽ nếp sống thuần hậu đạm bạc nơi thôn dã đã tạo nên một lối sống giản dị nơi Ngài. Với giọng điệu đầy mùi thiền vị, Ngài đã đem lại nhiều niềm tin cho tín đồ Phật tử. Đây cũng là một phương tiện tối thắng mà Ngài đã vận dụng thành tựu để đưa người vào đạo.
“Sanh lão bệnh tử
Tự cổ thường nhiên…”
“Vô thường thị thường” đó là chân lý xưa nay, Ngài đã nhẹ nhàn lìa mộng trần vào lúc 4 giờ 45 phút vào ngày 24 tháng 11 năm Tân Tỵ (07/1/2002) trong tiếng niệm Phật trợ tiến của hàng môn đồ pháp quyến. Với 83 mùa xuân dạo chơi cõi Ta Bà và 47 mùa hạ an trụ nơi Chánh giáo, Ngài đã để lại nhiều luyến lưu cho người con Phật nơi mảnh đất “Chưa mưa đã thấm” này.

* Trang 175 *
device

* Trang 176 *
device

 
Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng