LOGO VNBET
Hòa Thượng
THÍCH QUANG THỂ
( 1922 – 2005 )
Khai Sơn Chùa Thọ Quang – Đà Nẵng
 
Hòa thượng thế danh Đặng Hữu Tường, pháp húy Nguyên Phước, tự Quang Thể, hiệu Đạt Minh nối pháp đời 44 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 10 pháp phái Liễu Quán. Hòa thượng lâm thế vào ngày 19 tháng 9 năm Nhâm Tuất (1922) tại làng An Hải, quận 3, thành phố Đà Nẵng, chánh quán tại làng Quảng Lăng, xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ Ngài là cụ ông Đặng Văn Vịnh (tức Nuôi) và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Ớt.
Năm lên 9 tuổi, thân phụ qua đời, từ đó mẫu thân một mình tảo tần nuôi con. Trong thời gian này, Ngài được thầy Như Tín-trụ trì chùa An Hải lúc bấy giờ nhận nhập chúng tu học.
Năm Nhâm Thân (1932), nhân duyên hội ngộ, Ngài chính thức xuất gia với Hòa thượng thượng Thiện hạ Trí-giám tự chùa Linh Quang tại cố đô Huế và được Bổn sư cho pháp danh Nguyên Phước. Lúc bấy giờ Ngài vừa tròn 11 tuổi. Từ đó, dưới sự dẫn dắt của Bổn

* Trang 183 *
device

sư, đạo phong của Ngài ngày càng tăng trưởng, được chư tôn đức thương mến, bạn đồng học nể vì.
Năm Đinh Sửu (1937), Hòa thượng được Bổn sư cho theo học lớp Phật học tại Phật học đường Báo Quốc. Đồng khóa với Ngài gồm có các vị tôn túc như: Hòa thượng Thiên Ân; Hòa thượng Đức Tâm; Hòa thượng Thiện Châu v.v..
Năm Kỷ Mão (1939), Hòa thượng bổn sư ra khai sơn chùa Hiếu Quang, vì thế Ngài theo thầy vừa gánh vác việc kiến tạo ngôi Tam Bảo, vừa tiếp tục theo học ở Phật học đường.
Năm Giáp Thân (1944), chiến tranh Pháp-Việt lan tỏa, Hòa thượng tản cư vào lại Quảng Nam. Tại đây, Hòa thượng vận động thành lập Chi hội Phật học Nồi Rang tại xã Xuyên Thọ, huyện Duy Xuyên.
Năm Kỷ Sửu (1949), Hòa thượng được Bổn sư cho thọ Cụ túc giới tại đại giới đàn Hộ Quốc được tổ chức ở chùa Báo Quốc-Huế do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Đàn đầu truyền giới. Cùng thọ giới với Ngài còn có các vị tôn túc như: Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Hòa thượng Thích Trí Giác v.v…
Sau khi thọ đại giới, Hòa thượng được Bổn sư trạch cử làm trưởng pháp tử ban pháp hiệu Đạt Minh với bài kệ phú pháp như sau:

* Trang 184 *
device

Nguyên Phước tương thừa liễu đạo tông
Thiện lai Quang Thể khế tâm dung
Đạt Minh diệu chỉ siêu chơn tế
Tục diệm truyền đăng phổ chiếu đồng
Nghĩa là:
Nguyên Phước nối dòng rõ tâm hồn
Lành thay Quang thể hợp tông môn
Đạt Minh diệu chỉ, siêu chân vọng
Truyền đăng diệu pháp chiếu càn khôn
Năm Tân Mão (1951), Ngài được Giáo hội Trung Phần cử làm trụ trì chùa Pháp Lâm-Đà Nẵng, đến năm Quý Tỵ (1953) Ngài trở ra lại Huế nhập chúng an cư tại chùa Báo Quốc.
Năm Giáp Ngọ (1954), Hòa thượng vào Quảng Nam trụ tại chùa Linh Ứng-Ngũ Hành Sơn cùng với chư tôn đức tổ chức an cư kiết hạ. Đồng thời, Ngài tổ chức các khóa học giáo lý tại gia và tiến hành thành lập các khuôn hội phụ cận. Đồng thời trong năm này, Ngài được mời làm thành viên của Ban hoằng pháp của Hội Phật học Trung Phần. Từ đó, dấu chân Ngài đi khắp các tỉnh miền Trung, pháp âm của Ngài lan tỏa đến khắp mọi nơi trên quê hương Quảng Nam Đà Nẵng, khuyến người bỏ ác làm lành, quay về với chánh đạo.

* Trang 185 *
device

Năm Mậu Tuất (1958), Ngài cùng với chư tôn đức thành lập Phật học viện Phổ Đà. Đây là cơ sở đào tạo Tăng tài cũng là trú xứ an cư bố tát của chư Tăng thành phố Đà Nẵng từ trước đến nay.
Năm Kỷ Hợi (1959), Ngài chính thức khai sơn chùa Thọ Quang tại xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng). Sau 3 năm thi công thì chùa hoàn tất và lễ khánh thành được tổ chức vào năm Nhâm Dần (1962). Sau khi lễ khánh thành xong, Ngài được Giáo hội Trung Phần cử làm trụ trì chùa tỉnh hội Phan Thiết tỉnh Bình Thuận.
Năm Quý Mão (1963), Phật giáo Việt Nam bị chính quyền Ngô Đình Diệm kỳ thị đàn áp. Khắp nơi, Phật giáo đồ hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo xuống đường đấu tranh đòi tự do tôn giáo, bình đẳng dân tộc trong tinh thần bất bạo động. Tại Phan Thiết, Hòa thượng là vị lãnh đạo tinh thần tối cao, dấn thân cùng với chư Tăng Ni Phật tử đấu tranh cho đến khi Pháp nạn kết thúc vào ngày 1 tháng 11 năm 1963.
Từ năm 1966 đến năm 1975, Hòa thượng được thỉnh cử làm Chánh đại diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thị xã Đà Nẵng.

* Trang 186 *
device

Năm Đinh Mùi (1967), Ngài được cung thỉnh làm Giáo thọ A-xà-lê tại giới đàn Sa Si chùa Long Tuyền-Hội An.
Năm Mậu Thân (1968), chiến tranh Việt-Mỹ leo thang cao độ, dân chúng khắp nơi từ các tỉnh Quảng Trị, Huế, Quảng Tín, Quảng Nam đều đổ về Đà Nẵng tỵ nạn. Hòa thượng cùng với chư tôn đức đã bằng mọi phương tiện an ủi vỗ về quần chúng để họ được ổn định cuộc sống.
Năm Canh Tuất (1970), GHPGVNTN miền Vạn Hạnh tổ chức Đại giới đàn Vĩnh Gia tại chùa Phổ Đà-Đà Nẵng, Hòa thượng được cung thỉnh làm Phó Chủ Đàn.
Năm Ất Mão (1975), sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, Hòa thượng tiếp tục sứ mệnh lãnh đạo Giáo hội, hướng dẫn tín đồ tu học. Đồng thời, Ngài được mời Tham gia Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam với cương vị Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việ Nam tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng.
Năm Bính Thìn (1976), thể theo sự hợp nhất địa lý hành chính, các tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín và thị xã Đà Nẵng sáp nhập lại lấy tên là tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng. Vì thế Giáo Hội 3 tỉnh hợp lại với tên gọi: GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng và Hòa thượng được Tăng Ni Phật tử tín nhiệm thỉnh làm Chánh Đại Diện.

* Trang 187 *
device

Năm Canh Thân (1980), Hòa thượng được cung thỉnh làm Đệ thất tôn chứng tại Đại giới đàn Thiện Hòa tổ chức ở chùa Ấn Quang-Sài Gòn.
Năm Tân Dậu (1981), Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập tại Hà Nội, mãi đến tháng 5 năm Nhâm Tuất (1982) đại hội Phật giáo tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng mới tiến hành được và cung thỉnh Hòa thượng giữ chức vụ trưởng Ban Trị Sự tỉnh. Ngài giữ chức vụ này liên tiếp qua 3 nhiệm kỳ: 1982-1987, 1987-1992 và 1992-1997. Đồng thời, Hòa thượng được suy cử vào Ủy viên Hội đồng Trị sự TW GHPGVN.
Năm Giáp Tuất (1994), Hòa thượng được Ban Trị Sự tỉnh Thừa Thiên  cung thỉnh làm Giáo thọ A-xà-lê tại giới đàn chùa Báo Quốc-Huế.
Năm Bính Tý (1996), Ban trị sự tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng mở đại giới đàn Phước Huệ tại chùa Phổ Đà để trao truyền giới pháp cho Tăng Ni sinh tu học, Hòa thượng được cung thỉnh làm Đàn đầu truyền giới. Kể từ sau giới đàn Vĩnh Gia năm 1970 thì đây là giới đàn đầu tiên tại Quảng Nam Đà Nẵng mang tính quy mô và đông đảo nhất. Trong giới đàn này, giới tử xuất gia có 300 vị, giới tử tại gia thọ Thập Thiện và Bồ tát giới 1640 vị.
Năm Đinh Sửu (1997), tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng được tách rời ra hai đơn vị hành chính: thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. Ngày 20 tháng 4 năm

* Trang 188 *
device

1997, trong đại hội Phật giáo thành phố Đà Nẵng, Hòa thượng được suy cử làm Trưởng Ban Trị Sự nhiệm kỳ I và II, từ 1997 đến 2007.
Từ năm Nhâm Ngọ (2002), sức khỏe của Hòa thượng yếu dần nhưng Hòa thượng vẫn cố gắng chăm lo mọi việc Phật sự. Ưu tư lớn nhất của Ngài là ngôi chùa Tỉnh Hội đang xuống cấp trầm trọng nhưng chưa có điều kiện để trùng tu.
Thế rồi, thời gian dần trôi, theo năm tháng thân tứ đại của Ngài thuận luật vô thường, Hòa thượng đã xả ly trần thế vào lúc 8 giờ ngày mồng 3 tháng 6 năm Ất Dậu (08/7/2005), hưởng thọ 84 tuổi và 57 hạ lạp.
Hòa thượng là một trong những vị cao tăng của Phật giáo Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng nói riêng trong thời hiện tại. Suốt 50 năm trong cương vị lãnh đạo Giáo hội, Ngài đã tận tụy với việc hoằng dương Phật pháp và đào tạo Tăng tài. Trong tất cả các Phật sự, Ngài không hề từ nan bất cứ việc nào dù là trong những giai đoạn cam go khó khăn chung của đất nước. Hòa thượng đã dày công xây dựng Phật giáo Đà Nẵng ngày càng phát triển. Tuy công việc đa đoan nhưng việc tiếp dẫn hậu côn vẫn được Hòa thượng ưu tiên hàng đầu. Vì thế, ngày hôm nay hàng đệ tử của Ngài có trên 30 vị Tăng ni tiếp tục chí nguyện của Ngài hành đạo trên khắp các tỉnh thành. Cuộc đời tu học và hành đạo của Ngài sẽ sáng mãi trong trang Phật giáo sử tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng.

* Trang 189 *
device

* Trang 190 *
device

 
Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng