LOGO VNBET
Lành thay phòng hộ mũi.
Lành thay phòng hộ lưỡi.
Lành thay phòng hộ thân.
Lành thay phòng tất cả.
Tỷ kheo phòng tất cả,
Thoát được mọi khổ đau.”
(Pháp Cú 360-361)
Và cuối cùng, Giới đem lại ánh sáng cho người hành trì, và được chói sáng như núi Tuyết:
“Người lành dầu ở xa,
Sáng tỏ như núi Tuyết,
Người ác dầu ở gần,
Như tên bắn đêm đen.”
(Pháp Cú 304)
“Ai dùng các hạnh lành,
Làm xóa mờ nghiệp ác;
Chói sáng rực đời này,
Như trăng thoát mây che.”
(Pháp Cú 173)
B. Thiền đinh
Thiền định được xem là pháp vô lậu thứ hai, đưa đến trí tuệ và giải thoát. Người hành giả sau khi giữ giới, đi đến ngoài trời, dưới một gốc cây, hay một nhà trống, rồi ngồi kiết già, lưng thẳng để niệm trước mặt. Người hành thiền an trú niệm trên thân, loại trừ

 

* Trang 78 *
device


năm triền cái: tham dục, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi và thành tựu năm thiền chi: tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm. Như vậy Thiền có mục đích trong sạch hóa năm triền cái làm ô nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, khởi lên tầm tứ để điều phục tâm tư, nhờ vậy thân tâm được hoan hỷ, khinh an và an lạc, và từ lạc đưa đến thiền định và nhất tâm.
Do vậy, Đức Phật đã tán thán khá nhiều về thiền định trong tập Kinh Pháp Cú:
“Ai sống một trăm năm,
Ác giới, không thiền định,
Tốt hơn sống một ngày,
Trì giới, tu thiền định.”
“Dẫu sống một trăm năm,

Ác tuệ, không thiền định,
Tốt hơn sống một ngày,
Có tuệ, tu thiền định.”
(Pháp Cú 110 - 111)
“Người chế ngự tay chân,
Chế ngự lời và đầu,
Vui thích nơi thiền định,
Độc thân, biết vừa đủ,
Thật xứng gọi Tỷ kheo.”
(Pháp Cú 362)
“Tỷ kheo hãy tu thiền,
Chớ buông lung phóng dật,
Tâm chớ đắm say dục.
Phóng dật, nuốt sắt nóng,

* Trang 79 *
device

Bị đốt, chớ than khổ.”
(Pháp Cú 371)
“Tu thiền, trú ly trần,
Phận sự xong, vô lậu;
Đạt được đích tối thượng.
Ta gọi Bà-la-môn.”
(Pháp Cú 386)

“Ngươi hãy nhiệt tâm làm,
Như Lai chỉ thuyết dạy.
Người hành trì thiền định,
Thoát trói buộc Ác ma.”
(Pháp Cú 276)
Thiền đã được định nghĩa là đoạn trừ năm triền cái và thành tựu năm thiền chi, như vậy là một pháp môn nhằm điều phục tâm, huấn luyện tâm và do vậy nhiều khi chữ tâm được dùng thay cho chữ thiền định. Ở đây chúng ta chứng kiến vai trò quan trọng của sự tu tập, huấn luyện, điều phục tâm rất quan trọng trong đời sống của người Phật tử tại gia và xuất gia. Vấn đề tự chế ngự điều phục tâm luôn luôn là bổn phận hàng đầu của người tu hành, và tâm rất khinh động, theo các dục quay cuồng, nhưng điều phục tâm không phải là đơn giản:
“Chạy xa sống một mình,
Không thân ẩn hang sâu;
Ai điều phục được tâm,
Thoát khỏi ma trói buộc.”
(Pháp Cú 37)

* Trang 80 *
device

“Dẫu tại bãi chiến trường,
Thắng ngàn ngàn quân địch;
 
Tự thắng mình tốt hơn,
Thật chiến thắng tối thượng.”
(Pháp Cú 103)
“Tự thắng tốt đẹp hơn,
Hơn chiến thắng người khác.
Người khéo điều phục mình,
Thường sống tự chế ngự.”
(Pháp Cú 104)
“Người trị thủy dẫn nước,
Kẻ làm tên nắn tên,
Người thợ mộc uốn ván,
Bậc tự điều điều thân.”
(Pháp Cú 142)
“Tự mình làm điều ác,
Tự mình làm nhiễm ô.
Tự mình ác không làm,
Tự mình làm thanh tịnh.
Tịnh, không tịnh tự mình,
Không ai thanh tịnh ai.
Tự mình y chỉ mình,
Nào có y chỉ khác.

Nhờ khéo điều phục mình,
Được y chỉ khó được.”
(Pháp Cú 160)
“Tự mình y chỉ mình,

* Trang 81 *
device

Tự mình đi đến mình,
Vậy hãy tự điều phục,
Như khách buôn ngựa hiền.”
(Pháp Cú 80)
Chính nhờ điều phục tự tâm mà an lạc luôn luôn đến với người thiền định:
“Chớ sống đời phóng dật,
Chớ mê say lục dục;
Không phóng dật, thiền định,
Đạt được an lạc lớn.”
(Pháp Cú 7)
“Khó nắm giữ khinh động,
Theo các dục quay cuồng;
Lành thay điều phục tâm,
Tâm điều, an lạc đến.”
(Pháp Cú 35)
“Tâm khó thấy tế nhị,
Theo các dục quay cuồng;
Người trí phòng hộ tâm,
Tâm hộ, an lạc đến.”
(Pháp Cú 36)
Tâm đã được điều phục, cảnh thiền đã được chứng đắc, thời cùng với trí tuệ được đưa đến cảnh giới an lạc Niết bàn.
“Người hằng tu thiền định,
Thường kiên trì tinh tấn;
Bậc trí hưởng Niết bàn,
Các an tịnh vô thượng.”

* Trang 82 *
device

 
Hãy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi