LOGO VNBET
Ni Trưởng
THÍCH NỮ TỪ HƯƠNG
( 1917 – 2006 )
Trụ Trì Chùa Linh Phong – Đà Lạt
 
Ni trưởng thế danh Hoàng Thị Phù Dung, pháp danh Tâm Hồng, pháp tự Từ Hương, pháp hiệu Diệu Hòa, nối pháp đời 43 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Liễu Quán. Ni trưởng sinh năm Đinh Tỵ (1917) tại làng Tây Giang, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông Hoàng Đình Phong, pháp danh Tâm Thể; thân mẫu là cụ Huỳnh Thị Hiệp pháp danh Tâm Hòa. Toàn gia đều là  Phật tử thuần thành, quy y với cố đại lão Hoà Thượng Thích Tôn Thắng, trụ trì chùa Phổ Thiên-Đà Nẵng.
Năm Kỷ Mùi (1919), Ni trưởng theo song thân ra định cư tại Huế. Đến năm Quý Dậu (1933), Ni trưởng cùng với gia đình trở về sinh sống tại khu phố Hội An tỉnh Quảng Nam. Được hàm dưỡng trong một gia đình trung lưu, uyên thâm Nho học, thâm tín Phật pháp, lại được hấp thụ hai dòng văn hóa tân-cựu, nên kiến thức Ni trưởng sớm hình thành. Và có lẽ đó là nền tảng vững chắc tạo nên sự nghiệp cắt ái từ thân của Ni trưởng.

* Trang 373 *
device

Thiếu thời, Ni trưởng theo song thân đi chùa lễ Phật, nghe pháp, nhờ vậy ý chí xuất gia trong Sư nảy sinh khá sớm.
Năm Bính Tý (1936), Ni trưởng lặng lẽ trốn song thân vào chùa Chúc Thánh, Hội An, Quảng Nam, xin Hòa thượng Tăng cang Thiện Quả trụ trì chùa Chúc Thánh lúc bấy giờ để được xuất gia học đạo. Nhưng chưa được sự cho phép của hai đấng từ thân nên Ni trưởng ngậm ngùi về lại nhà nhưng chí nguyện xuất trần vẫn thường ấp ủ.
Ngày 08 tháng 01 năm năm Đinh Sửu (1937), được sự đồng ý của song thân, Ni trưởng thế phát xuất gia, thọ giới với Hòa thượng Thích Tôn Thắng tại chùa Phổ Thiên-Đà Nẵng. Hằng ngày Ni trưởng được gởi qua học tại Phật học viện sát chùa. Năm sau, nhờ học tiến bộ, Hòa thượng Bổn sư gởi Sư ra Ni trường Diệu Đức-Huế để cùng nhập chúng tu học.
Năm Quý Mùi (1943), lớp Trung đẳng Phật học mãn khóa thì cũng vừa lúc quân Nhật gây nhiều khó khăn. Hơn nữa, Thực dân Pháp lại mượn trường, trại, đóng cơ quan nên Ni trường Diệu Đức tạm đình chỉ, cho Ni sinh tốt nghiệp trở về chùa gốc mà tùy thời hành đạo. Ni trưởng trở về chùa Diệu Pháp-Đà Nẵng. Trong thời gian này, Phật tử mến mộ muốn lập chùa Sư nữ tại Đà

* Trang 374 *
device

Nẵng nên tha thiết mời Ni trưởng nhận lời, nhưng ý riêng Sư trưởng chưa muốn, vì nghĩ rằng tuổi đời, tuổi đạo còn ít, chưa đủ sức cáng đáng những Phật sự lớn lao.
Cuối năm Quý Mùi (1943), chùa Bình Quang-Phan Thiết làm lễ khánh thành tượng Phật và mở đại giới đàn truyền Giới, thỉnh Hoà Thượng Thích Tôn Thắng vào làm Đàn Đầu truyền giới. Nhân dịp này, Ni trưởng theo hầu Thầy vào Phan Thiết. Khi gặp Ni trưởng Diệu Ấn, người bạn học tại Phổ Đà- Đà Nẵng, Ni trưởng Diệu Ấn tha thiết mời Sư vào Phan Rang cùng chung lo Phật sự. Ni trưởng nhận lời nhưng phải có sự đồng ý của Bổn sư. Lúc đầu Hòa thượng Bổn sư không đồng ý, nhưng sau vẫn cho đi với điều kiện là chỉ đi trong một thời gian ngắn rồi trở về Đà Nẵng để còn lo Phật sự tại chùa Diệu Pháp.
Ni trưởng ở Phan Rang một thời gian ngắn thì tình hình đất nước thay đổi. Năm Ất Dậu (1945), cách mạng tháng 8 bùng nổ, đường sá bị cắt đứt, chiến tranh Pháp-Việt ngày một ác liệt nên Ni trưởng không thể trở về miền Trung được. Trong thời gian này, vì công tác Phật sự, thỉnh thoảng Sư có ra Nha Trang, có một số Phật tử xin cúng chùa Vạn Thạnh để làm cơ sở cho chư Ni. Ni trưởng nhận lời rồi sau đó đã mời Sư bà Sáu và Sư cô Diệu Hoa ở Sài Gòn ra giao lại.

* Trang 375 *
device

Đầu năm Bính Tuất (1946), Phật tử tại Phan Rang mời Ni trưởng cất thêm ngôi chùa Sư nữ. Ngày đặt đá khai sơn, Ni trưởng đặt hiệu chùa là Diệu Nghiêm, rồi giao lại cho Ban đại diện tỉnh hội Phan Rang đứng xây cất. Ý của Sư trưởng chỉ muốn nấn ná lại đây một thời gian để đợi cơ hội trở về Tổ đình miền trung.
Tháng 3 năm Bính Tuất (1946), nhân duyên hành đạo đã đến, có hai Phật tử là bà Trần Thị Ẩn và bà Năm Lợi đến chùa thỉnh Ni trưởng lên Đà Lạt dưỡng bệnh. Từ nhân duyên ấy mà tháng 6 cùng năm, Ni trưởng lên ngụ tại Đà Lạt, đồng thời các Phật tử  Võ Thị Bảo và Nguyễn Thị Út tại Đà Lạt muốn tìm một nơi để lập chùa sư nữ. Tâm nguyện ấy được chư tôn túc đương thời tán đồng và hỗ trợ.
 Tại Đà Lạt, Ni trưởng được chư tôn đức bố trí ngụ tại thảo am do Hòa thượng Thích Bích Nguyên kiến tạo tại trại Hầm. Bởi vì, thời gian này Hòa thượng về đảm nhận trụ trì chùa Linh Sơn-Đà Lạt và điều hành mọi công việc Giáo hội tại đây.
Từ năm 1946 đến năm 1953 chiến tranh xảy ra ác liệt và dữ dội khắp mọi nơi, Đa Lợi cũng không ngoài vùng bom đạn. Khi trận chiến xảy ra người chết và bị thương rất đông, làm cho Ni trưởng thấy “thấm thía” lời chư Phật dạy trong Luật “Nữ giới không được ở chỗ

* Trang 376 *
device

nạn xứ”. Vì thế, có lần Ni trưởng định dời trụ xứ, nhưng thấy tâm thành học đạo của Phật tử nơi đây quá thiết tha nên Sư quyết định hoằng pháp nơi đây. Quyết tâm xây dựng thảo am thành một trụ xứ của chư Ni trên cao nguyên thơ mộng này.
Năm Đinh Hợi (1947), Ni trưởng đại trùng tu cổng Tam quan và các bậc thang cấp. Cổng Tam quan trước đây Hòa thượng Bích Nguyên khuyến khích bà con cùng nhau hợp lực chẻ đá để xây dựng trước thảo am; lúc bấy giờ, kiến trúc sư đánh giá là một tuyệt tác, một công trình thế kỷ. Nhưng vì cổng Tam quan sát mép núi, nếu không xây dựng lại kiên cố khó mà giữ vững với thời gian.
Năm Kỷ Sửu (1949) xây cất nhà khách và tạo pho tượng đức Phật A Di Đà cao 1,8m.
Năm Tân Mão (1951), Ni trưởng vận động  đúc một quả đại hồng chung tại chùa, để tiếng chuông hai thời ngân nga giảm thiểu nỗi khổ cực của người dân xóm núi.
Năm Giáp Ngọ (1954),  thảo am bị gió lốc mái nên Ni trưởng tạm lợp lại để phụng thờ.
Năm Ất Mùi (1955), Ni trưởng chú tạo 2 pho tượng đức Quán Thế Âm và đức Đại Thế Chí bằng đồng và 3 chuông gia trì.

* Trang 377 *
device

Năm Bính Thân (1956), Ni trưởng xây cất nhà Thiền đối diện với nhà khách và nhà thờ âm linh cô hồn, chiến sĩ.
Năm Kỷ Hợi (1959), thảo am hoàn toàn hư nát. Ni trưởng làm đơn xin cất, vẽ họa đồ, tiếp tục khai núi, phá rừng, lập vườn rộng bao quanh chùa, sáng lập ngôi Linh Phong Ni Tự trang nghiêm cho đến ngày hôm nay.
Suốt 16 năm ròng rã, trong lúc loạn ly, đạn bay vút trời, lòng người khắc khoải lo âu và sợ sệt. Có người mới gặp nhau chuyện vãn hôm qua, nay hung tin báo đến đã lìa trần. Thế mà Ni trưởng vẫn kiên trì bình tĩnh, ngày lại ngày, dốc tâm dồn lực kiên định, quyết sớm hoàn thành ngôi chùa.
Đến năm Nhâm Dần (1962), ngôi chùa được hoàn thành viên mãn, nguy nga trong niềm vui sướng của Phật tử. Nhân dịp khánh thành này, Hòa thượng Bổn sư vào dự lễ và tặng cho Ni trưởng bài thơ như một bài kệ phú pháp:
Linh Phong cực lạc thị Tây Phương
Nhất niệm từ bi định kiết tường
Diệu Hòa tịnh nghiệp Tâm Hồng phát
Phù Dung huỳnh sắc hóa Từ Hương
Nghĩa là:

* Trang 378 *
device

Linh Phong là chốn Tây Phương
Từ bi một niệm mở đường thong dong
Hạnh Diệu Hòa phát Tâm Hồng
Từ Hương trong đóa Phù Dung nở vàng
Và quả thật, chùa Linh Phong là một trong những ngôi chùa danh tiếng của thành phố Đà Lạt. Nơi đây trở thành tổ đình của Ni bộ tỉnh Lâm Đồng và có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển Ni giới tại các tỉnh miền Trung và Nam bộ.
Ngoài nguyện vọng trùng hưng ngôi Tam Bảo, Ni trưởng còn tham gia các chức vụ trong Giáo Hội Thống Nhất trước đây cũng như Giáo Hội hiện tại.
Từ năm 1951 đến 1954: Phó ban Hoằng pháp tỉnh hội Lâm Đồng.
Từ năm 1955 đến 1956: Trưởng ban Từ thiện tỉnh hội Lâm Đồng.
Năm Đinh Dậu (1957), Ni bộ miền Trung thành lập, Ni trưởng được cung thỉnh làm trưởng Ni bộ tỉnh Tuyên Đức (Lâm Đồng) cho đến ngày nay.
Năm Mậu Tuất (1958), Ni trưởng xây dựng Ký nhi viện Nhị Trưng.
Năm Nhâm Tý (1972), Ni trưởng xây cất Ký nhi viện Huệ Viên trong vườn chùa để giúp đỡ con em

* Trang 379 *
device

 nghèo trong xóm. Ngoài ra, Ni trưởng còn thành lập Ban từ thiện chùa để giúp đỡ thuốc men, gạo muối cho đồng bào trong những ngày lễ lớn.
Năm Ất Mão (1975), Ni trưởng được cung thỉnh làm Đệ Ngũ tôn chứng tại giới đàn chùa Từ Nghiêm-Sài Gòn.
Vào các năm Giáp Tuất (1994), Kỷ Mão (1999) và Quý Mùi (2003), Ni trưởng làm đàn chủ và Hoà Thượng Đường Đầu các đại giới đàn tại Linh Phong Ni Tự.
Trải qua ba Đại giới đàn và các trung tiểu giới đàn được tổ chức trong những năm tháng khó khăn trước đó, Ni trưởng cùng Giáo hội đã góp phần xây dựng những trụ cột tương lai cho Phật pháp.
Suốt một đời trải thân học Phật, hành đạo, Ni trưởng tinh tường giáo điển, nhất là Luật tạng với các phạm trù Khai, Giá, Trì, Phạm, Tam tụ tịnh giới… Người nghiên cứu thấu đáo, ngôn hạnh tương ưng, nên hàng xuất gia và tại gia đều kính ngưỡng vâng làm. Ngoài ra, Sư trưởng còn chứng nghĩa, duyệt độc các tác phẩm dịch thuật về Tỳ Kheo Ni Giới Bổn và các tác phẩm về Luật học khác. Hàng năm, đến mỗi mùa An cư kiết hạ, Ni chúng từ các nơi trong Thành phố câu hội về thính pháp an cư tại đạo tràng Linh Phong Ni Tự. Đồng thời Ni trưởng mở Bát quan trai, tạo điều kiện tu học thường xuyên cho Phật tử trong mùa An cư.

* Trang 380 *
device

Trong cuộc sống hàng ngày, Ni trưởng thường khuyến tấn hàng đệ tử bằng lời dạy của Thiền sư Hạt Đường: “Ta chưa bao giờ thấy tâm đã chính mà không trị được vậ, thân đã chính mà không giáo hóa được người”. Bởi vì lấy nhất tâm làm cội gốc, cội gốc khô thì cành héo gầy. Cũng vậy, muốn hoá độ chúng sanh thì thân tâm phải thanh tịnh, muốn chính cho người trước phải chính cho mình. Vì thế, nhìn bề ngoài Ni trưởng có vẻ nghiêm khắc nhưng nếu kề cận bên Người ta sẽ thấy bên trong là cả một tấm lòng từ ái bao la như biển cả.
Ni trưởng đã sống một đời mẫu mực, dốc tâm vào việc giáo dục hậu tấn, Người thường dạy Ni chúng:
Hảo tâm xuất gia là điều rất đáng quý, đáng trân trọng, nhưng ngoài hảo tâm xuất gia, các con phải biết lập chí tiến tu, vì đây là yếu tố quan trọng để Phật pháp trường tồn”. Và mỗi khi đệ tử sai lầm hay bất hòa trong Ni chúng, Người luôn răn nhắc: “Các con phải biết thương yêu giúp đỡ nhau, nếu các con mỗi người nói năng mỗi kiểu, không ai giúp đỡ ai, quan tâm ai thì sớm muộn gì Ni chúng cũng tan rã, không còn chỗ đứng trong lòng mỗi người vì thiếu đi tính chất thanh tịnh và hoà hợp”.    
Ni trưởng không những chỉ trau dồi cho hàng đệ tử giới đức, hạnh đức, mà còn trau dồi trí đức. Bởi sự nghiệp quan trọng nhất của người tu là trí tuệ. Trong

* Trang 381 *
device

những năm sức khoẻ còn tốt, Người thường giảng Kinh, Luật, Luận cho Ni chúng, đồng thời còn khuyến khích Ni chúng đến các trường lớp học đạo. Ngoài ra, Ni trưởng còn đảm đương trách nhiệm Phó Ban bảo trợ trường Cao Trung Phật Học Lâm Đồng từ khi thành lập đến nay, lúc nào cũng có sự gia tâm hộ trì và đóng góp một cách nhiệt tình của Sư. Đã biết bao lớp Ni chúng do Ni trưởng giáo dưỡng và đào tạo đã và đang đóng góp rất nhiều công sức trong việc hoằng dương chánh pháp và phục vụ nhân sinh hết sức to lớn tại tỉnh nhà cùng các vùng, miền trong cả nước.
Tuổi đạo càng cao, tuổi đời càng lớn, vô thường hằng chuyển từng sát na, thành, trụ, hoại, không là điều tất yếu nên Ni trưởng nhuốm bệnh. Ni bộ Lâm Đồng cùng Ni chúng bổn tự Linh Phong hết sức săn sóc chu đáo. Thế nhưng, vẫn không cưỡng lại được định luật vô thường, Ni trưởng đã thâu thần thị tịch một cách an nhiên tĩnh tại vào lúc 10 giờ ngày mồng 4 tháng 10 năm Bính Tuất (24/11/2006), hưởng thọ 90 tuổi. Bảo tháp được lập trang nghiêm trong khuôn viên chùa Linh Phong-Đà Lạt.
“Từ đây ngàn kiếp rong chơi
Người ôm trăng ngủ trên đồi mây bay
Mây Bát nhã trên nền trời không in dấu
Hoa Ưu đàm rơi rụng vẫn dư hương”

* Trang 382 *
device

 
Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng